|
1.-"Hạ
ngươn nay đã hết đời - Phong ba biến chuyển đổi dời gia cang".
Luận giải:
(dòng 1 và 2, trang 25)
Thời kỳ chót của cuộc
đời đã đến nên thường xảy ra những thay đổi lớn làm xáo trộn nếp
sống con người, và giềng mối nhiều gia đình không còn tốt đẹp như
trước.
Từ đây chúng tôi dùng chữ Người thay hai
chữ Đức Thầy.
Nghĩa chữ khó:
Hạ nguơn hay
hạ nguyên:
thời kỳ chót.
Theo lịch số - một huyền
bí của phương Đông - có 3 thời kỳ, hay 3 nguơn:
Thượng nguơn, Trung nguơn và Hạ nguơn.
Mỗi nguơn là một thời kỳ, tức một khoảng thời gian ngày, tháng,
năm, mà trong đó, đời sống con người với một nền văn hóa, đạo đức,
tánh tình cũng như thời tiết khác biệt với các nguơn khác. Mở đầu
là Thượng nguơn, tức nguơn gây dựng càn khôn
(Trời Đất)
cùng muôn loài vạn vật. Con người thời bấy giờ hiền lành, trong
sáng, rất đạo đức, đời sống an vui, khí hậu điều hòa, cỏ cây tươi
tốt. Tiếp đến là Trung nguơn, con người không còn hoàn toàn như
thời Thượng nguơn, bắt đầu nhiễm hư xấu, cậy mạnh hiếp yếu, tranh
giành danh lợi. Sau cùng là Hạ nguơn, thời kỳ đen tối, người đời
lòng dạ tham ác, vì tiền của, danh lợi giết nhau không chút xót
thương, là thời kỳ chúng ta đang sống.
Phong ba:
Phong:
gió.
Ba:
sóng.
Nghĩa bóng chỉ những xáo trộn lớn như giặc, bảo lụt, động đất,
các bịnh lạ kỳ ...
Biến chuyển:
làm thay đổi.
Gia cang:
nền nếp của gia đình.
Gia: nhà,
những người thân cùng sống trong một mái nhà gọi là gia đình.
Cang hay
cương:
giềng mối, nền nếp tốt bắt buộc tất cả
người trong nhà phải tuân theo.
Phụ giải:
Lịch số:
ngày, giờ, năm, tháng, định sẵn về mùa màng, thời tiết, của đất
nước cũng như về số mạng con người, căn cứ theo sự xê dịch, sự
xoay vần của mặt trăng và một số ngôi sao.
Huyền bí:
khó hiểu, không lấy mắt thường thấy được, không thể dùng trí óc
bình thường hiểu và cũng không đủ lời giải thích rõ được.
Văn hóa:
giữ các cái hay, đẹp để xây dựng đời sống gia đình, xã hội, quốc
gia, chẳng hạn như cách ăn, ở, cách đối xử, cách xếp đặt gia đình,
xóm làng, điều hành quốc gia ...
Đạo đức: lẽ
phải và phép tắc được xã hội thừa nhận làm khuôn mẫu trong quan hệ
đối xử.
- Đạo:
- a.- lẽ phải, con đường đúng
đắn, phép tắc của người xưa đặt ra được xã hội thừa nhận làm mẫu
mực trong quan hệ đối xử.
- b.- nền tảng của tôn giáo dạy
người đời sửa tâm tánh, làm lành tránh dữ, ở ngay thật.
- Đức: ưa
thích làm điều lành; giàu lòng thương, tha thứ và giúp đỡ người;
ăn ở phải đạo. Thương và trọng tánh mạng sanh vật.
Khí hậu:
tình trạng của khí trời, tức một thể hơi bao quanh trái đất,
cần thiết cho sự sống, sự nảy nở của con người của sanh vật và cây
cỏ.
Điều hòa:
vừa phải, không nóng quá hay lạnh quá.
Danh lợi:
tên tuổi nhiều người biết; kiếm được tiền của dễ dàng nhờ có danh,
có chức quyền.
Tham ác:
ham muốn nhiều, kiếm tiền của, kiếm chức quyền bằng mọi cách, dầu
phải làm ác.
Tranh giành:
dùng mọi cách lấy cho được về phần mình.
Điều hành:
xếp đặt và chỉ huy tốt công việc.
Bức hiếp:
dùng sức mạnh hay quyền thế bắt buộc người khác phải nghe theo.
-- *** --
2.-"Năm
Mèo Kỷ Mão rõ ràng - Khắp trong trần hạ nhộn nhàng xiết chi - Ngồi
buồn Điên tỏ một khi - Bá gia khổ não vậy thì từ đây
".
Luận giải:
(dòng 3 tới 6, trang 25)
Ngồi buồn, Người
báo trước, kể từ năm Mèo, tức Kỷ Mão (1939) con người sẽ phải
chịu đau khổ, buồn rầu,
khắp nơi trên mặt đất
rối rắm, lộn xộn, không kể xiết.
Lời giải thêm:
Ngày 1/9/1939, khởi đầu thế chiến thứ hai,
trong khi Đức Thầy viết quyển Sám Giảng
KHUYÊN
NGƯỜI ĐỜI TU NIỆM
này vào những tháng đầu năm 1939, tức
quyển nhứt, 912 câu. Quyển 2:
KỆ DÂN
của
NGƯỜI KHÙNG,
Đức Thầy viết ngày 12/9/1939, gồm 476
câu.
Nghĩa chữ khó:
Trần hạ:
Trần: bụi cát. Hạ: dưới trời. Cát bụi dưới
trời, chỉ nơi con người đang sống.
Nhộn nhàng:
rộn ràng, lộn xộn, rối rắm không yên.
Điên: mất
trí khôn. Đức Thầy, cũng như Đức Phật Thầy Tây An, vị Giáo tổ
BỬU SƠN KỲ
HƯƠNG (tạm dịch:
"Hương lạ trên non báu") đều tự xưng
Điên – Khùng.
Theo chúng tôi, lý do của danh xưng này vì
Việt Nam thời bấy giờ đang bị Pháp cai trị, nên các Người
phải giả như Khùng - Điên để tránh sự nghi ngờ của bọn lấy tin cho
nhà cầm quyền Pháp ?
Bá gia:
trăm nhà. Chỉ chung người trong nước, nhiều trường
hợp chỉ chung người trên mặt đất.
Khổ não:
đau khổ và rầu buồn.
-- *** --
3.-"Cơ
trời thế cuộc đổi xây - Điên mới theo Thầy xuống chốn phàm gian -
Thấy đời ly loạn bất an - Khắp trong các nước nhộn nhàng đao binh".
(dòng 7 tới 10, trang 25)
Luận giải:
Máy trời xếp đặt
những thay đổi lớn trong đời, giặc giả, loạn lạc, chết chóc, đau
khổ; đời sống dân chúng không còn yên vui như ngày xưa. Thương dân,
Người theo Thầy xuống trần dạy Đạo.
Nghĩa chữ khó:
Cơ trời: bộ
máy Trời, sự xếp đặt của Trời.
Thế cuộc:
những sự việc thấy biết được xảy ra trên mặt đất.
(trong nước
và trên thế giới)
Đổi xây:
xoay vần, thay đổi.
Phàm gian
hay Thế gian:
nơi con người đang sống.
Ly loạn hay
loạn ly: tình hình lộn xộn làm cho người thân xa rời,
lạc mất nhau.
Bất an:
không yên ổn, lộn xộn.
Nhộn nhàng :
xin xem số
2.
Đao binh:
nghĩa bóng chỉ giặc cướp gây tai họa và chết chóc con người.
Phụ giải:
Độ: đưa
qua sông, cứu giúp. Nghĩa của Phật giáo là đưa qua khỏi nơi khổ.
Nhà Phật xem đời là biển khổ, đạo pháp Phật như chiếc thuyền đưa
người tu hành qua biển khổ
***
4.-"Kẻ
thời phụ nghĩa bố kình - Người thời trung hiếu chẳng gìn vẹn hai -
Nên Điên khuyên nhủ bằng nay - Xin trong lê thứ ngày rày tỉnh tâm
- Cơ thâm thì họa diệc thâm - Nào trong sách sử có lầm ở đâu".
Luận giải:
(dòng 11 tới 16, trang 25)
Trong một xã hội lắm
kẻ quên tình nghĩa, phụ bỏ vợ hiền, người vợ từng chia cơm xẻ áo,
chung chịu cực khổ từ lúc nghèo khó; người thì không giữ lòng
trung và chữ hiếu cũng chẳng gìn, cả hai điều trung, hiếu đều mất
hết. Thương đời, Người hết lòng nhắc khuyên dân, từ nay rán
giữ lòng yên tịnh suy nghĩ điều đúng sai, phải trái rồi bình tĩnh
sắp xếp cuộc sống sao cho trong sạch, ăn ở phải đạo, tránh làm
điều hư việc xấu, đừng sắp bày mưu kế hại người, kế mưu sâu độc
bao nhiêu thì tai họa theo ta cũng lớn bằng chừng ấy. Lời dạy của
người xưa ghi trong sách sử không sai lầm đâu.
Nghĩa chữ khó:
Phụ: làm
trái, hủy bỏ, không ngó ngàng tới nữa.
Nghĩa: cảm
tình và ơn nghĩa. Đối xử tốt với người như người đã tốt với mình,
đó là nghĩa. (Ví dụ: ở có nghĩa, giữ nghĩa với nhau).
Phụ nghĩa:
quên bỏ ơn nghĩa, không nhớ sự giúp đỡ của người có lòng tốt với
mình.
Bố kình hay
bố kinh:
do bốn chữ "bố quần, kinh thoa", có nghĩa vợ
chồng sống với nhau từ lúc nghèo khó. Theo chuyện:
"Lương
Hồng nhà nghèo nhưng tánh cứng cỏi, trọng danh dự, học rộng hiểu
nhiều. Cưới vợ là Mạnh Quang. Lúc mới về
nhà chồng, Mạnh Quang mặc áo quần quá đẹp. Lương Hồng 7 ngày không
nhìn mặt vợ. Mạnh Quang biết ý chồng, trút bỏ lớp áo quần đẹp, đầu
cài trâm gai, mặc áo quần vải hầu chồng. Lương Hồng vui vẻ, bảo:
"Đây mới chính là vợ của ta". Vợ chồng sống trong sạch, cày cấy,
dệt vải, người vợ bao giờ cũng giữ lễ với chồng. Mỗi bửa cơm, vợ
bưng mâm ngang mày để tỏ lòng kính trọng chồng".
(Trong các tự điển, bố kinh, kinh nhơn, kinh phụ, sơn kinh, chuyết
kinh đều chỉ người vợ)
Trung: nghĩa hẹp
là một lòng theo và nghe lời người chủ, người ơn của mình. Nghĩa
rộng: không sợ chết, biết liều mình bảo vệ Tổ Quốc, hoặc hết lòng
với vị chỉ huy tài đức.
Hiếu: chăm sóc,
dưỡng nuôi, không làm điều hư xấu để Ông Bà, Cha Mẹ phải buồn
lòng.
Khuyên nhủ: chỉ
dạy, nhắc nhở với lời lẽ dịu dàng nhưng không có ý bắt buộc.
Bằng nay: tiếng
dân gian miền Nam, có nghĩa: từ đây, ngày nay, bây giờ,.
Lê thứ: dân
thường, dân không chức quyền.
Ngày rày: có
nghĩa: từ những ngày qua đến lúc nói; ví dụ: "Anh đi đâu
mấy ngày rày ?".
Tỉnh tâm: hết mê,
hết say, xét lòng biết được điều tốt, xấu, hư, nên mà cải sửa.
Cơ thâm thì họa diệc thâm:
tính mưu kế thật sâu độc để hại người thì tai họa theo ta cũng
lớn bằng chừng ấy. Câu này khuyên người đời nên sống hiền lành,
ngay thẳng. Mình không hại người thì không sợ bị người hại lại.
Cơ thâm là mưu
mẹo sâu độc được tính toán, sắp đặt có thứ tự, có lớp lang, khéo,
kỹ lưỡng nhằm gài cho người ta mắc, bị kẹt, bị thua trí để có lợi
lớn cho mình.
Họa: tai họa,
việc rủi có thể nguy tới tài sản, sanh mạng.
Diệc: cũng, cũng
theo, như bóng theo hình.
Phụ giải:
Bình tĩnh: làm
chủ được mình, không hốt hoảng.
Bố quần: quần
bằng vải dệt bằng chỉ cây bố.
Kinh thoa: trâm
cài đầu bằng gai.
***
5.-"Người
khôn nghe nói càng rầu -Người ngu nghe nói ngửa đầu cười reo - Rồi
sau sẽ thấy hùm beo - Khắp trong bá tánh hiểm nghèo đáng thương".
(dòng 17 tới 20, trang 25)
Luận giải:
Người hiểu đạo, biết xét
điều tội phước, biết sợ quả báo luân hồi, khi nghe những lời
khuyên dạy này thì lòng càng thêm lo nghĩ; còn kẻ mê tối nghe qua
liền ngửa mặt cười, cho đây là chuyện bày ra để hù dọa cho người
đời sợ. Sau này các người hung dữ sẽ gặp cọp beo còn dân chúng
khắp nơi phải chịu nhiều điều đau khổ và nguy hiểm, thật đáng
thương. Nghĩa bóng:
phải chăng sau này có một loại người không đạo đức, ham tiền của,
mê chức quyền, nên bằng mọi cách, dầu phải làm điều độc ác miển
sao họ được như ý. Khi có tiền nhiều, chức quyền to, để giữ gìn
những cái đã có, họ càng độc ác, càng hung dữ. Đó là tai họa của
đất nước, mối nguy hại lớn của dân lành.
Nghĩa chữ khó:
Bá tánh: trăm
họ, chỉ chung người trong nước.
Hiểm nghèo: sự tình không tốt, nguy hiểm có thể chết.
Phụ giải:
Quả báo: có nghĩa
lãnh lấy kết quả. Do nhơn lành, tức trước đã làm
việc tốt, điều lành, sau hưởng kết quả lành như được những điều
may, vui, tốt. Nếu do nhơn dữ, tức trước đã phạm tội lỗi bằng
thân, bằng miệng, bằng ý,
thì kết quả dữ trả lại cho mình phải lãnh chịu các việc không may,
xấu, tai họa, khổ sở.
Luân hồi: Luân là bánh xe, quay vòng tròn. Hồi: hết
vòng, quay vòng trở lại. Luân hồi theo nhà Phật, con
người mãi lẩn quẩn trong vòng: Sanh, Già, Bịnh, Chết, rồi đầu thai
cũng vẫn trong 6 đường: Tiên, Thần, Người, Địa ngục (nhà tù dưới
đất), Quỉ đói và Súc sanh. (thú vật).
Hùm:
1 loại cọp. Cọp, beo: hai giống thú dữ ăn
thịt sống.
-- *** --
6.-"Điên
này vưng lịnh Minh Vương -Với lịnh Phật đường đi xuống giảng dân -
Thấy trong bá tánh phàm trần - Kẻ khinh người nhạo Thần Tiên quỉ
tà".
(dòng 21 tới 24, trang 25)
Luận giải:
Người
vâng lịnh Phật và Minh
Vuơng xuống trần giảng dạy cho dân hiểu biết đạo lý, nhưng thế
nhân vì mê tối không nhận ra các vị Thần, Tiên hay Bồ tát hiện
thân vào đời dạy đạo, với mắt thường họ chỉ thấy bề ngoài như
người mất trí, áo quần rách nát, hay đui, cùi, thì khi dể, chê
cười, có khi còn cho là quỉ tà.
Nghĩa chữ khó:
Minh Vương: nghĩa
thường là vị vua sáng suốt, tài đức, thương và chăm lo đời sống
của dân. Với lòng tin của tín đồ PGHH, Minh Vương là vị Bồ tát, vị
Phật, ngày sau xuống trần cứu Việt Nam. Theo Phật giáo là
những vị tôn giả thừa lịnh Phật, hiện thân dùng trí huệ và oai đức
hàng phục ác ma, dẹp tan ma chướng ủng hộ các nhà tu hành.
Phật đường: nơi thờ Phật. Cảnh Phật.
Giảng dân: chỉ
dạy đạo lý cho dân.
Phàm trần: Phàm:
tầm thường. Trần: cát bụi. Chỉ cõi đời và
cũng chỉ con người.
Khinh: khi dể,
coi không ra gì.
Nhạo: chế giễu,
ngạo cười.
Thần:
những vị lúc sống là anh hùng của dân tộc, hoặc có công lớn với
đất nước, sau khi chết được người đời nhớ ơn thờ kính.
Tiên: những bực
thoát trần, lánh mình sống nhàn nhã nơi non cao, không màng chuyện
lợi danh hay tình cảm thường tình. Nghĩa bóng: người dứt
được các thứ tình cảm tầm thường, không ham lợi danh thì đâu phải
lo nghĩ, buồn phiền, cuộc sống đó khác nào …Tiên.
Quỉ tà: hồn của
những người lúc sống hung dữ, xấu, ác, chết thành quỉ phá đời.
Phụ giải:
Ñaïo lyù:
nghĩa lý chánh thức của nền Đạo. Các điều khoản, luật lệ tốt,
đúng từ xưa truyền lại làm khuôn thước trong quan hệ đối xử, được
xã hội thừa nhận.
-- *** --
7.-"Mặc
ai bàn tán gần xa - Quỉ của Phật Bà sai xuống cứu dân - Kẻ xa thì
mến đức ân - Làm cho người gần ganh ghét khinh khi".
Luận giải:
(dòng 1 tới 4, trang 26)
Mặc người đời bàn tán,
nói sao cũng được, có kẻ còn cho Người là Quỉ, nhưng họ đâu
biết, đây là “Quỉ” của Phật Bà, vâng lịnh xuống trần dạy Đạo, cứu
dân, nên những người hiểu biết, dầu ở xa, cũng bày tỏ lòng kính
mến về ân đức đó làm cho kẻ ở gần mà lòng dạ hẹp hòi, nghe thấy
vậy mới ganh ghét và ra vẻ ngạo nghễ khinh khi.
Nghĩa chữ khó:
Bàn tán:
bàn luận rộng rãi và đặt ra nhiều giả thuyết.
Phật Bà:
Đức Phật Quán Thế Âm.
Đức ân:
Đức: thích làm điều lành; thương yêu giúp đỡ, đối xử tốt
với mọi người, thương sanh vật; ăn ở phải đạo. Ân:
ơn, người nhận sự giúp đỡ phải nghĩ đến lo đền đáp.
Đức ân
ở đây chỉ sự quý trọng của người trần đối với tấm lòng bao la
thương đời và công trình khó nhọc đi giảng dạy những điều hay lẽ
phải của Người.
Ganh:
tự thấy thua kém người nào đó nên trong lòng không thích.
Ghét: không ưa,
không muốn thấy mặt ai đó.
Khinh khi: khi
dể, coi người không ra gì.
Phụ giải:
Ngạo nghễ: phách
lối, không coi ai ra gì hết.
-- *** --
8.-"Nam
mô, mô
Phật từ bi - Miệng thì niệm Phật lòng thì tà gian".
Khắp trong bá tánh trần hoàn - Cùng hết xóm làng đều bỉ người
Điên".
Luận giải:
(dòng
5 tới 8, trang 26)
Người đời, từ đầu xóm
đến cuối làng, ai thấy người “Điên” cũng ra vẻ khinh khi và
không ít kẻ miệng lúc nào cũng nói tu, ăn chay, niệm Phật, nhưng
lòng thì gian tà xảo quyệt.
Nghĩa chữ khó:
Nam mô: tiếng
Phạn, Namah (scr) dùng trong đạo Phật, có nghĩa qui y.
Từ Bi: lòng lành,
thương và đau xót: Từ: thương tưởng, dốc làm lợi
ích, an vui cho chúng sanh. Bi: đau xót trước cảnh
khổ nạn, đau buồn của chúng sanh mà dốc lòng cứu vớt. Phật thương
chúng sanh như thương con nên kêu là Từ. Phật thấy
chúng sanh chịu các nỗi khổ mà động lòng thương, muốn cứu vớt họ
ra khỏi các tai nạn, nên gọi Bi.
Niệm: có nghĩa
tưởng nhớ công đức của Phật, của Ông Bà, Cha Mẹ, thành kính
đọc thầm danh hiệu, học và rán noi theo 4 đức lớn của Phật:
Từ-Bi-Hỷ-Xả.
Niệm Phật: trong
tâm của người không dứt tạp niệm, vì mãi mê suy tưởng việc lợi
danh, thương yêu, giận ghét, nên bị phiền não ngăn che làm cho
chơn tâm mờ ám. Nếu thành tâm niệm Phật sẽ dứt tạp niệm. Khi tâm
không loạn là lòng ham muốn chẳng còn thì các tình dục cũng bị
diệt.
Phật: Bouddha,
Phạn (scr) là Giác: tức bực sáng suốt.
Bỉ: khinh khi ra
mặt.
Trần hoàn: Trần:
bụi cát. Hoàn: đất lớn tròn -
trái đất tròn - chỉ
cõi đời con người sống.
Bá tánh:
xin xem số 5.
Phụ giải:
Qui: về, trở về.
Qui Y: nương
theo, làm y theo lời Phật dạy, hết lòng tin và quyết gởi đời mình
cho Phật.
Hỷ: sẵn sàng mang
niềm vui đến cho người và cùng vui cái vui của người.
Xả: buông thả ra
– bỏ đi. Dứt bỏ mọi vật của mình cho chúng sanh, không phân biệt
kẻ oán người thân, người thương kẻ ghét, để lòng an tịnh, thanh
thản.
-- *** --
9.-"Điên
này xưa cũng như ai - Vào các ra đài tột bực giàu sang - Nghĩ suy
danh lợi chẳng màng - Bèn lên ẩn dật lâm san tu trì".
Luận giải:
(dòng 9 tới 12, trang 26)
Ngày xưa “Điên”
này cũng ở lầu đài và từng giàu sang tột bực, nhưng suy nghĩ danh
và lợi không phải là điều kiện chánh yếu xây dựng hạnh phúc trong
một cuộc sống đầy âu lo đau khổ, nên Người mới lánh mình
vào núi rừng, chọn nơi yên lặng nghĩ suy tìm con đường giải thoát.
Nghĩa chữ khó:
Các: lầu, gác cao.
Đài: nền cao. Các đài : Chỉ nhà cao cửa
rộng của người giàu.
Tột bực: không
còn ai hơn. Không ai sánh bằng.
Bèn: liền, làm
điều gì đó liền theo một việc vừa xảy ra, ví dụ: "tôi vừa
bước ra cửa, ông ta bèn bước theo; hoặc: vừa thấy ông ta
vấp té, tôi bèn chạy lại đỡ ông ta dậy ".
Danh lợi:
xin xem số 1.
Chẳng màng: không
nghĩ đến, không mong muốn, không ham thích, không thấy cần.
Ẩn dật: Ẩn:
ở một nơi kín đáo không muốn ai biết.
Dật: yên vui nơi
vắng vẻ.
Lâm san hay
Lâm sơn rừng và núi.
Chỉ chung rừng núi.
Tu trì:
Tu là sửa, sửa tánh, răn lòng, khép mình theo luật đạo.
Trì: giữ gìn. Tu trì: rèn lòng, sửa tánh,
siêng học kinh kệ, bền lòng giữ luật đạo.
Phụ giải:
Giải thoát:
Giải cởi mở, tháo ra cứu ra. Thoát: vuột,
khỏi, qua khỏi sự ràng buộc hay tai nạn. Có nghĩa cứu ra khỏi cảnh
khổ của cuộc đời.
-- *** --
10.-"Nhờ
Trời may mắn một khi - Thẩn thơ lại gặp Đức Thầy Bửu Sơn
- Cúi đầu Điên
tỏ nguồn cơn - Động lòng bác ái ra ơn dạy truyền Thấy Điên tâm
tánh quá thiềng - Nội trong sáu khắc biết liền Thiên cơ
".
Luận giải:
(dòng 13 tới 18, trang 26)
Nhờ Trời ban duyên
may, Người đang thơ thẩn suy nghĩ may gặp Đức Thầy Bửu Sơn,
vị Giáo tổ Bửu Sơn Kỳ Hương, vội cúi đầu thưa rõ việc vâng lịnh
Phật xuống trần dạy Đạo, cứu độ người đời. Thấy Người lòng
dạ hiền lành, thành thật, Đức Giáo tổ cảm động, ra công chỉ dẫn
trong một ngày Người hiểu được rõ ràng bộ máy của Trời Đất.
Nghĩa chữ khó:
Đức Thầy Bửu Sơn
tức Đức Phật Thầy Tây An, vị Giáo tổ BỬU SƠN KỲ HƯƠNG, Đức
Thầy là vị tiếp nối, làm sáng tõ và phong phú giáo thuyết Tứ Ân
của Phật Thầy.
Thẩn thơ:
đi đi lại lại suy nghĩ một điều gì.
Tỏ nguồn cơn:
trình rõ đầu đuôi gốc ngọn của sự việc.
Bác ái: Bác:
rộng. Ái: thương yêu. Bác ái: lòng
thương rộng rãi với người cùng sanh vật.
Dạy truyền:
chỉ dẫn lẽ phải, điều hay và dạy cách thức thực hiện những điều
hay, mới.
Thiềng là
thành: thành thật, tiếng
dân gian miền Nam.
Lời chú thêm: Năm 1806, vua Gia Long và Hoàng Hậu Thuận
Thiên chọn con gái của vị công thần Hồ văn Bôi, tên Hồ Thị Hoa cho
Hoàng tử Đãm – cùng một tuổi với Bà Hoa, sanh năm 1791, Hoàng tử
Đãm lên ngôi năm 1820, tức vua Minh Mạng - Bà Hoa một mực hiền
thục, rất được vua Gia Long và Hoàng Hậu thương yêu, nhưng vắn số,
bà sanh con trai đầu lòng tháng năm, năm 1807, là Hoàng tử Miên
Tôn, được 13 ngày thì bà mất. Lúc ấy bà mới 17 tuổi. Thương cô dâu
bất hạnh, vua Gia Long xuống dụ cấm triều đình và trăm họ không
được nhắc tên Hoa nữa. Những từ có tên Hoa đều phải chuyển đổi,
như chợ Đông Hoa thành Đông Ba, Phàn Lê Hoa thành Lê Huê ... Năm
1841, Hoàng tử Miên Tôn lên ngôi, lấy hiệu là Thiệu Trị. Triều đại
Thiệu Trị cũng như con cháu sau này của ông đều triệt để kiêng kỵ
tên Hoa. Việc kiêng kỵ này ảnh hưởng sâu rộng trong dân gian miền
Nam. Trường hợp đức cố Quản Trần
văn Thành, đại đệ tử của Phật Thầy Tây An, người có công kháng
Pháp, lập trại ruộng tự tức kinh tế nuôi quân, tín đồ Đạo Tứ Ân
Hiếu Nghĩa rất kính trọng Ngài, nên tiếng
Thành được gọi
trại ra thiềng, cũng như
Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh, người có công lớn trong việc khẩn hoang
và bảo vệ Miền Nam, được dân gian kính trọng, gọi Cảnh
trại ra thành kiểng ...
Sáu khắc:
mỗi khắc 2 tiếng đồng hồ.
Thiên cơ:
Thiên là Trời. Cơ: máy móc; bộ máy của Trời.
Phụ giải:
Giáo tổ: vị
tổ của một nền Đạo.
Giáo thuyết:
điều đặt ra chỉ rõ đường lối tu của nền Đạo.
Phong phú:
dồi dào, nhiều và tốt hơn.
Tứ Ân: bốn
ân. Lời dạy về lý lẽ của 4 ơn lớn:
1.- Ơn Tổ
Tiên Cha Mẹ.
2.- Ơn Đất
Nước.
3.-
Ơn Tam Bảo (Phật - Pháp - Tăng).
4.-
Ơn Đồng Bào và Nhơn Loại.
Phật:
xin xem số 8.
Pháp: lời
dạy Đạo của Phật; cách thức tu .
Tăng: người
nam rời bỏ gia đình vào chùa tu học, rồi mang lời Phật dạy truyền
bá cho người đời.
Đồng bào:
cùng một bọc sanh ra, ở chung một nước, cùng nói một thứ tiếng.
Nhơn loại:
tất cả con người sống trên mặt đất.
-- *** --
11.-"Chuyện
này thôi nói sơ sơ - Để rộng thì giờ nói chuyện chơn tu - Dương
trần kẻ trí người ngu - Ham võng ham dù danh lợi xuê xang".
Luận giải:
(dòng 19
tới 22, trang 26)
Chuyện này thôi kể sơ
sơ để nhiều thì giờ nói chuyện chơn tu. Kẻ trí người dại, không
biết tu hành, đều sống xa xỉ, ham danh ham lợi.
Nghĩa chữ khó:
Sơ sơ:
nói phớt qua, không cần giải thích rõ hơn.
Chơn tu:
thành thật tu, siêng học và giữ kỹ luật đạo.
Dương trần:
Cát bụi dưới mặt trời, cõi đời nơi con người đang sống; cũng chỉ
con người.
Kẻ trí:
người dùng sự hiểu biết của mình suy nghĩ phân biệt đúng, sai,
hay, dở.
Người ngu:
kẻ mê muội, tối dạ, ít hiểu biết, dốt.
Võng dù:
Võng: vật dùng khiêng kẻ chức quyền hay giàu tiền, có người
cầm dù theo che.
Danh lợi:
tên tuổi được nhiều người biết và lợi ích cá nhơn. Có danh dể dàng
kiếm tiền của.
Xuê xang:
ăn xài rộng rãi, mặc hàng vải mắc tiền.
Phụ giải:
Xa xỉ: xài
lớn, xài rộng rãi, xài tiền không tiếc, xài nhiều trường hợp không
cần thiết.
-- *** --
12.-"Cờ
đà đến nước bất an - Chẳng lo tu niệm tham gian làm gì - Phật,
Trời thương kẻ nhu mì - Trọng cha, yêu Chúa kính vì tổ tông".
Luận giải:
(dòng
23 tới 26, trang 26).
Cuộc đời ngày nay như
ván cờ sắp thua, có nghĩa là cõi thế gian gần kỳ tiêu diệt, vậy mà
người đời chưa thức tỉnh lo tu, vẫn tham gian, mê muội, mù quáng
chạy theo danh lợi. Phật Trời thương và cứu độ những ai ngay thật,
tánh nết dịu hiền, biết kính trọng Tổ Tiên, hiếu thảo với Cha Mẹ,
trung thành với đất nước, hết lòng cùng chủ tướng tài đức của mình.
Nghĩa chữ khó:
Cờ đà đến nước bất an:
ván cờ sắp thua, hết cứu được.
Đà: đã là,
đã, nói cho xuôi giọng, dân gian quen dùng.
Bất an:
nghĩa ở đây là không ổn, khó khăn, sắp thua cuộc.
Tu niệm:
Tu là sửa, sắp đặt lại cho đẹp; cải sửa thân tâm, khép mình
theo luật đạo.
Niệm: tưởng nghĩ
công đức của Ông Bà, Cha Mẹ; của Phật, miệng niệm lòng thành kính
đọc thầm danh hiệu đức Phật, học và cố gắng làm theo 4 đức lớn của
Phật: Từ - Bi - Hỉ - Xả.
Xin xem số 8.
Tham gian:
quá nhiều ham muốn rồi làm điều không ngay thẳng miển có được
của tiền.
Nhu mì: hiền, lời
nói dịu dàng, lễ phép trong cách đối xử.
Trọng cha: kính
yêu và nghe lời chỉ dạy của Cha.
Yêu Chúa: thương
kính, hết lòng với người chỉ huy tài đức. (ngày xưa với vua,
chúa).
Kính vì tổ tông:
hiếu thảo, kính trọng Ông Bà, không làm điều gì để Cha mẹ, Ông Bà
và Tổ tiên mang tiếng xấu.
-- *** --
13.-"Ngồi
buồn nói chuyện bông lông - Khắp trong trần hạ máu hồng nhuộm rơi
- Chừng nào mới đặng thảnh thơi - Dậu Phật ra đời thế giới bình
yên".
(dòng 27 tới 30, trang 26)
Luận giải:
Thấy dân chúng đau khổ,
lòng Người rất buồn nhưng không tiện nói rõ máy Trời, chỉ
dùng lời bóng gió ngầm báo trước giặc cướp sẽ lan tràn, máu đổ,
chết chóc khắp nơi, rồi nhân đó khuyên bảo người đời rán tu, ăn ở
hiền, xa việc dữ để được sống còn tới năm Dậu
(chỉ năm con Gà ?)
Phật xuống thế
gian, bấy giờ thế giới mới yên ổn.
(Trận giặc thế giới thứ
hai dứt ngày 02/9/1945, là gần cuối năm Ất Dậu, tức năm con Gà).
Nghĩa chữ khó:
Nói bông lông:
nói vu vơ; nói bóng gió, nói khơi khơi, không chỉ rõ việc gì.
Thảnh thơi: an
nhàn, lòng không có điều gì phải lo nghĩ.
-- *** --
14.-"Điên
này Điên của Thần Tiên - Ở trên Non Núi xuống miền Lục Châu - Đời
còn chẳng có bao lâu - Rán lo tu niệm đặng chầu Phật Tiên".
Luận giải:
(dòng 31 tới 34, trang 26)
Người
không phải Điên mà là
Thần Tiên ở non núi, vâng lịnh Phật xuống miền lục tỉnh dạy Đạo,
cứu dân. Người không ngừng báo trước rằng thế gian sắp tới
ngày tiêu diệt, nên khuyên người đời sớm lo tu để được sống còn
hầu ngày sau an vui nơi cảnh Tiên, cõi Phật. Nghĩa bóng:
nơi yên vui với không gian trong sạch, không hận thù, không đau
khổ chia ly, phải chăng cảnh tiên, cõi Phật ở thế gian, là Cực
lạc?.
Nghĩa chữ khó:
Lục Châu:
sáu Châu, do sắc lịnh năm 1831 của vua Minh Mạng, miền Nam Việt
Nam có 6 Châu, sau này đổi thành tỉnh: Biên Hoà, Gia Định, Định
Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên, còn gọi là lục tỉnh. Thời
Pháp cai trị, miền Nam mang tên Nam Kỳ lục tỉnh.
(*)
Chầu: hầu.
Chỉ nói chầu Trời, Phật hay chầu vua chúa.
Miền: vùng, phía,
nơi chốn.
Tu: sửa tánh, răn
lòng, khép mình theo luật đạo.
Niệm:
xin xem số 12.
Phật Tiên:
xin xem số 6 và 8.
Phụ giải: (*)
Thời Pháp thuộc, Nam kỳ lục tỉnh chia ra làm 20
tỉnh: 1.- Gia định. 2.- Châu đốc. 3.- Hà tiên. 4.- Rạch
giá. 5.- Trà vinh. 6.- Sa đéc. 7.- Bến tre. 8.- Long xuyên. 9.-
Tân an. 10.- Sóc trăng. 11.- Thủ dầu một. 12.- Tây ninh. 13.- Biên
hoà. 14.- Mỹ tho. 15.- Bà rịa. 16.-
Chợ lớn. 17.- Vĩnh long. 18.- Gò công. 19.- Cần
thơ. 20.- Bạc liêu.
-- *** --
15.-"Thế
gian ít kẻ làm hiền - Nhiều người tàn bạo làm phiền Hoá Công - Thế
gian chuyện có nói không - Đến hội Mây Rồng thân chẳng toàn thây".
(dòng 1 tới 4, trang 27)
Luận giải:
Người thế gian hiền lành
thì ít mà hung dữ quá nhiều, đó là điều buồn lòng đấng Tạo hóa.
Những kẻ gian ác quen lừa gạt dối trá, chuyện có nói không, chuyện
không nói có, sau này, đến hội Mây Rồng chết thây không còn nguyên
vẹn.
Nghĩa chữ khó:
Tàn bạo:
ác độc, hung dữ.
Hoá công: Hoá: tạo ra, sanh ra. Công: thợ, thợ Trời, là
đấng tạo hoá. - Theo người xưa, Ông Trời hay Thượng Đế là đấng tạo
ra thế giới, muôn loài, vạn vật.
Hội Mây Rồng -
Hội Rồng Mây hay Hội Long Vân: Cơ hội
lập công danh. Theo niềm tin của tín đồ PGHH là Hội lớn của Trời
Phật chọn người hiền đức. Theo điển tích văn học, là cuộc thi cá
chép hoá thành rồng. Ví dụ hai câu thơ của Nguyễn Công Trứ trong
bài Chí làm trai: "Rồng mây khi gặp hội ưa duyên.
Đem quách cái sở tồn làm sở dụng". Nghĩa bóng: người tu cũng phải
trải qua cuộc "thi cử" gay go, những kẻ thiếu tài kém đức chắc
chắn không vượt qua được cuộc thi này.
Thế gian:
xin xem số
3.
Hiền: tánh
dịu dàng, biết tha thứ và giúp đỡ người.
-- *** --
16.-"Việc
đời đến lúc cấn gay - Mà cũng tối ngày nói xéo nói xiên - Dương
trần tội ác liên miên - Sau xuống huỳnh tuyền Địa ngục khó ra".
(dòng 5 tới 8, trang 27)
Luận giải:
Việc đời đã đến hồi
khó khăn, mà người trần chưa chịu lo tu, không chừa bỏ thói phá
xóm hại làng, kiếm chuyện nói xéo nói xiên, không ngừng gây tội ác,
hạng người này chết hồn xuống suối vàng bị đày vào Địa ngục khó có
ngày được ra.
Nghĩa chữ khó:
Cấn gay hay
gay cấn: việc khó giải quyết.
Nói xéo nói xiên:
chê trách mà không chỉ ngay, nói lòng vòng; người bị chê nghe
là hiểu.
Dương trần:
xin xem số
11.
Liên miên:
liền liền, chỉ một việc mà kéo dài không dứt.
Huỳnh tuyền:
suối vàng, chỉ thế giới của người chết.
Địa ngục:
nhà tù ở thế giới người chết, nơi giam giữ các hồn tội lỗi.
-- *** --
17.-"Điên
này nói việc gần xa - Đặng cho lê thứ biết mà lo tu - Tu cho qua
cửa Diêm phù - Khỏi sa Địa ngục ngao du Thiên đài".
Luận giải:
(dòng 9 tới 12, trang 27)
Vì không thể nói rõ
sự xếp đặt của Phật, Trời, Người nói gần nói xa nhằm khuyên
người đời rán thành tâm siêng năng tu hành để khi rời cõi đời này
hồn khỏi sa địa ngục mà được thong dong về chốn an vui.
Nghĩa chữ khó:
Lê thứ:
xin xem số
4.
Sa:
rơi xuống, rớt xuống.
Diêm phù:
tức Diêm phù đề, tiếng Phạn "Jambudvipa",
chỉ trái đất chúng ta đang sống.
Ngao du:
thong thả đi dạo chơi.
Thiên đài:
Nghĩa bóng chỉ cõi Trời. Cảnh an
vui.
Phụ giải:
Thong dong: thong
thả, không gấp rút, không vội vàng.
-- *** --
18.-"Đường
đời chẳng có bao dai - Nên viết một bài cho bá tánh coi - Tuồng
đời như pháo châm ngòi - Bá gia yên lặng mà coi Khùng này".
Luận giải:
(dòng 13 tới 16, trang 27)
Ngày thế gian tiêu diệt
gần kề, vì lòng thương dân Người viết một bài cho bá tánh
đọc để biết cõi trần hiện như cái pháo đã châm ngòi, sắp nổ tan
xác; người đời nên lắng lòng suy nghĩ, rán tu để được sống còn mà
đánh giá lời nói của Người.
-- *** --
19.-"Khùng
thời ba Tớ một Thầy - Giảng dạy dẫy đầy rõ việc Thiên cơ - Điên
đây còn dại còn khờ - Yên lặng như tờ coi chúng làm sao".
Luận giải:
(dòng 17 tới 20, trang 27)
Người
có một Thầy ba Trò, hiểu rõ máy Trời mà không thể nói trắng ra,
nhưng thương đời nên đã giảng giải thật đầy đủ những điều gì nói
được. Trên đường đi dạy đạo, Người gặp lắm kẻ xấu, khuyên
giải thế nào cũng chẳng chịu nghe, đành phải giả bộ dại khờ, giữ
im lặng xem chúng làm sao.
Nghĩa chữ khó:
Dẫy đầy:
thật nhiều, quá đầy, tràn trề.
Thiên cơ:
xin xem số 10.
Yên lặng như tờ:
im lặng không tiếng động; mặt biển im lặng như tờ giấy trải
thẳng.
Phụ giải:
Ba Tớ:
Ba vị theo bên cạnh Đức Thầy. Chưa đủ tài liệu chứng minh,
chúng tôi chưa tiện nêu danh.
Một Thầy
là Đức Thầy.
-- *** --
20.-"Bá
gia kẻ thấp người cao - Chừng thấy máu đào chúng mới chịu tu - Bây
giờ giả dại giả ngu - Cũng như Nhơn Quí ở tù ngày xưa".
Luận giải:
(dòng 21 tới 24, trang 27).
Người đời không đồng
đều, cũng chẳng giống nhau, kẻ khôn người mê tối, tới khi thấy đổ
máu, thấy chết chóc mới hoảng sợ mà niệm Phật để cầu xin ân phước.
Bây giờ chưa tới lúc nên Người phải giả vờ ngu dại, chịu
tiếng chê cười như ngày xưa Tiết Nhơn Quí bị tù oan.
Nghĩa chữ khó:
Bá gia:
xin xem số 2.
Máu đào: hoa đào
màu đỏ tươi như máu.
Nhơn Quý tức
Tiết Nhơn Quý: viên tướng đứng đầu
quân đội của vua Lý Thế Dân, nhà Đường
(Tàu, 618-907)
không tội vẫn bị ba năm tù mới được rửa oan. Ý nói: người đời
chẳng những không tin, không nghe lời
Người khuyên ăn ở
hiền lành, lo tu, trái lại, còn bị nghi ngờ, khi dể, bị chê cười,
bị làm khó đủ cách, khác gì Tiết Nhơn Quý chịu oan ức ngày xưa.
Phụ giải:
Mê tối: ít hiểu
biết.
-- *** --
21.-"Lúc
này kẻ ghét người ưa - Bị Điên nói bừa những việc vừa qua - Dương
trần biếm nhẻ gần xa - Nói quỉ nói tà đây cũng cam tâm".
Luận giải:
(dòng 25 tới 28, trang 27)
Bằng tấm lòng tha thiết
thương dân, Người đi dạy Đạo không kể gì nắng mưa khổ cực
nên được nhiều người quí mến, nhưng vẫn có kẻ không ưa, bởi
Người nói thẳng ra những việc xấu họ đã làm. Vì quyết tâm
cứu đời, nên mặc tình ai cười chê, giận ghét, hay nói xa gần, rất
đổi có kẻ cho là quỉ là tà, Người cũng không buồn.
Nghĩa chữ khó:
Nói bừa: nói
thẳng ra không sợ người giận. Cũng có nghĩa nói một việc gì mà
không suy nghĩ kỹ, không thứ tự, không đầu không đuôi. Nói
đại, nói càn.
Biếm nhẻ: chê
cười người nào đó mà không nói rõ tên.
Cam tâm: đành
lòng, ép bụng chịu, không buồn.
-- *** --
22.-"Ngồi
buồn nhớ chuyện xa xăm - Dạo trong Bảy Núi cười thầm sư mang - Nói
rằng lòng chẳng ham sang - Sao còn ham của thế gian làm gì ? Việc
này thôi quá lạ kỳ - Cũng trong Phật giáo sao thì chê khen".
Luận giải:
(dòng 29 tới 34, trang 27)
Ngồi buồn nhớ lại chuyện
năm xưa, lúc đi thăm viếng chùa am trong vùng Bảy Núi, Người
gặp nhiều vị sư mặc áo nhà tu mà lòng còn hung dữ, ham muốn
của tiền không khác gì kẻ thế gian. Việc này không thể xem
như chuyện bình thường được. Nhưng thôi, dầu sao cũng tiếng là
người cùng gia đình nhà Phật, khen chê nhau dễ gây hiểu lầm.
Nghĩa chữ khó:
Bảy Núi
hay Thất sơn :
7 ngọn núi thuộc tỉnh Châu Đốc:
1.- Anh Vũ sơn: núi Két,
2.- Ngũ Hồ sơn:
núi Giài 5 giếng, ở gần núi Két,
3.- Thiên Cẩm
sơn: núi Gấm hay núi Cấm,
4.- Liên Hoa
sơn: núi Tượng,
5.- Thủy Đài sơn: núi Nước, thấp, nhỏ
ở gần núi Tượng,
6.- Ngọa Long sơn: núi Dài,
7.- Phụng Hoàng sơn: núi Tô.
Một giải thích khác,
Thất Sơn: núi Trà Sư, núi Két, núi Bà Đội Om, núi Cấm,
núi Dài, núi Tượng và núi Tô. Thực ra, dãy Thất sơn có hơn 10 ngọn
núi. (theo
quyển Thất Sơn Huyền Bí của hai Ông Dật Sĩ và Nguyễn văn Hầu).
Cười thầm:
trong lòng chê, không phục mà không nói ra.
Sư mang
hay
"sư hổ mang": tiếng dân gian miền
Nam chỉ hạng người tu
không giữ gìn luật đạo, lòng nuôi nhiều ham muốn, âm thầm làm việc
ác độc, giống như rắn hổ mang, (loại rắn độc, nhìn có vẻ hiền, khi
làm dữ cổ bạnh to ra và cắn chết người vì nọc rất độc)
Sang:
nhiều tiền ăn xài rộng rãi, dáng vẻ cao quý.
Phụ giải:
Am: nơi thờ
Phật giống ngôi chùa nhỏ chỉ một người tu.
23.-"Lúc
này tâm trí rối beng - Tiếng quyển tiếng kèn mặc ý bá gia - Hết
gần rồi lại tới xa - Dân sự nhà nhà bàn tán cười chơi".
Luận giải:
(dòng 35 tới 38, trang 27)
Vì thương người đời
trong cảnh khổ đau, nhứt là sắp chết đến nơi, nên lòng Người
nhiều nỗi ngổn ngang, dầu vậy, mặc tình ai dùng lời ngon tiếng
ngọt, hay châm chọc nói gần nói xa chê cười, Người
vẫn giữ im lặng và không buồn.
Nghĩa chữ khó:
Tâm trí rối beng:
vì nhiều suy nghĩ thành ra lòng dạ, trí óc rối rắm.
Tiếng quyển tiếng kèn:
tiếng dân gian miền Nam chỉ
những lời nói nịnh bợ, lời xúi dục mà dịu ngọt, êm tai - phần lớn
từ miệng phụ nữ đẹp - làm người nghe mất sáng suốt, dễ tin hầu lấy
lòng thương mà kiếm lợi.
Mặc ý bá gia:
tùy ý ưa thích, hay chê khen của người đời.
Dân sự:
những việc của người dân.
Bàn tán:
đặt nhiều lý do; cắt nghĩa rồi xầm xì nói ra nhiều người hay biết.
-- *** --
24.-"Chuyện
này cũng lắm tuyệt vời - Giả như Hàn Tín đợi thời lòn trôn - Đến
sau danh nổi như cồn - Làm cho Hạng Võ mất hồn mấy khi
- Chuyện xưa thanh
sử còn ghi - Khen anh Hàn Tín vậy thì mưu cao".
(dòng 1 tới 6, trang 28)
Luận giải:
Sử xanh còn ghi chép
về tài trí của Hàn Tín, lúc chưa gặp thời phải chịu nhục cúi người
chui qua háng một tên du côn. Đến sau, Hàn Tín nổi tiếng khắp nơi
về tài điều binh khiển tướng, đánh thắng nhiều trận giặc lớn làm
Hạng Võ kinh sợ, quân binh tan rã hết, đến cùng đường phải tự tử
tại bến đò sông Ô.
Nghĩa chữ khó:
Tuyệt vời:
quá sức hay đẹp; hơn tất cả.
Lòn trôn: chui
qua háng – đáy quần.
Hàn Tín:
tướng cầm quân giỏi của Hán Cao tổ Lưu Bang
(Tàu, 202 trước Tây
lịch, 220 sau Tây lịch),
lúc chưa gặp thời phải nhịn, chịu nhục cúi mình chun qua đáy quần
(háng) một tên du côn để giữ mạng sống chờ dịp đem tài giúp nước.Ý
câu này khuyên người đời nên tùy thời mà ẩn nhẫn, biết nhường nhịn
khi cần.
Danh nổi như cồn:
tài giỏi được nhiều người biết.
Cồn, có hai giải
thích:
a/- gò đất lớn nổi lên giữa con sông, trên
đó có nhà người ở làm vườn hoặc ruộng rẩy.
b/- cái còng hay chiêng, làm bằng thau pha
đồng, đánh tiếng kêu thanh và vang đi rất xa. Ngày xưa người ta
đánh còng để truyền lịnh.
Nghĩa bóng của
tiếng cồn: một gò đất lớn nổicao lên
giữa dòng sông gây chú ý của người đi thuyền; cũng như tiếng
còng vang lên được nhiều người nghe biết.
Hạng Võ: vua nước
Sở, võ giỏi và sức mạnh không ai đánh lại, nhưng nhiều lần thua
mưu trí và tài dùng binh của Hàn Tín, đến phải tự tử ở bến đò sông
Ô.
Mưu cao: dùng trí
tính việc làm rất kỹ, sắp đặt thật khéo, cốt gài cho người bị thua
mình.
Thanh sử:
sử xanh. Ngày xưa chưa có giấy, người ta ghi
(viết, chép) sự việc xảy ra trong nước
hay thế giới trên những thẻ tre xanh.
Phụ giải:
Du côn:
người hay đi đây đi đó (du), tay cầm gậy ngắn (côn),
tánh ham đánh lộn; tên đánh lộn mướn.
Ẩn nhẫn:
biết đè nén sự tức giận. Biết nhịn khi cần để chờ đợi thực
hiện một điều cao đẹp, một lý tưởng.
Tự tử: tự
giết mình, tự làm mình chết.
-- *** --
25.-"Chuyện
đời phải có trước sau - Điên Khùng khờ dại mà cao tu hành
- Bá gia phải
rán làm lành - Niệm Phật cho rành đặng thấy Thần Tiên".
(dòng 7 tới 10, trang 28)
Luận giải:
Cách ăn ở trong đạo
làm người, đối xử với nhau phải giữ một mực, trước như sau không
thay đổi. Còn xét người, đừng nhìn cái vẻ bên ngoài, như trong cái
vẻ “Điên”- “Khùng” của Người, là một vị đã thành đạo
chịu khổ xuống trần khuyên dạy thế nhân sửa tánh răn lòng, làm
lành lánh dữ. Niệm Phật là một cách lắng lòng, giữ tâm ý thanh
tịnh, không lo nghĩ buồn rầu, đời sống đó mới thật an vui hạnh
phúc. Phải chăng đó là tiên cảnh, là Cực lạc ?
Nghĩa chữ khó:
Tu hành: Tu
là sửa, sửa tánh, rèn lòng cho tốt và khép mình theo luật
đạo. Hành: tập, làm theo điều Phật dạy, giữ đúng
cách người tu.
Bá gia:
xin xem số 2.
Niệm Phật cho rành:
nghĩa ở đây là lòng thành niệm tưởng, nhớ rõ lời Phật dạy, học 4
đức lớn của Phật, sửa tánh răn lòng chớ không phải gặp nguy hiểm
mới niệm Phật để cầu xin ân phước, hay miệng niệm Phật mà lòng
tính điều gian ác, nghĩ cách hại người !
Xin xem số 8 và 12.
Thần - Tiên:
xin xem số 6.
-- *** --
26.-"Thương
đời trong dạ chẳng yên - Khắp trong lê thứ thảm phiền từ đây -
Ngày nay thế cuộc đổi xây - Rán lo tu niệm đặng Thầy cứu cho".
(dòng 11 tới 14, trang 28)
Luận giải:
Lòng không yên vì
phiền não và cảnh khổ của thế nhân đã cận kề, Người cho
biết những thay đổi lớn ở trần gian là dấu hiệu báo trước về
thương đau, chết chóc mà người đời sẽ phải chịu, nên
Người khuyên dân rán lo tu mới hy vọng được sống còn.
Nghĩa chữ khó:
Lê thứ:
xin xem số 4.
Thảm phiền:
đau đớn, khổ sở, gặp chuyện không vui.
Thế cuộc:
xin xem số
3. Ở đây chỉ
những sự việc xảy ra gây khó khăn, nguy hiểm cho đời sống: mưa gió,
sấm, sét, bảo lụt, động đất, giặc, cướp ...
Đổi xây:
thay vật này thế vào vật khác; dời nơi này đi chỗ khác, xây vần từ
cũ tới mới, từ hư tới tốt, từ tốt qua xấu.
Tu niệm:
xin xem số 12.
-- *** --
27.-"Mảng
theo danh lợi ốm o - Sẵn của hét hò đứa ở người ăn - Đừng khi nhà
lá một căn - Mà biết niệm Phật sau bằng bạc muôn - Giàu sang như
nước trên nguồn - Gặp cơn mưa lớn nó tuôn một giờ
".
(dòng 15 tới 20, trang 28)
Luận giải:
Người đời mãi chạy theo
danh lợi nên quên ăn quên ngủ, thân xác hao mòn. Có điều đáng
trách là ỷ vào tiền của mà hét la, nạt nộ người giúp việc hay kẻ
ăn ở trong nhà, quên lúc nghèo đói khổ cực ngày xưa. Thử nghĩ cảnh
nhà cao cửa rộng, tiền chất đầy kho, qua một trận động đất hay
giông bão nước cuốn chỉ một giờ là tiêu tan, hết sạch, còn người
nghèo ở trong căn nhà lá nhỏ mà biết tu, biết sống ngay thật, biết
giữ gìn lời Phật dạy, đó chính là nguồn vốn thật quí, ngày sau bạc
vạn không bằng.
Nghĩa chữ khó:
Nhà lá: mái
nhà lợp bằng lá dừa nước
(loại dừa mọc dưới
nước) hay bằng cỏ tranh kết lại
(tranh là một loại cỏ
cọng dài), thông thường nhà rộng từ một
đến năm căn, người miền Bắc Việt Nam gọi là gian. Một gian nhà hay
một căn nhà là tính bề rộng từ cây cột cái này qua cây cột cái kia
3 đến 5 thước
(mét). Người nghèo mới lợp nhà bằng lá,
và chỉ có một căn.
Bạc: tiền
bạc.
Muôn: mười
ngàn hay một vạn.
Nguồn: nơi
phát khởi con sông, ngọn suối. Ví dụ: "Sông Cữu Long bắt
nguồn từ Tây Tạng".
-- *** --
28.-"Cửu
Huyền Thất Tổ chẳng thờ - Để thờ những Đạo ngọn cờ trắng phau -
Dương trần bụng dạ nhiều màu - Thấy cảnh bên Tàu sao chẳng nghĩ
suy".
(dòng 21 tới, trang 28)
Luận giải:
Tổ tiên, Ông Bà, Cha
Mẹ không thờ, theo chi các đạo của người nước ngoài ? Thói thường
con người dễ thay lòng đổi dạ, hãy nhìn gương trước mắt mà suy
nghĩ, nước Tàu đang rối ren, lộn xộn (vì bị quân Nhựt đánh
chiếm, trong khi đó có một số người Tàu ham danh, ham tiền làm tay
sai, dâng bán đất nước mình cho người Nhựt).
Nghĩa chữ khó:
Cửu Huyền:
chín đời Ông Bà bên nội, ngoại.
Thất Tổ:
bảy bực Tổ, những vị đầu đời của dòng họ?
Trắng phau:
nói lái là "tráo phăng hay tráo phờ răng"
(France) có nghĩa là lừa gạt Tây, qua mặt thực dân Tây - tiếng
lóng thời
Nam bộ kháng chiến.
Nghĩa bóng chỉ các đạo của người da trằng ? Cụ Nguyễn Đình Chiểu,
tác giả "Lục Vân Tiên" viết: "Thà đui mà giữ đạo nhà. Còn hơn có
mắt Ông Cha không thờ".
Dương trần:
xin xem số 11.
Nhiều màu:
nghĩa bóng chỉ người hay thay lòng đổi dạ.
-- *** --
29.-"Lời
xưa người cổ còn ghi - Những việc lạ kỳ nay có hay chưa ? - Chưa
là với kẻ chẳng ưa - Chớ người tâm đạo biết thừa tới đâu".
Luận giải:
(dòng 25 tới 28, trang 28)
Những điều chỉ dạy
hay, đẹp của người xưa để lại con cháu rán học theo mà ở đời, về
các việc lạ kỳ nay đã thấy có hay chưa ? Hạng không ưa đạo lý cho
là chưa xảy ra, còn những người có tâm đạo thì đã thừa biết.
Nghĩa chữ khó:
Người cổ:
người xưa, người của nhiều đời trước từ khi dựng nước.
Người tâm đạo:
người thật lòng tin đạo luôn giữ gìn lời dạy bảo của Phật.
Phụ giải:
Đạo lý:
xin xem số 6.
-- *** --
30.-"Bá
gia mau kíp lo âu - Để sau đối đầu chẳng đặng toàn thây - Việc đời
nói riết thêm nhây - Nếu muốn làm Thầy phải khổ phải lao
".
Luận giải:
(dòng
29 tới 32, trang 28)
Người đời hãy sớm sửa
tánh, răn lòng, siêng năng sớm tối tu hành để sau này được tai qua
nạn khỏi, còn kẻ hung dữ sẽ chết thây không còn nguyên vẹn, nên
Người phải khuyên dạy nhiều, nói nhiều, nhắc nhở dai
dẳng. Muốn làm Thầy cứu đời tất nhiên phải chịu lao chịu khổ.
Nghĩa chữ khó:
Kíp: gấp,
không chậm trễ, không chần chờ.
Lo âu: suy
tính mà lo lắng, ray rứt trong lòng.
Đối đầu:
nghĩa ở đây là đương đầu với việc rủi ro có thể nguy đến mạng sống.
Nghĩa đen: chống đối không phục.
Nói riết:
nói hoài, nói nhiều lần cho người hiểu được điều mình muốn nói.
Nhây: nói
dai dẳng về một chuyện, nói hoài không thôi.
Khổ lao:
mệt, cực, hao tốn nhiều công sức.
-- *** --
31.-"Mèo
kêu bá tánh lao xao - Đến chừng rồng rắn máu đào chỉn ghê - Con
ngựa lại đá con dê Khắp trong trần hạ nhiều bề gian lao - Khỉ kia
cũng bị xáo xào - Canh khuya gà gáy máu đào mới ngưng".
Luận giải:
(dòng 33 - 36, trang 28 và dòng 1-2,
trang 29)
Người
báo trước: năm Mẹo
(1939) người đời lao xao lo sợ, tới năm Thìn (1940) năm Tỵ (1941),
máu đổ, dân chết không kể xiết. Qua năm Ngọ (1942) năm Mùi (1943),
con người khắp thế gian phải chịu nhiều đau khổ. Năm Khỉ, tức năm
Thân (1944)
cũng bị lộn
xộn, đến gần cuối năm Gà, chỉ năm Dậu
(1945) mới hết
đổ máu, hết chết chóc.
Nghĩa chữ khó:
Mèo: chỉ
năm Mẹo, theo Dương lịch là năm 1939.
Lao xao:
người đời xôn xao, lộn xộn, lo sợ ...
Rồng rắn:
chỉ 2 năm Thìn và Tỵ, theo Dương lịch là 1940 - 1941.
Ngày 19/6//1940, quân Nhựt vào Bắc Việt
(80 ngàn quân lính và
200 ngàn thường dân Nhựt).Pháp bị ép
phải dành cho quân Nhựt quá nhiều quyền lợi, cả quyền giết người
trên ba nước Việt - Miên - Lào. Nhà cầm quyền Pháp bắt đầu thâu
góp - gần như cướp - tiền và lúa của dân để nuôi quân Nhựt. Từ đó
miền Bắc bắt đầu đói,(trận đói năm Ất Dậu 1945 chết trên 2 triệu
người). Năm 1941, cộng sản lợi dụng tình hình đói kém, xúi gịục
dân đánh cướp các kho chứa lúa gạo miền Bắc và chận cướp lương
thực từ trong Nam chuyển ra tiếp tế miền Bắc. Tình hình Việt Nam
thời bấy giờ vô cùng khổ sở...
Máu đào chỉn ghê:
máu đổ người chết thật ghê gớm.
Ngựa:
năm Ngọ, Dê năm Mùi, Dương lịch là 1942-1943, cả
nước Việt Nam bấy giờ rất lộn xộn.
Gian lao:
những nỗi khó khăn, vất vả, cực khổ.
Xáo xào:
lộn xộn, có nghĩa giặc cướp làm cho đời sống người đời không yên.
Lời giải thêm:
Đức Thầy viết
quyển "Sấm
Giảng Khuyên người đời tu niệm" này đầu năm Kỷ Mão (1939),
viết Quyển thứ nhì "Kệ Dân của Người Khùng", ngày 12
tháng 9 năm Kỷ Mão (1939).Trận giặc thế giới lần thứ hai khởi
01/9/1939, kéo dài 5 năm, gần khắp hai châu Âu và Á người chết vô
số; hết năm con Khỉ
(Thân
-1944)
đến "canh
khuya gà gáy" là gần cuối năm Gà, tức Ất Dậu (1945),
ngày 02/9/1945 thế chiến thứ hai chấm dứt đúng như lời tiên tri
của Người: Đầu năm 1945, ở trụ sở
đường Miche Saigon, Người nói: "Nhựt bổn ăn
không hết con gà".
-- *** --
32.-"Nói
ra nước mắt rưng rưng - Điên biểu dân đừng làm dữ làm hung - Việc
đời nói chẳng có cùng - Đến sau mới biết đây dùng kế hay".
(dòng 3 tới 6, trang 29)
Luận giải:
Người
không dứt lời khuyên
dân nên ăn ở hiền lành, đừng làm hung dữ, Người nói mà lòng
buồn, rưng rưng nước mắt. Chuyện đời không thể nói hết ra được,
phải đợi đời sau mới thấy đó là phương cách hay.
Phụ giải:
Phương cách:
cách, cách thức.
-- *** --
33.-"Bây
giờ mắc việc tà tây - Nên mới làm vầy cho khỏi ngại nghi - Thiên
cơ số mạng biết tri
- Mà sao chẳng
chịu chạy đi cho rồi".
Luận giải:
(dòng 7 tới 10, trang 29)
Vì bọn Việt gian theo
sát lấy tin cho nhà cầm quyền Pháp, nên Người phải
giả như Khùng, Điên, như vậy để che mắt chúng. Hiểu rõ máy Trời
sắp đặt, mà sao Người chẳng bỏ tránh đi, chỉ vì sứ mạng cứu
đời.
Nghĩa chữ khó:
Tà tây chỉ
giặc Pháp và bọn gian tà theo Tây. Nước Pháp ở về hướng Tây của
Việt Nam, nên dân gian gọi nước Tây, người Tây.
Tà tây theo
nghĩa đen là lòng gian dối, xấu ác.
Thiên cơ:
xin xem số
10.
Biết tri:
suy nghĩ, tìm học hỏi để mở mang sự hiểu biết.
Phụ giải:
Việt gian:
tiếng chỉ hạng người Việt theo Tây tìm tin tức báo cho chủ
Tây.
-- *** --
34.-"Những
người giả đạo bồi hồi - Còn chi linh thính mà ngồi mà nghe - Việc
đời như nước trong khe - Nó tưởng đặt vè nói biếm người hung".
(dòng 11 tới 14, trang 29)
Luận giải:
Những kẻ tu giả dối
vẫn hiểu rồi thế nào cũng bị người đời hay biết, do đó lòng dạ họ
lo lắng không yên, vì vậy tâm trí chẳng còn sáng suốt, dĩ nhiên
lời nói của họ đâu có trúng mà ngồi nghe. Không việc xấu nào ở
trên đời giấu được lâu, như giấu một vật dưới nước trong veo, với
mắt thường ai cũng thấy dễ dàng. Chuyện dạy đạo, khuyên tu không
giống việc đặt bài vè châm chọc kẻ này người nọ.
Nghĩa chữ khó:
Nước trong khe:
nước trong suốt, trong veo không bụi dơ.
Linh thính:
nói đúng những việc sắp xảy ra.
Vè: bài văn
vần, phần lớn kể câu chuyện lạ, vui, để chọc ghẹo người nào đó.
Nói biếm:
chê bai, kiêu ngạo, nhạo báng.
-- *** --
35.-"Điên
này nối chí theo Khùng - Như thể dây dùn đặng cứu bá gia - Sau này
kẻ khóc người la Vài ba năm nữa biết mà tà tinh - Điên biết chẳng
lẽ làm thinh - Nói cho bá tánh mặc tình nghe không".
(dòng 15
tới 20, trang 29)
Luận giải:
Người
nối tiếp việc dạy Đạo
cứu dân của vị Bồ Tát xuống thế xưng Khùng trước kia (Đức Phật
Thầy Tây An ?) vì luôn bị bọn người xấu theo dõi, làm khó nên phải
mềm mỏng, uyển chuyển như sợi dây dùn để khỏi bị đứt ngang, nhờ
vậy Người mới tiếp tục được việc dạy Đạo cứu đời. Những
tháng ngày sắp tới, chỉ vài ba năm thôi, sẽ có một loại người, tuy
nói tiếng người nhưng họ mang trái tim của yêu tinh, ma quỉ. Dân
lành phải chịu nhiều thảm họa, kẻ khóc người la, gia đình tan nát
đều do bọn tà tinh tàn ác này gây ra. Người nói trước điều
này vì lòng thương người đời, còn tin hay không xin tùy ý.
Nghĩa chữ khó:
Dây dùn:
dây không căng thẳng, thẳng quá sẽ đứt.
Tà tinh,
yêu tinh: ở đây chỉ bọn người lòng dạ tàn ác.
Bá gia - Bá tánh:
xin xem số
2 và số 5.
Phụ giải:
Bồ tát:
tiếng Phạn
Boddhisattva (scr)
nói đủ là Bồ đề tát đỏa.
Tàu dịch: giác hữu tình, tức bực đã chứng Phật quả
song còn hạnh nguyện trở lại trần cứu độ chúng sanh.
Mặc tình:
để tùy ý thích của mỗi người.
Tàn ác: gây
đau khổ cho người mà lòng không xót thương.
Thảm họa:
điều đau khổ ghê ghớm; chịu thiệt hại to lớn.
-- *** --
36.-"Việc
Điên,
Điên xử chưa xong - Lục Châu chưa giáp mà lòng ủ ê - Người nghe
đạo lý thì mê - Kẻ lại nhún trề nói: Lão kiếm cơm".
Luận giải:
(dòng 21 tới 24, trang 29)
Việc dạy đạo của
Người, Người chưa làm trọn, đi chưa giáp Lục tỉnh mà đã thấy
lòng buồn ủ ê vì người đến nghe giảng thì u mê, kẻ nhún trề khi dể
ra mặt, có kẻ còn nói: "Lão
Già không có nghề nuôi sống, nên bày chuyện, đặt điều đặng kiếm
cơm ăn".
Nghĩa chữ khó:
Lục Châu: 6
tỉnh miền Nam Việt Nam -
xin xem số 14.
Ủ ê: xót xa
buồn, sầu thảm.
Đạo lý:
xin xem số 6.
Nhún trề:
nhún vai trề môi tỏ ý chê, khi dể.
Lão kiếm cơm:
ý chê Ông Già không nghề nuôi sống, nên đặt chuyện để kiếm cơm ăn.
-- *** --
37.-"Thấy
nghèo coi thể rác rơm - Rồi sau mới biết rác rơm của Trời - Vì
Điên chưa đến cái thời - Nên còn ẩn dạng cho người cười chê".
Luận giải:
(dòng 25 tới 28, trang 29)
Thói thường của người
đời là thấy kẻ nghèo, áo quần rách rưới thì khi dể, rẻ rúng coi
như rác rơm, đến sau này, qua những xáo trộn của cuộc đời, dân
chúng mới thấy và hiểu được sự cao quí của nếp sống nghèo mà trong
sạch, nghèo mà biết giữ gìn đạo đức, nghèo đó là thứ rác rơm của
Trời của Phật. Bây giờ vì chưa tới lúc hiện rõ thân phận, Người
phải giả Điên, Khùng để mặc người đời khen chê tùy ý.
Nghĩa chữ khó:
Rác: thứ
vụn vặt không xài đươc.
Rơm: thân
cây lúa sau khi đã lấy hết hột, gọi là rơm, chỉ để cho bò ăn hay
nhà nghèo đốt thay củi. Rác rơm chỉ các vật không đáng giá.
Thời: lúc
đã hết sự trở ngại khó khăn, làm là thuận lợi.
Ẩn: ở một
nơi ít người biết; không muốn đời biết tới.
Dạng: dáng
người trông xa xa.
Ẩn dạng: ở
một nơi không muốn cho ai thấy và biết tới.
-- *** --
38.-"Từ
đây sắp đến thảm thê - Con lìa cha mẹ, vợ kia xa chồng -Tới chừng
đến việc ngóng trông -Trách rằng Trời Phật không lòng từ bi".
Luận giải:
(dòng 29 tới 32, trang 29)
Từ đây người đời sẽ
phải chịu nhiều đau khổ, thê thảm, con mất cha mẹ, vợ khóc xa
chồng. Cứ mãi sống buông lung, chừng gặp nguy hiểm mới hoảng sợ mà
rối rít cầu cứu Phật, Trời rồi than trách sao Trời Phật không có
lòng thương !
Nghĩa chữ khó:
Thảm thê:
hết sức đau đớn, thương xót, buồn vô cùng.
Ngóng trông:
mong đợi mà lòng lo lắng.
Từ bi:
xin xem lại số 8.
-- *** --
39.-"Di
Đà lục tự rán ghi - Niệm cho tà quỉ vậy thì dang ra - Khuyên đừng
xài phí xa hoa - Ăn cần ở kiệm đặng mà lo tu - Đừng khinh những kẻ
đui mù".
(dòng 33 tới 37, trang 29)
Luận giải:
Lòng lúc nào cũng
niệm tưởng sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật thì không quỷ tà nào dám
lại gần. Nói rõ hơn, niệm Phật là cách rèn luyện lắng lòng, giữ
tâm ý yên tịnh. Tâm ý có yên tịnh trí huệ mới phát sinh. Khi trí
huệ bừng sáng thì Si tan biến, hết Si thì Tham
và Sân không còn. Ba mối độc hay tam bành tiêu diệt đời
sống sẽ nhẹ nhàng, an lành hạnh phúc. Ngoài ra, Người
khuyên dân ăn ở cần kiệm, đừng xài tiền khi không cần thiết, nên
dành để giúp kẻ nghèo khổ, thương xót những ai thiếu may mắn, đui
mù tàn tật.
Nghĩa chữ khó:
Di Đà lục tự:
sáu chữ
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT.
Xa hoa: áo
quần quá đẹp, xài tiền không đúng chỗ, không cần thiết.
Cần kiệm:
siêng năng, chăm làm việc, biết dành để, xài có chừng mực, đúng
chỗ, xài khi thật cần.
Phụ giải:
Nam mô:
xin xem số 8.
Phung phí:
ăn xài không đúng chỗ; xài tiền một cách vô ích, không cần thiết.
Rán ghi: cố
gắng nhớ trong lòng.
Niệm: xin
xem số 8.
Si: mê muội,
ngu tối, không hiểu điều sai lẽ phải.
Sân: giận
dữ trước nghịch cảnh; hận, ghét, ganh ghét.
Tàn tật:
một hay nhiều bộ phận trên thân hư hoặc mất, không dùng được.
-- *** --
40.-"Đến
sau sẽ khổ gấp mười mù đui - Đời nay xét tới xem lui - Chừng gặp
tuổi Mùi bá tánh biết thân - Tu hành sau được đức ân - Nhờ Trời
ban bố cho gần Phật Tiên".
Luận giải:
(dòng 1 tới 5, trang 30)
Khi dể người đui mù
sau này sẽ khổ gấp mười người mù đui. Xem xét những sự việc đã và
đang xảy ra thì tới năm Mùi - năm con Dê (1943) người đời gặp phải
lắm việc khó khăn, riêng những ai tu hành ngay thật sẽ được phước
lành sống yên vui, an nhàn, thong thả.
Nghĩa chữ khó:
Tuổi Mùi
chỉ năm Mùi, năm con Dê.
Xin xem lại số 31.
Được đức ân:
ý câu này là nhờ có công tu, biết làm lành, thương giúp người
nghèo khổ, hoạn nạn, nên được ơn trên ban phước lành, sống an vui,
hưởng nhiều may mắn ...
-- *** --
41.-"Nói
ra trong dạ chẳng yên - Điên gay chèo quế dạo miền Lục Châu - Tới
đâu thì cũng như đâu - Thêm thảm thêm sầu lòng dạ người xưa".
Luận giải:
(dòng 6 tới 9, trang 30)
Người
chèo thuyền đi dạy Đạo khắp sáu tỉnh miền Tây Nam Việt, tới đâu
cũng thấy đời sống người dân quá đau khổ, nên lòng càng thêm xót
xa buồn.
Nghĩa chữ khó:
Gay chèo:
việc làm cho cây chèo thắt chặt lại với cột chèo bằng một vòng dây,
gọi là nài, rồi đẩy mái chèo xuống nước là ghe lướt đi.
Chèo quế:
quế là một loại cây quí, thân dầu chết khô nhiều năm nhưng vỏ vẫn
còn giữ mùi thơm và trị được nhiều chứng bịnh. Tiếng chèo quế ngầm
chỉ người dùng không phải bực tầm thường.
Dạo: rảnh
đi xem phong cảnh.
Miền: vùng,
phía.
Lục Châu:
xin xem lời
giải số14.
Người xưa:
chỉ những bực Bồ Tát đã thành Đạo song còn hạnh nguyện xuống
thế cứu độ người đời – Đức Thầy là một trong các vị Bồ Tát đó.
-- *** --
42.-"Bá
gia ai biết thì ưa - Tôi chẳng nói thừa những việc Thiên cơ - Khi
già lúc lại trẻ thơ - Giả quê giả dốt khắp trong thị thiềng".
Luận giải:
(dòng 10
tới 13, trang 30)
Người hiền lành ngay
thật, biết suy nghĩ, cân nhắc điều tội phước, nghe Người
nói về việc sắp xếp của Trời Phật cùng những lời khuyên tu hành để
hy vọng được sống còn thì hoàn toàn tin tưởng chớ không để dạ nghi
ngờ. Người luôn thay hình đổi dạng, khi là Ông Lão, lúc
thanh niên hay người quê dốt, đi khắp cùng thành phố lựa lời nhắc
nhở dân chúng rán ăn ở hiền lành, nên thương yêu tha thứ nhau,
giúp đỡ kẻ nghèo khổ, sớm tối siêng năng tu.
-- *** --
43.-"Đi
nhiều càng thảm càng phiền - Lên doi xuống vịnh nào yên thân Già
-
Tay chèo miệng lại hát ca - Ca cho bá tánh biết đời
loạn ly - A Di Đà Phật từ bi - Ở bên Thiên Trước chứng tri lòng
này".
(dòng 14
tới 19, trang 30)
Luận giải:
Người
chèo thuyền đi lục
tỉnh khi lên doi lúc xuống vịnh, thân Già dầu khổ cực cũng
chẳng kể chi, chỉ buồn sao người tu hiền ngay thật thì ít, còn kẻ
hung ác lại quá nhiều. Tay chèo, miệng Người hát, ca những
lời báo trước việc thế gian sắp tới hồi lộn xộn, người đời sẽ chịu
đau khổ, đổ máu chết chóc. Đức Phật A Di Đà ở Tây phương từ bi
chứng giám lòng thành thật thương đời của Người.
Nghĩa chữ khó:
Thảm phiền:
nói chung là gặp phải việc thật đau buồn. Việc không được như
ý.
Doi - Vịnh:
sông dài thường cong quẹo, lượn mình như rắn bò, chỗ mũi đất nhô
ra là doi, chỗ khuyết vô gọi vịnh.
Ca: hát có
tiếng đàn, giọng khi cao khi thấp theo bài bản.
Hát: ngâm
nga có giọng điệu nhịp nhàng.
Loạn ly - Ly loạn:
tình hình lộn xộn làm người thân phải xa lìa, lạc nhau, kẻ mất
ngưòi còn.
Thiên trước:
Ngày xưa các quốc gia chung quanh nước Tàu đều gọi Ấn Độ là
Thiên trước. Hiện nay các nhà tu Phật vẫn gọi như vậy. Ngoài tiếng
Thiên trước, người ta cũng kêu Thiên trúc, Tây vực, Tây thiên, Tây
trúc ... chỉ nơi Đức Phật ra đời, nơi phát xuất đạo Phật.
Chứng tri: soi
rõ, nhìn nhận là thật.
-- *** --
44.-"Từ
ngày thọ giáo với Thầy - Dẹp lòng vị kỷ đầy lòng yêu dân - Ngày
nay chẳng kể tấm thân Miễn cho bá tánh được gần Bồng Lai".
Luận giải:
(dòng
20 tới 23, trang 30)
Từ khi theo Thầy học
Đạo, Người không còn lo nghĩ riêng mình mà hết lòng yêu
thương chúng sanh, nên trước cảnh đau khổ của thế nhân, Người
chẳng ngại cực thân khổ trí, đem nền Đạo chánh giảng dạy cho
người đời biết bỏ mê tối, sửa tánh, răn lòng. Người mong
sao ai nấy đều thấy con đường sáng, tu hành được thành Đạo để ngày
sau cùng chung sống cảnh yên vui hạnh phúc.
Nghĩa chữ khó:
Thọ giáo: kính
nhận làm Thầy, xin được theo học đạo.
Vị kỷ: ích kỷ,
chỉ lo riêng cho mình, chỉ vì mình.
Miễn: nghĩa ở đây
là cốt sao, mong sao.
Bồng Lai: tên
ngọn núi có Tiên ở theo lời truyền trong dân gian. Nghĩa bóng chỉ
nơi trong sạch, không hận thù, không đau khổ, cuộc sống lúc nào
cũng thong thả, yên vui.
-- *** --
45.-"Đời
này vốn một lời hai - Khắp trong trần hạ mấy ai tu trì - Đời này
giành giựt làm chi - Tới việc ly kỳ cũng thả trôi sông".
Luận giải:
(dòng 24
tới 27, trang 30)
Đời này rất ít người tu
hành ngay thật, nên chưa chịu làm lành, còn mãi lo giành giựt, ham
của tiền, cho vay vốn một lấy lời hai. Người khuyên dân hãy
lắng lòng suy nghĩ, trong đời sống thường có những nguy hiểm bất
ngờ, như bảo, lụt, động đất, sóng thần … hoặc giặc, cướp mất hết
của tiền, nhà cửa bị đốt sạch, mạng sống còn chưa chắc giữ được.
Nghĩa chữ khó:
Vốn một lời hai:
một cách cho mượn tiền lấy lời nặng, mượn một trả thành hai. Ví
dụ: mượn mười đồng, người mượn phải trả mười lần, mỗi lần hai
đồng, thành ra hai chục, đó là một trong nhiều lối cho vay ăn lời
cắt cổ.
Tu trì:
xin xem số 9.
Giành là đoạt, là
chiếm, giựt lấy phần hơn cho mình.
Giựt là cướp lấy,
chụp lẹ lấy của người khác.
-- *** --
46.-"Thuyền
đưa Tiên cảnh Non Bồng - Mấy ai mà có thiềng lòng theo đây - Cứ lo
làm việc tà tây - Bắt ngưu bắt cầy đặng chúng làm ăn - Chừng đau
niệm Phật lăng xăng - Phật đâu chứng kịp lòng người ác gian".
Luận giải:
(dòng 28 tới 33, trang 30)
Người
khuyên dân rán làm hiền,
tránh dữ, gìn giữ nếp sống ngay thật và sớm tối sửa mình, đó là
cách Người dắt đường đến thuyền đi Bồng Lai. Nhà Phật ví
đời là biển khổ, đạo Phật như chiếc thuyền đưa con người vượt qua
biển khổ đến bờ yên vui; nhưng đời này được mấy ai có lòng thành
biết nghe và làm đúng theo lời khuyên của Người. Còn
có hạng người quen làm gian ác, coi trọng vàng bạc, xài kẻ giúp
việc như trâu cày, đối xử không hơn chó nuôi trong nhà ! Chừng gặp
nguy hiểm, đau ốm mới sợ chết mà niệm Phật van xin cầu cứu. Không
có lòng thành thì Phật đâu chứng.
Nghĩa chữ khó:
Tiên cảnh: cảnh
tiên, nơi Tiên ở. Tiên :
xin xem số 6.
Non Bồng: tức núi
Bồng Lai,
xin xem số 44.
Thiềng lòng:
thành lòng,
xin xem số 10.
Tà tây: nghĩa ở
đây chỉ người hung dữ, lòng nuôi ý xấu, làm việc sai quấy, ác độc.
Ngưu: trâu.
Cầy: chó. Không nên đối xử với người như trâu
chó. Một nghĩa khác: giết trâu, giết chó lấy thịt ăn là việc làm
không tốt, vì hai giống vật này rất có ích, trâu giúp cày bừa
ruộng đất cực khổ, chó giữ nhà, giống vật rất trung thành với chủ.
Lăng xăng: lúc
nào cũng tỏ ra bận rộn, buông việc này bắt tay việc khác.
Ác gian: bất chấp
lẽ phải, độc ác, dối trá một cách ác độc.
Niệm Phật lăng xăng:
gặp nguy hiểm miệng mới niệm Nam Mô rối rít không dứt tiếng.
Chứng: nhìn nhận
sự thật.
-- *** --
47.-"Thấy
đời mê muội lầm than - Ăn bạ nói càn tội lỗi chỉn ghê - Chữ tu
không phải lời thề- Mà không nhớ đến đặng kề Tiên bang".
Luận giải:
(dòng 34 tới 37, trang 30)
Người đời vì mê tối nên
phải chịu nghèo khổ, vì ngu dốt mới ăn nói không chừng mực, làm
điều sai quấy, lầm lạc, gây tội lỗi nặng nề mà họ nào hay biết. Tu
là do mình chọn, không ai bắt buộc. Đã chọn đường tu mà không làm
theo lời Phật dạy thì cuộc sống sao được yên vui, thong thả, như
vậy bao giờ mới được thấy cảnh Tiên ?.
Nghĩa chữ khó:
Mê muội: ngu dốt,
tối dạ.
Lầm than: đói
khổ, chịu nhiều khó khăn cực nhọc.
Ăn bạ nói càn: ăn
không chừng mực, nói bậy bạ, nói không lựa lời.
Chỉn ghê: đáng
ghê, đáng sợ.
Thề: mời thỉnh
một vị khuất mặt
(Thần) làm chứng và chịu trừng phạt nếu làm
sai lời hứa .
Kề Tiên bang: gần
cảnh Tiên. Hiểu nghĩa bóng: người tu thành Đạo lòng không lo nghĩ,
sống thong thả, yên vui khác nào ở cảnh Tiên.
-- *** --
48.-"Nói
nhiều trong dạ xốn xang - Cùng hết xóm làng tàn ác nhiều hơn -
Thầy chùa như thể cây sơn - Ngoài da coi chắc trong thời mối ăn".
Luận giải:
(dòng 1 tới 4, trang 31)
Người
nói ra mà trong dạ xốn
xang khó chịu, vì đi khắp xóm làng thấy phần đông người thế gian
hay làm điều tàn ác, còn trong giới tu hành, một số không ít các
ông mặc áo nhà chùa nương thân cửa Phật, bề ngoài có vẻ nghiêm
trang nhưng lòng không giữ giới luật, nghĩ cách dối thế gạt đời,
âm thầm làm việc xấu, như vậy khác nào loại cây nhờ có lớp sơn bên
ngoài, mới nhìn qua tưởng tốt, đâu ngờ bên trong mối, mọt đục
khoét hư nát hết rồi !
Nghĩa chữ khó:
Xốn xang: lòng
bứt rứt, bồn chồn, đứng ngồi không yên.
Tàn ác: độc ác
tột cùng, kẻ không còn tánh người, giết hại người không chút xót
thương.
Cây sơn: một loại
cây có chất nhựa được biến chế dùng quét lên đồ vật cho bền đẹp
hoặc làm chất liệu hội họa. Ở đây chỉ các vật dụng bằng cây (gỗ)
có phết một hay nhiều lớp nước sơn bên ngoài.
Mối, mọt:
giống sâu nhỏ đục khoét trong ruột cây.
-- *** --
49.-"Buồn
thay cho lũ ác tăng - Làm điều dối thế cho hư Đạo mầu - Di Đà Phật
Tổ thêm rầu Giận trong tăng chúng sao lừa dối dân".
Luận giải:
(dòng 5 tới 8, trang 31)
Thật đáng buồn và không
thể tha thứ một số kẻ dối tu, nỡ lừa gạt lòng tin những người dân
hiền lành trọn lòng thương quý các vị sư tăng, vì họ tưởng các vị
này đã dâng hiến cuộc đời cho Đạo, mang ý nghĩa cao cả của lời
Phật dạy chỉ dẫn, dìu dắt họ vào đường tu. Nào ngờ, mấy ông này
bên trong lớp áo nhà chùa lòng chứa đầy ham muốn, không giữ gìn
giới luật, âm thầm gian dối làm nhiều việc xấu, khiến nền đạo cao
quí của Đức Phật bị người đời hiểu lầm không ít.
Nghĩa chữ khó:
Ác tăng: chỉ hạng
tu giả dối, mặc áo nhà chùa mà không giữ gìn luật Đạo, lòng dạ ác
độc.
Dối thế:
giả tu để che mắt kẻ thế gian hầu dễ dàng lừa gạt lòng tin
người mến đạo.
Đạo mầu: nền đạo
đầy lý lẽ cao sâu khó có đủ lời giải thích rõ được.
Tăng chúng: chỉ
chung những vị rời gia đình vào chùa tu học Phật.
-- *** --
50.-"Có
thân chẳng liệu lấy thân - Tu như lối cũ mau gần Diêm vương - Bá
gia lầm lạc đáng thương - Nên trước Phật đường thọ lãnh dạy dân -
Dương trần nhiều kẻ ham sân - Cứ theo biếm nhẻ xa gần người Điên".
Luận giải:
(dòng 9 tới 14, trang 31)
Đã chọn đường tu mà
không siêng năng tìm học hiểu lý Đạo, không giữ lòng trong sáng,
còn nuôi nhiều ham muốn, chất chứa hận thù với đủ thứ thương yêu,
giận ghét. Tu như vậy chỉ có đường xuống gặp Diêm vương chớ làm
sao thành Đạo được! Thương cho người trần vì mê tối mới lầm lạc,
làm sai quấy gây tội lỗi, nên trước chư Phật Người
xin xuống trần dạy Đạo cứu dân, vậy mà phần đông kẻ thế gian hay
nóng giận và ham gây, cứ theo nói xấu, chê cười, chọc ghẹo cho
Người là Điên.
Nghĩa chữ khó:
Diêm vương: vị
vua cai quản thế giới người chết.
Lầm lạc: đi sai
đường dẫn đến mục tiêu; hiểu sai làm trật.
Phật đường: nơi
thờ Phật. Nghĩa ở đây là trước chư Phật.
Thọ lãnh: nhận
việc và hứa phải làm thật tốt.
Sân: nóng giận.
Sau cơn giận dữ lòng còn nuôi oán thù.
Biếm nhẻ: chê
cười, chế nhạo.
-- *** --
51.-"Lòng
buồn mượn lấy bút nghiên -Viết cho trần hạ bớt phiền lo tu -
Thương đời chớ chẳng kiếm xu - Buồn cho bá tánh hết mù tới đui".
Luận giải:
(dòng 15 tới 18, trang 31)
Lòng xót xa về nỗi khổ
của người trần, Người mượn bút mực viết Sấm Giảng này chỉ
cho dân rõ đường tu Phật để sớm dứt lo buồn. Đây là do lòng thương
đời chớ đâu phải Người muốn kiếm tiền. Buồn cho sự mê tối
của thế nhân, đã không hiểu biết đường tội phước còn hẹp dạ nghi
ngờ ý tốt của Người.
Nghĩa chữ khó:
Bút: viết lông
của nhà nho. Nghiên: dĩa đựng mực tàu. Nghĩa
bóng của bút nghiên chỉ về văn chương, việc học
hành, chữ nghĩa ...
Trần hạ: bụi cát
dưới trời, chỉ nơi con người đang sống.
Phiền: không vừa
lòng, chuyện buồn lo.
-- *** --
52.-"Có
chi mà gọi rằng vui - Khắp trong bá tánh gặp hồi gian lao -Từ đây
hay ốm hay đau - Rán tu đem được Phật vào trong tâm".
Luận giải:
(dòng 19 tới 22, trang 31)
Đời không có gì gọi là
vui, người đời đang gặp khó khăn mà từ đây còn bị thêm nhiều chứng
ốm đau. Vì vậy, Người mới khuyên dân rán thành lòng tưởng
niệm Phật, bền chí lo tu, theo đúng lời Phật dạy, lòng sẽ thấy an
vui, tinh thần trong sáng, sức khoẻ dồi dào tránh được các bịnh
tầm thường.
-- *** --
53.-"Lời
hiền nói rõ họa thâm - Đặng cho bá tánh tỉnh tâm tu hành - Ngày
nay Điên mở Đạo lành - Khắp trong lê thứ được rành đường tu".
Luận giải:
(dòng 23 tới 26, trang 31)
Người
dùng lời lẽ dịu dàng báo trước tai hoạ to lớn sắp xảy ra để dân
chúng thức tỉnh lo tu. Cũng từ hôm nay, Người khai mở nền
Đạo chánh, nhằm chỉ dạy người đời hiểu biết đường đúng, sai, tội,
phước, tránh lối mê lầm để sớm tối sửa tánh răn lòng, tìm cho mình
cuộc sống lành mạnh, an vui hạnh phúc.
Nghĩa chữ khó:
Họa thâm: Họa:
việc xấu, tai nạn có hại.
Thâm: sâu. Là
việc xấu có hại rất nặng, rất nguy hiểm.
Tỉnh tâm: hết say
mê xét kỹ lòng mình về những sai lầm mà sửa chửa.
Phụ giải:
Thức tỉnh: hết mê
muội biết sai lầm mà sửa đổi.
-- *** --
54.-"Nay
đà gần cuối mùa thu - Hết ngu tới dại công phu gần thành - Xác
trần đạo lý chưa rành - Mấy ai mà được lòng thành với Điên".
Luận giải:
(dòng 27 tới 30, trang 31)
Trải qua bao nhiêu cực
khổ, chịu tiếng dại khờ, đến gần cuối cuộc đời, công tu mới có kết
quả, Người thương cho kẻ thế gian vì nặng nợ áo cơm, ham mê
danh lợi nên chẳng mấy ai dành để thời giờ tìm hiểu đạo lý và có
lòng thành đến với Người Điên này.
Nghĩa chữ khó:
Gần cuối mùa thu:
gần hết tháng 9 Âm lịch, nghĩa bóng sắp cuối đời người.
Hết ngu tới dại:
bực tu hành ngay thật không ham tiền của, không nghĩ hơn thua, nên
bị người đời chê là ngu dại.
Công phu: chịu
cực, chịu khó làm việc gì. Công phu ở đây là dày
công bền chí tu hành.
Phụ giải:
Kết quả: cái có
được, thâu được trong việc làm nào đó. Tu hành được thành
đạo quả.
-- *** --
55.-"Điên
này sẽ mở xích xiềng - Dắt dìu bá tánh gần miền Tiên bang - Không
ham danh lợi giàu sang - Mong cho bá tánh được nhàn tấm thân".
(dòng 31 tới 34, trang 31)
Luận giải:
Người
chỉ dẫn cho dân thấy rõ
việc tội phước để tránh dữ làm hiền, biết sửa tánh rèn lòng đi vào
Phât đạo hầu sớm thoát khỏi cảnh khổ ở thế gian. Chủ ý của
Người là mong sao tất cả người đời được sống an vui, thong
thả, biết tha thứ và thương yêu nhau, không còn hận thù, không có
đau khổ chia ly, chớ nào phải Người ham muốn danh lợi với
sang giàu.
Nghĩa chữ khó:
Nhàn: thong thả,
rảnh rang, không có việc gì phải lo nghĩ.
***
56.-"Thường
về chầu Phật tấu trần - Cầu xin Phật Tổ ban lần đức ơn - Nay đà
bày tỏ nguồn cơn - Cho trong trần hạ thiệt hơn tỏ tường".
Luận giải:
(dòng
35 tới 38, trang 31)
Người
thường về chầu Phật tâu
trình việc trần gian, và cũng cầu xin Phật Tổ ban ơn đức cho chúng
sanh, nay Người thuật lại rõ ràng cho thế nhân hay biết.
Nghĩa chữ khó:
Tấu hay
tâu là thưa trình, báo cáo, tiếng
chỉ dùng với Trời, Phật, vua, chúa.
Trần: bày tỏ, nói
rõ ra.
Tấu trần là tâu
trình rõ ràng các sự việc.
Chầu: hầu bên
cạnh Phật, Tiên hay vua, chúa.
Đức: hay tha thứ,
vui vẻ giúp đỡ, đối xử tốt với mọi người.
Ơn: ban tình
thương yêu, ban lợi ích cho người bằng lòng thành thật, vui vẻ,
Ban đức ơn: cho
ơn huệ từ lòng thương.
Nguồn cơn: đầu
đuôi gốc ngọn, đầy đủ lý do của sự việc.
Thiệt hơn: nghĩa
thông thường là tính toán, cân nhắc kỹ về mặt lợi hay hại. Một
nghĩa khác là dùng lời lẽ có tính cách hơn thua, gay cấn trong lúc
giận nhau. Nghĩa ở đây là nói rõ ràng ra không thêm không bớt
-- *** --
57.-"Phật,
Trời thấy khổ thời thương - Muốn cho lê thứ thường thường làm nhơn
- Đừng ham tranh đấu thiệt hơn - Tu niệm chớ sờn uổng lắm dân ôi".
(dòng 1 tới 4, trang 32)
Luận giải:
Phật, Trời thấy dân khổ thì thương, muốn sao người
đời ăn ở hiền, biết thương yêu, biết tha thứ, giúp đỡ, dìu dắt
nhau vào Phật đạo, bởi đạo Phật vì an vui hạnh phúc của chúng sanh
mà ra đời. Đừng vì danh lợi mà tranh giành hơn thua gây tổn hại và
đau buồn cho nhau. Suy nghĩ kỹ sẽ thấy kiếp sống con người như
giấc mộng ngắn, mới sanh ra chẳng mấy chốc đã lưng mỏi gối dùn rồi
chết. Như vậy, tại sao không tìm tu để vượt thoát mấy chặng đường
sanh tử, mà cứ lăn lộn mãi trong biển trần khổ có phải đáng tiếc
lắm không !.
Nghĩa chữ khó:
Làm nhơn: làm
lành, thương và giúp đỡ người nghèo khổ, tai nạn; đối xử tốt với
mọi người.
Tranh đấu: ra sức
giành phần hơn cho mình.
Niệm:
xin xem số 8 và12.
Chớ sờn: không
hao mòn; bền lòng, không thối chí.
-- *** --
58.-"Hồng
trần biển khổ thấy rồi - Rán tu nhơn đạo cho tròn mới hay - Đừng
ham nói đắng nói cay - Cay đắng sau này đau đớn,
sầu bi - Tu hành tâm trí rán trì - Sau này sẽ thấy việc gì trên
mây ".
(dòng 5 tới 10, trang 32)
Luận giải:
Biết đời là biển khổ,
nhưng trước khi dứt bỏ chuyện thế trần tìm đường vượt thoát những
hệ lụy về Sanh - Lão - Bịnh - Tử, ta phải tròn đạo làm người. Với
tín đồ PGHH là đáp đền xong Bốn ơn lớn, tức TỨ ÂN,
cũng như muốn làm giàu đừng để thiếu nợ. Người tu, hiểu biết Đạo
không nói lời lẽ làm khó chịu, đau lòng người nghe; ta nói nặng
người, không lẽ người để yên; mà ta cũng sẽ buồn và đau lòng khi
phải nghe người mắng chưởi. Bởi vậy, nên mở rộng lòng tha thứ cho
nhau, rán bền dạ tu hành, giữ tâm trí luôn trong sáng, thẳng ngay,
ngày sau sẽ thấy nhiều điều hay việc lạ.
Nghĩa chữ khó:
Hồng trần: bụi
hồng, bụi cát đỏ hồng. Chỉ cõi đời, nơi con người đang sống.
Biển khổ: theo
nhà Phật, đời là biển khổ, là nhà tù lớn.
Nhơn đạo: đạo làm
người -
Xin xem tiếp Đạo hằng số 159.
Nói đắng nói cay:
nói những lời làm đau lòng người nghe.
Sầu bi: lòng lo
rầu, buồn bực.
Tâm trí rán trì:
cố gắng dùng tim óc bền lòng học Đạo.
Phụ giải:
Hệ lụy: những
vướng mắc, ràng buộc.
-- *** --
59.-"Đừng
làm tàn ác ham gây - Sẽ có người này cứu vớt giùm cho - Dương trần
lắm chuyện đôi co - Phải dẹp vị kỷ mà lo tu hành".
Luận giải:
(dòng
11 tới 14, trang 32)
Trong đời sống hằng
ngày, nếu không khéo đối xử dễ gây hiểu lầm làm buồn lòng nhau.
Khi đối xử tốt với người, dĩ nhiên mình sẽ được sự giúp đỡ trả lại
khi mình có việc cần. Rán nghe mấy lời chỉ dạy này, đừng ham gây
sự và quên cái ta trong việc tu hành.
Nghĩa chữ khó:
Tàn ác:
xin xem số 48.
Ham gây: hay cự
nự, luôn tìm lời lẽ chọc tức người.
Đôi co: cự nự,
tìm lý lẽ cãi nhau.
Vị kỷ: chỉ biết
có mình, lo riêng cho mình.
-- *** --
60.-"Kệ
kinh tưởng niệm cho sành - Ngày sau thấy Phật đành rành chẳng sai
- Lúc này thế giới bi ai - Chẳng nói vắn dài Phật nọ tức tâm".
Luận giải:
(dòng 15 tới 18, trang 32)
Mỗi chúng sanh đều có
tánh Phật, chưa thấy tánh Phật vì tâm ta còn mê muội. Nên hiểu đạo
Phật là đạo giác ngộ, có sáng suốt mới thấy được tánh Phật của
mình, đó là giác ngộ. Muốn được giác ngộ người tu Phật phải giữ
lòng trong sáng, tâm ý tĩnh lặng trí huệ mới phát sinh. Trí huệ
bừng sáng là mê muội tan biến, Phật tánh hiển lộ. Đấy, Phật ở lòng
ta, đừng mất công tìm kiếm đâu xa. Người đời đang sống trong đau
khổ chỉ vì Tham - Sân - Si che mờ tâm trí mới bị nghiệp ác cuốn
lôi. Muốn cuộc sống an vui thanh thản hãy tìm vào Phật đạo.
Nghĩa chữ khó:
Kệ:
những bài thi ca kể công đức Phật, Bồ Tát.
Kinh:
những bài Đức Phật giảng giải về đạo lý được chư đệ tử gom kết
lại.
Tưởng: suy nghĩ ý
nghĩa lời Phật dạy, nhớ trong trí công đức Ông Bà, Cha Mẹ.
Niệm: Niệm
Phật -
xin
xem lời giải số 8 và 12.
Cho sành: hiểu,
biết rõ ràng rành rẽ.
Đành rành: rành
rẽ, rõ ràng.
Thế giới: chỉ
chung các nước trên mặt đất.
Bi ai: trong tình
cảnh thật buồn, thật đau khổ.
Phật tức tâm: Phật ở lòng mình, lòng lành là Phật, lòng nuôi nghĩ điều xấu ác là
quỉ ma.
-- *** --
61.-"Mấy
lời khuyên nhủ chẳng lầm -Từ đây đạo hạnh được mầm thanh cao -
Hồng trần lao khổ xiết bao - Khuyên trong lê thứ bước vào đường tu".
(dòng 19 tới 22, trang 32)
Luận giải:
Cuộc đời ngày càng nhiều
khó khăn, người khôn nên khép mình tu học theo chánh Đạo, giữ gìn
nếp sống đứng đắn, ngay thật. “Thiện tự tâm sanh, ác tự tâm
sanh, quay đầu lại là bờ giác ”, theo lời Phật dạy sửa tánh
răn lòng chắc chắn sẽ hưởng được những ngày thong thả an vui còn
được đời kính trọng. Mấy lời khuyên nhủ này không sai đâu.
Nghĩa chữ khó:
Khuyên: nói dịu
dàng khiến người vui vẻ nghe và làm theo ý mình.
Khuyên nhủ: nhắc
nhở, chỉ dạy nhưng không bắt buộc.
Đạo: đường tu học
của tôn giáo.
Hạnh: tánh nết
tốt, lối cư xử đẹp.
Đạo hạnh: người
tu giữ đúng luật Đạo, siêng học hỏi kinh điển, làm lành tránh dữ,
biết tha thứ, giúp đỡ và đối xử tốt với người; trọng tánh mạng
sanh vật.
Mầm: chồi non từ
hột giống mới mọc; nhánh non nhô ra từ thân cây.
Thanh cao: đẹp
quý, lịch sự, trong sạch.
Hồng trần:
xin xem số 58.
Lao khổ xiết bao:
quá cực khổ, không thể nói hết được.
-- *** --
62.-"Xưa
nay đạo hạnh quá lu - Ngày nay sáng tỏ đền bù ngày xưa - Mặc tình
kẻ ghét người ưa - Điên chẳng nói thừa lại với thứ dân".
Luận giải:
(dòng 23 tới 26, trang 32)
Bấy lâu nay đạo Phật bị
thế nhân hiểu lầm do một số người mặc áo nhà tu làm điều tồi tệ,
giờ đây chúng ta nên xoá bỏ hình ảnh hư xấu ngày xưa, cùng nhau
góp công chấn chỉnh, truyền bá rộng rãi cho người đời hiểu biết
mục đích cứu khổ của đạo Phật. Mặc tình dương trần ưa hay ghét, ý
nghĩ và việc làm này của Người chắc chắn không sai.
Nghĩa chữ khó:
Không nói thừa:
không nói dư; không nói điều vô ích.
Thứ dân:
chỉ chung những người dân không có chức quyền trong nước.
 (Xem Tiếp
LG3) |