DẪN
NHẬP VĂN HOÁ GIA Đ̀NH VIỆT NAM
GS. Trần Văn Cảnh
I : Khái niệm về
Văn hoá : Văn hiến và Văn vật
Lời mở đầu
Toàn cầu hoá là một hiện tượng văn hoá mới xuất hiện từ hậu bán
thế kỷ XX, và đă được những nhà tư tưởng và chiến thuật ư thức,
chú ư nghiên cứu và đưa ra những giải quyết. Sức mạnh chinh phục
của nó làm nhiều người lo sợ. Sức mạnh này có thể là vũ khí, như
trường hợp chiến tranh thuộc địa trước đây ở các nước Á Phi hay
chiến tranh ‘văn hoá‘ hiện nay ở Trung Đông : Afghanistan, Irak.
Nhưng chủ yếu sức mạnh của nó có tính cách chinh phục, dựa vào kỹ
thuật tân tiến, tiền bạc, tiện nghi. Một trong những phản ứng là
hô hào tẩy chay ‘Toàn cầu hoá‘. Phản ứng này xuất hiện trong lănh
vực kinh tế chính trị, dùng những lư luận kinh tế chính trị và dựa
vào những tổ chức kinh tế, nghiệp đoàn, chính trị. Phản ứng thứ
hai chủ yếu do những nhà tư tưởng và văn hoá đề xướng, dùng những
lư luận và phương tiện văn hoá để hoá giải ‘Toàn cầu hoá‘. Nền
tảng của phản ứng văn hoá này đặt trên nhân cách, có nhân vị cá
biệt và có giáo dục độc đáo của mỗi người. Nhân cách cá nhân này
được tạo h́nh từ một nếp sống văn hoá, có lịch sử và có cộng đồng
của một dân tộc, một quốc gia. Một khi nhân cách và văn hoá vững
chắc, không có ǵ phải sợ nữa, v́ cá nhân đă tự làm chủ, dân tộc
và quốc gia đă tự lập và tự cường. Phương cách quan trọng là bồi
bổ nhân cách cá nhân và bồi dưỡng văn hoá dân tộc, bằng các phương
tiện văn hoá, như giáo dục, văn học, văn nghệ,.. Bị trị, lệ thuộc,
nghèo đói không đáng sợ bằng vong thân, vong bản !
Chiều hướng văn hoá này đang được khắp các quốc gia Á, Âu cổ vơ và
áp dụng. Các cộng đoàn Việt Nam, quốc nội cũng như hải ngoại, đều
đang đề xướng, phát triển và áp dụng chiều hướng văn hoá này, mà
một trong những lănh vực đắc ư là gia đ́nh. Đây cũng là điểm quan
tâm lớn của Giáo Hội và đặc biệt là Giáo Hội Việt Nam. Các thư
chung của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, và đặc biệt là thư chung
ngày 17/10/1998 và thư chung ngày
11/10/2002[[1]]
đă nhấn mạnh nhiều đến ‘Hôn nhân và Gia đ́nh’ và đưa ra một kết
luận chung là ‘Tương lai của nhân loại sẽ đến qua Gia đ́nh’. Như
vậy văn hoá gia đ́nh, và văn hoá gia đ́nh Việt
Nam quả là quan trọng cho nhân loại và cho người Việt Nam.
Cụ thể, trong đề tài ‘Dẫn nhập vào Văn Hoá Gia đ́nh Việt Nam’ này,
có lẽ câu hỏi chính yếu mà bạn đọc muốn đặt ra và muốn t́m được
câu trả lời là ‘Văn hoá gia đ́nh Việt Nam có những nét nào là
chính yếu ?’ Câu trả lời chủ yếu sẽ giới thiệu nội dung của văn
hoá gia đ́nh Việt Nam, qua hai tính chất quan trọng của văn hoá :
tính chất biến chuyển theo lịch sử, môi trường và tính chất tổ
chức hữu cơ, theo đó, nhận thức, tổ chức và ứng xử là ba chức năng
quan trọng. Nhưng trước đó, một khái niêm về văn hoá là điều cần
thiết phải được xác định. Nói như vậy là cố ư mời bạn đọc đi vào
đề tài ‘Dẫn nhập vào Văn Hoá Gia đ́nh Việt Nam’ qua những mục sau
đây :
- Khái niệm về Văn hoá : Văn hiến và Văn vật
- Khái niệm về Văn hoá : Chữ Văn hoá dịch từ chữ ‘Culture’
- Tính chất biến chuyển và hữu cơ của Văn hoá Gia đ́nh Vệt nam.
- Những nhận thức quá khứ về gia đ́nh c̣n được bảo tồn.
- Những nhận thức hiện tại về gia đ́nh đang xung đột.
- Những tổ chức quá khứ về gia đ́nh c̣n đươc bảo tồn
- Những tổ chức mới đang xâm nhập và gây xung đột.
- Những ứng xử đang được thiết kế về gia đ́nh
- Những nét chính yếu của văn hoá gia đ́nh Việt Nam
Khái niệm về văn hoá : Văn hiến và văn vật
Trong cụm từ Văn Hoá Gia Đ́nh Việt Nam, có từ Văn Hoá. Từ này là
đối tượng chính yếu của bài khảo luận. Bởi vậy việc xác định ư
nghĩa của nó là tiên quyết quan trọng. Văn hoá là gi ? Nó có ư
nghĩa ǵ trong ngôn ngữ thường nhật ? Nó gốc từ đâu ra ? Nó bao
hàm những ǵ ? Nó liên hệ đến ai ?
11. Trong ngôn ngữ thường ngày, từ ‘Văn hoá ‘ bao gồm bốn ư nghĩa
chính sau đây. Trước nhất, chữ văn hoá ám chỉ một tŕnh độ học
hành. Trong các giấy tờ, khi hỏi đến tŕnh độ văn hoá, là hỏi đến
mức độ học vấn ở trường học : tŕnh độ tiểu học, trung học, tú tài,
cử nhân,..Chữ văn hoá ở đây thường đồng nghĩa với cấp học hay học
vị. Trong các câu truyện, khi đề cập đến văn hoá của một người,
chữ văn hoá có thể ám chỉ mức độ hiểu biết, tŕnh độ suy lư và giá
trị lễ giáo hoặc kết quả của mức độ hiểu biết, suy nghĩ và lễ giáo,
biểu lộ qua cách cư xử, cách ăn nói hay qua các công tŕnh, tác
phẩm làm ra. Khi ta bảo ông này có chức vị cao, nhưng văn hoá yếu
lắm, bộ đội ở rừng ra ấy mà, là ta hiểu văn hoá theo nghĩa này. Đó
là ư nghĩa thứ hai của từ văn hoá. Cùng trong chiều hướng của ư
nghĩa thứ hai này, một ư nghĩa thứ ba cũng thường được hiểu trong
từ văn hoá. Khi đề cập đến văn hoá của một cộng đoàn, của một dân
tộc, chữ văn hoá nhiều khi ám chỉ mức độ văn minh của dân tộc ấy.
Những kiểu nói ‘văn hoá thô sơ, văn hoá tân tiến, văn hoá kỹ nghệ’
là hiểu văn hoá theo mức độ văn minh này. Từ đó, một Ỷ nghĩa thứ
tư của từ văn hoá đă được dùng trong tổ chức hành chánh để ám chỉ
công việc của bộ văn hoá, bộ văn hoá giáo dục, bộ thông tin văn
hoá, Chữ văn hoá ở đây ám chỉ những công tŕnh hoặc những công
việc liên hệ đến văn nghệ, văn học, nghệ thuật,.. như thư viên,
viện bảo tàng, nhà hát, kịch ảnh, kiến trúc, báo chí, đền đài,
miếu đ́nh,..
12. Cả bốn ư nghĩa này đều chỉ là những ư nghĩa có tính cách phiến
diện và bộ phận của từ ‘văn hoá‘, không phải là ư nghĩa toàn bộ mà
ta sẽ dùng đến để nghiên cứu về ‘Văn hoá gia đ́nh Việt Nam’. Trong
bốn ư nghĩa thông thường hàng ngày này của từ văn hoá, tiềm ẩn dấu
tích của văn học chữ hán, trong đó từ văn hiến được dùng nhiều hơn.
Trong sách Luận Ngữ, thiên Bát Dật, đức Khổng Tử nói ‘Hạ lễ, ngô
năng ngôn chi. Kỷ bất túc trưng giă. Ân lễ, ngô năng ngôn chi.
Tống bất túc trưng giă. Văn hiến bất túc cố giă. Túc tắc ngô năng
trưng chi hỹ ‘ (Ta có thể giảng lễ nhà Hạ. Nhưng ḍng dơi nhà Hạ
hiện nay làm vua chư hầu nước Kỷ chẳng c̣n giữ lễ ấy nữa, nên
không có thể chứng chắc lời giảng của ta. Ta có thể giảng lễ nhà
Ân. Nhưng con cháu nhà Ân hiện nay làm vua chư hầu nước Tống chẳng
c̣n giữ lễ ấy nữa, nên không có thể chứng chắc lời giảng của ta.
Ấy v́ văn thơ và người hiền (văn hiến) không c̣n nữa. Phải c̣n đủ
th́ ta lấy đó làm bằng chứng[[2]]). Văn hiến như vậy hàm chứa văn
học. Nguyễn Trăi (1384-1442) cũng đă hiểu chữ văn hiến theo nghĩa
‘các tư liệu thành văn từ xưa c̣n để lại‘ này của đức Khổng Tử,
nhưng nới rộng hơn và đặc biệt nhấn mạnh đến khía cạnh ‘tổ chức xă
hội ‘, có hàm ư ‘văn vật’, người tài giỏi. Trong bài ‘B́nh Ngô đại
cáo‘, ông viết ‘Ngă Việt tố xưng văn hiến’ (Nước Việt ta vốn xưng
là nước văn hiến) và để chứng minh điếu ấy, ông đưa ra bốn lư do
sau đây : 1. có lịch sử ‘Kể từ Triệu, Đinh, Lư, Trần mấy đời gây
dựng ra nước’; 2. có tổ chức và biên cương ‘So với Hán, Đường,
Tống, Nguyên, mỗi đàng làm đế một phương’; 3. có nhân nghĩa để trị
dân ‘việc nhân nghĩa cốt nhứt ở yên dân’; 4. có quân đội để trừ
bạo ‘quân điếu phạt không ǵ bằng trừ bạo‘[[3]]. Đến Lê Quí Đôn
(1726-1781) th́ từ ‘văn hiến’ bao gồm cả hai ư nghĩa trên ‘Ngă
quốc hiệu vi văn hiến, thượng nhi đế vương, hạ nhi thần thứ, mạc
bất các hữu trừ thuật’ (Nước ta gọi là nước văn hiến, (nghĩa là
nước có văn hoá, có sách vở), trên từ vua chúa, dưới đến các quan
cùng nhân dân, đều có biên soạn sách vở)[[4]]. Người kế thời với
Lê Quí Đôn là Phan huy Chú (1782-1840) cũng hiểu từ ‘văn hiến’
theo hai nghĩa này khi ông viết ‘Nước Việt Nam ta, được gọi là
nước giữ lễ đă hơn ngàn năm nay : vốn có sách vở đă từ lâu lắm. Kể
từ Đinh, Lê dựng nước ngang hàng với Trung Hoa, mệnh lệnh từ
chương dần dần rơ rệt. Đến Lư, Trần nối trị, văn vật mở mang. Về
tham định th́ có những sách điển chương điều luật; Về ngự chế th́
có các thể chiếu, sắc, thi ca. Trị b́nh đời nối, văn nhă đủ điều.
Huống chi nho sĩ đời nào cũng có, văn chương nẩy nở như rừng; sách
vở ngày càng nhiều, nếu không trải qua binh lửa mà hoá tro tàn,
th́ hẳn là trâu kéo mồ hôi phải toát, nhà chất đầy dẫy ngang xà.
Đến khi nhà Lê dựng nước, văn hoá lại càng thịnh dần, hơn ba trăm
năm, chế tác đầy đủ kỹ càng, văn hiến đứng đầu trung châu (Trung
quốc), điển chương rộng cả thời đại ‘[[5]].
Chữ ‘văn hiến’ như vậy cũng chỉ diễn tả được một phần chứ chưa
toàn thể ư nghĩa của chữ ‘văn hoá‘.
Nói đến ‘Văn hoá Gia Đ́nh Việt Nam’, là nói đến cách sinh hoạt của
mọi người Việt Nam trong lănh vực gia đ́nh, bất kể tŕnh độ cao
thấp, học vị lớn nhỏ, bất kể tư cách có lễ giáo hay không, bất kể
có hay không công tŕnh để lại, bất kể văn minh thô sơ hay tân
tiến, nông nghiệp hay kỹ nghệ, bất kể là Phật tử, Kytô hữu hay
Cộng sản. Nói đến ‘Văn hoá Gia Đ́nh Việt Nam’, cũng là nói đến mọi
sinh hoạt, dưới nhiều dạng thức khác nhau, có những sinh hoạt sách
vở, nặng tính chất tri thức, văn học, nhưng không chỉ có thế; có
những sinh hoạt xă hội, nặng tính chất tổ chức hành chánh, nhưng
không chỉ có thế; có những sinh hoạt chính trị, nặng tính chất
quốc gia văn vật, nhưng không chỉ có thế; có nh ững sinh hoạt đă
qua của quá khứ, nhưng không chỉ có thế,... Ư nghĩa của chữ Văn
Hoá trong Văn Hoá Gia Đ́nh rộng hơn ư nghĩa của chữ Văn Hoá ta
dùng hằng ngày và rộng hơn các chữ Văn học, Văn hiến, Văn vật ta
đọc trong Văn học chữ Hán.
2 : Khái niệm về Văn hoá :Chữ Văn hoá dịch từ chữ ‘Culture’
Trong thời Pháp thuộc (1862-1954), nước Việt Nam ta chịu ảnh hưởng
nặng nề văn hoá Âu châu, trong đó một nền văn học mới đă được khai
sinh, văn học quốc ngữ. Nhiều khái niệm mới từ văn hoá Âu Châu
cũng dần dà xâm nhập vào Văn Hoá Việt
Nam.
Một trong những khái niệm đó là khái niệm ‘Văn Hoá ‘. Khái niệm
này chiếm một vai tṛ quan trọng trong tranh luận về văn hoá và
thiên nhiên mà nhiều triết gia Âu Châu đă đề cập đến. Người Việt
ta đă bắt chước người Nhật và người Tầu dùng chữ ‘văn hoá’ để dịch
chữ ‘culture‘ của Âu Châu.
21. Trong cuốn ‘ Văn hoá và đức tin’[[1]], tôi đă đề cập đến ư
nghĩa của chữ ‘culture ‘ mà ta có thể gợi lại như sau : ‘Chữ
‘culture’ của pháp, từ rất xưa và từ rất lâu, vẫn được dùng để
biểu thị một thực tại xă hội cao, dành cho giới khoa bảng trí thức,
giới nghệ sĩ chính chuyên, giới quan chức quí tộc.
Ư nghiă này của chữ văn hoá đă được Cicéron (106-45 trước tây lịch)
dùng để chỉ những hoạt động ‘triết học’ đào tạo và giáo dục tâm
hồn con người. Từ thời Trung cổ, nhều tác gia, như Erasme, Thomas
More, Francis Bacon, Fénélon, J.J. Rousseau, Voltaire,. .dùng chữ
văn hoá để ám chỉ những hoạt động tri thức và văn học[[2]].
Tóm lại, chữ văn hoá bao gồm những hoạt động và những tác phẩm của
những người học cao, tài lớn, tiền nhiều, chức cả. Theo quan niệm
này, nói đến văn hóa Hy lạp, người ta nghĩ ngay đến văn hóa Hy lạp
thời Platon, Aristote; Nói đến văn hóa La mă, người ta lộn ngay
với văn hoá La mă thời Auguste; Nói đến văn hóa Anh quốc người ta
nghĩ ngay đến văn hóa thời nữ hoàng Elizabeth, nói đến văn hóa
Pháp, người ta nghĩ ngay đến văn hóa Pháp thế kỷ Ánh Sáng XVIII.
Giản tiện hơn, trên phương diện địa lư, văn hóa Anh thường được
đồng hóa với văn hóa Luân đôn, văn hóa Pháp với văn hóa Paris, văn
hóa Việt Nam với sinh hoạt ở Hà Nội.
Cách hiểu này về chữ ‘văn hóa’ quá hạn hẹp. Nó chỉ bao gồm có văn
học nghệ thuật, với những tác giả nổi tiếng, với những nghệ sĩ tài
cao. Nó lẫn một phần với toàn thể. Nó lẫn
Paris
với Pháp. Nó lẫn Hà Nội với Việt
Nam.
Ba khoa học mới, dần dà xuất hiện : nhân loại học (Anthropologie),
nhân chủng học (Ethnologie) và xă hội học (Sociologie) đă dọi ánh
sáng vào những khía cạnh mới của ‘văn hóa’.
Giá trị nhận thức của những sự kiện b́nh nhật, b́nh dân, thông
thường, tự nhiên, vô nghĩa... đă được tỏ rơ. Bây giờ người ta ư
thức rằng cách ăn uống, ngủ nghỉ của người dân quê Pháp ở thế kỷ
XVII cũng dậy cho chúng ta hiểu về văn hóa Pháp không kém ǵ cuốn
‘Phương pháp luận’ của Descartes..
Một quan niệm mới dần dà đă được thành h́nh. Ngay từ thế kỷ XVII,
triết gia đức Samuel von Pufendorf (1632-1694) đă dùng chữ văn hoá
để biểu thị tất cả những ǵ không phải là tự nhiên, tức là tất cả
những ǵ mà con người làm ra hay học được trong xă hội, tóm lại
văn hoá là nhân tạo.
Vào cuối thế kỷ XIX, nhiều nhà nghiên cứu danh tiếng đă góp công
vào việc nới rộng ư nghĩa của chữ ‘văn hóa’ này : E.B. TYLOR, E.
DURKHEIM, K. MARX, C. LEVI-STRAUSS, M. MAUSS, B. MALINOWSKI, M.
WEBER, P. BOURDIEU, J.C. PASSERON,...
Một nghĩa thứ hai của chữ ‘văn hóa’ đă được thành h́nh, khai triển,
nghiên cứu và chấp nhận. Nó rộng hơn nghĩa thứ nhất. Nó bao gồm
tất cả những khía cạnh ‘văn’ vẻ đă góp phần giáo ‘hóa’ con người,
từ cách ăn uống, may mặc, cư trú, hành nghề, ngủ nghỉ, giao thiệp,
tín ngưỡng, suy tư, ăn nói, viết lách, cười tươi, khóc thảm. Văn
hóa là toàn thể những phong thái, gặp gỡ, hội họp, xă hội, liên
đới... Nó bao gồm tất cả những xử sự, kiến thức, biểu lộ của con
người, b́nh dân cũng như bác học, từ báo chí, sách vở, đến thảo
luận, xuất bản, thư liệu, kiến trúc, nhạc kịch, hát ca... Tất cả
những ǵ mà con người, dưới khía cạnh là một sinh vật xă hội, biểu
lộ và sản xuất ra, cũng như tất cả những ǵ mà nó học được từ các
thế hệ trước, cũng như những ǵ mà nó truyền lại cho các thế hệ
sau đều là văn hóa cả. Chữ ‘văn hóa’, như vậy, hàm chứa tất cả
những hành động và nghiên cứu, không chỉ giới hạn vào văn học và
văn nghệ, mà c̣n nới rộng cả vào những lănh vực giáo dục, xă hội,
tôn giáo... nữa.
Ư nghiă này của chữ văn hoá thực ra đă được văn sĩ Đức J. G.
Herder (1744-1803) sáng tạo và xử dụng ngay từ thế kỷ Ánh Sáng để
chỉ ’Một h́nh thức sinh sống của một dân tộc, một quốc gia, một
tập thể’. Nhưng người đàu tiên đă đưa ra một định nghiă đầy đủ cho
chữ văn hoá là nhà nhân chủng học người Anh, E.B. TYLOR
(1832-1917) khi cho in tác phẩm ’Văn hoá sơ khai’ vào năm 1871.
Theo Tylor th́ văn hoá là ‘Cái tổ hợp bao gồm kiến thức, tín
ngưỡng, nghệ thuật, luật lệ, phong tục và tất cả những h́nh thức,
tập quán mà con người có được trong một xă hội’[[3]].
22. Trong chiều hướng ư nghĩa của chữ ‘văn hoá ‘ dịch từ chữ
‘culture‘[[4]], Đào Duy Anh, người Việt Nam đầu tiên t́m hiểu về
văn hoá Việt Nam, đă ấn hành tập sách ‘Việt Nam Văn hoá sử cương’[[5]]
vào năm 1938.
Trả lời câu hỏi ‘Văn hoá là ǵ ?’, Đào Duy Anh viết : ‘Người ta
thường cho rằng văn hoá là chỉ những học thuật tư tưởng của loài
người, nhân thế mà xem văn hoá vốn có tính chất cao thượng đặc
biệt. Thực ra không phải như vậy. Học thuật tư tưởng cố nhiên là ở
trong phạm vi của văn hoá nhưng phàm sự sinh hoạt về kinh tế, về
chính trị, về xă hội cùng hết thảy các phong tục tập quán tầm
thường lại không phải là ở trong phạm vi văn hoá hay sao ? Hai
tiếng văn hoá chẳng qua là chỉ chung tất cả các phương diện sinh
hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng : Văn hoá là sinh
hoạt’[[6]].
Ư tưởng này của Đào Duy Anh về văn hoá đă được dựa theo ư tưởng
của Félix SARTIAUX tŕnh bày trong cuốn ‘La Civilisation’. Trong
lời ‘Tựa‘ Đào Duy Anh đă xác định rơ rệt điều ấy khi ông viết :
Quyển sách bỉ nhân soạn đây chỉ cốt hiến một mớ tài liệu cho những
người quan tâm về điều thứ nhất, là muốn ôn lại cái vốn văn hoá
của nước nhà, chứ không có hy vọng ǵ hơn nữa.
Theo giới thuyết của Félix Sartiaux th́ ‘Văn hoá về phương diện
động, là cuộc phát triển tiến bộ mà không ngừng của những tác dụng
xă hội về kỹ thuật, kinh tế, tư tưởng, nghệ thuăt, xă hội tổ chức,
những tác dụng ấy tuy liên lạc mà vẫn riêng nhau. Về phương diện
tĩnh th́ văn hoá là trạng thái tiến bộ của những tác dụng ấy ở một
thời gian nhất định, và tất cả các tính chất mà những tác dụng ấy
bày ra ở các xă hội loài ngườĩ ‘.
Bỉ nhân biên sách này, cũng dựa theo giới thuyết của Félix
Sartiaux mà chia đại khái ra ba bộ phận như sau này : 1- Kinh tế
sinh hoạt, 2- Xă hội sinh hoạt, 3- Trí thức sinh hoạt.
Đối với mỗi vấn đề bao hàm trong ba bộ phận ấy, bỉ nhân gắng biên
chép rơ ràng con đường diên cách xưa nay cho đến trạng thái hiện
tại, thản hoặc có chỗ sơ lậu là bởi tài liệu c̣n thiếu, chưa có
thể t́m ra’[[7]]
Qua những lời biện bạch trên, cũng như F. Sartiaux, Đào Duy Anh
không phân biệt cách biệt giữa hai khái niệm ‘văn hoá ‘ và ‘văn
minh’. Tác phẩm mà Đào duy Anh dựa vào không dùng chữ ‘culture’ (văn
hoá), nhưng dùng chữ ‘civilisation’ (văn minh). Và nét độc đáo
khác nữa của tư tưởng về văn hoá của Đào Duy Anh là văn hoá chỉ là
‘Một mớ tài liệu cho những người quan tâm về điều thứ nhất, là
muốn ôn lại cái vốn văn hoá của nước nhà ‘.
23. Trong chiều hướng mở rộng ra với bên ngoài và qua một phong
trào bột phát, văn hoá đă là một đề tài được nghiên cứu rộng lờn
từ ba chục năm nay, từ 1975. Việt kiều ở nước ngoài, trực tiếp
sống trong môi trường văn hoá Âu Mỹ, có dịp và có tự do, cảm nhận
nhu cầu về nguồn đă lập ra nhiều mạng tin học về văn hoá[[8]].
Người việt trong nườc, được ổn định về kinh tế và chính trị, được
đi du học hoặc tu nghiệp ở nước ngoài, được giao lưu nhiều hơn với
bên ngoài nhờ các mạng lưới điện tử, đă rơ rệt ư thức tầm quan
trọng của văn hoá vượt trên giáo điều đảng phái, đă đề ra những
chương tŕnh học tập và nghiên cứu về văn hoá và đă dựng được
những tác phẩm đáng chú ư, như ‘Cơ sở văn hoá Việt Nam’[[9]] của
Trần Ngọc Thêm in từ năm 1991, ‘Văn hoá gia đ́nh Việt Nam’[[10]]
của Vũ Ngọc Khánh in năm 1998, ‘Hành tŕnh văn hoá Việt Nam’[[11]]
của Đặng Đức Siêu in năm 2002. Hai trong ba tác giả vẫn c̣n theo
chiều hướng quá khứ và lẫn lộn văn hoá văn minh, kiểu Đào Duy Anh.
Một chiều hướng mới về nghiên cứu văn hoá đă được Trần Ngọc Thêm,
cựu sinh viên ngữ văn tại Nga và hiện là giáo sư văn hoá học ở
thành phố Hồ Chí Minh, đưa ra. Đó là tiếp cận cấu trúc và hệ thống,
theo đó văn hoá được nâng lên hàng khoa học và là đề tài nghiên
cứu của khoa học văn hoá (Culturologie, The science of
culture[[12]]). Và theo đó, ‘Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các
giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích kũy
qua quá tŕnh hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con
người với môi trường tự nhiên và xă hội’[[13]]. Dẫu rằng quan niêm
‘khoa học văn hoá ‘ là quan niêm về văn hoá mà các nước cộng sản
cũ ở Đông Âu đẩy mạnh để lưu nhiệm đạo quân giáo viên triết học
Mác Xít Lê Nin thời cộng sản, để bổ xung cho đội ngũ cán bộ quản
lư văn hoá, nhưng tiếp cận cấu trúc và hệ thống này về văn hoá
cũng là cập nhật hơn cả. Đây cũng là một dữ kiện chứng tỏ có giao
lưu văn hoá giữa Việt Nam và thế giới bên ngoài, trong đó vai tṛ
của ba triệu việt kiều hải ngọai thực là không thể chối căi được.
Qua những ư niêm và ư nghĩa khác nhau về văn hoá vừa tŕnh bày
trên đây, ta có thể bảo rằng : Văn hoá là một khái niêm phức tạp.
Một đàng văn hoá vẫn gần kề với nghệ thuật hơn là khoa học và kỹ
thuật. Đàng khác, với những khái niệm như ‘văn hoá khoa học’, ‘văn
hoá kỹ thuật’, văn hoá như đă hoà trộn vào khoa học và kỹ thuật.
Thêm vào đó, vẫn lưu luyến văn học, văn vật và văn nghệ, văn hoá
càng ngày càng đi vào đời sống b́nh dân thường ngày. Sau nữa, chưa
hoàn toàn dứt khoát thoát khỏi suy lư triết học, văn hoá rơ rệt đă
là đối tượng nghiên cứu có tính chất khoa học[[14]] và phương pháp,
có tiếp cận đa phương lịch sử, môi trường, kinh tế, chính trị,
nhân chủng, xă hội, tâm lư,... Và sau cùng văn hoá và văn minh vẫn
là một cặp liên kết quan trọng, v́ rằng : ‘Một sinh vật được tồn
sinh theo những yếu tố di truyền mà nó đă lănh nhận từ ḍng giống,
và được phát triển theo những yếu tố môi trường nơi nó cư ngụ. Nơi
con người, cái biểu lộ tổng hợp xă hội của hai yếu tố di truyền và
môi trường đó gọi là văn hóa. Cái biểu lộ tổng hợp xă hội của
những thành quả và sáng chế dụng cụ của hai yếu tố đó gọi là văn
minh. Văn hóa được biểu lộ nhiều ở tính t́nh, cách sống và sinh
hoạt của một xă hội. Văn minh được xác định bởi những dụng cụ, di
vật, công tŕnh mà xă hội ấy sáng chế, sản xuất và xây dựng nên.’[[15]]
Từ những nhận định trên, định nghĩa sau đây về văn hoá sẽ được xử
dụng để dẫn nhập vào văn hoá gia đ́nh Việt Nam : ‘Văn hoá là một
hệ thống tổ hợp biểu lộ tác phong, bao gồm thiết kế nhận thức (cô
đọng trong tín ngưỡng, nghệ thuật, luật lệ, khoa học..), hành động
tổ chức (qui định trong chính trị, giáo dục, văn học, phong tục,
tập quán) và tất cả những cải tiến ứng xử (biểu lộ qua những h́nh
thức sinh sống) của tập thể con người sống thành xă hội. Cái tổ
hợp này biến chuyển theo thời gian và môi trường mà một trong
những tính chất độc đáo của nó là có hệ thống hữu cơ‘.
GS Trần Văn Cảnh
(Xin xem tiếp bài 3, 4, 5, 6, 7, 8 và 9)
--------------------------------------------------------------------------------
[1] Trần Văn Cảnh; Cây văn hoá Việt Nam trồng tại Giáo xứ Paris’
trong ‘Văn hoá và Đức tin’ Paris : Giáo xứ Việt Nam Paris; 2004,
tr. 510-511
[2] -Grand Larousse universel avec actualia, Paris : Larousse;
1987, tr 2839
-FERREOL Gilles et JUCQUOIS Guy; Dictionnaire de l’altérité et des
relations interculturelles; Paris : Armand Colin; tr. 81 và tiếp
theo
[3] JOURNET Nicolas. La culture de l’universel au particulier;
Auxerre : Sciences humaines; 2002, tr. 11
[4] Thực ra tác phẩm mà Đào duy Anh dựa vào không dùng chữ culture
(văn hoá), nhưng dùng chữ civilisation (văn minh). Đó là cuốn ‘La
civilisation’ của F. Sartiaux.
[5] Đào duy Anh : Việt Nam văn hoá sử cương (1938)
[6] Đào duy Anh : sđd, tr. 13
[7] Đào duy Anh; sđd, tr.
VII-VIII
[8] Đặc biệt là Mạng lưới Dũng Lạc www.dunglac.net
[9] Trần Ngọc Thêm : Cơ sở văn hoá Việt Nam; Thành phố Hồ chí Minh,
Nhà xuất bản Giáo dục : tái bän lần thứ hai, 1999, 336 trang
[10] Vũ Ngọc Khánh : Văn hoá gia đ́nh Việt Nam; Hà nội, Nhà xuất
bản Văn hoá dân tộc, 1998, 304 trang
[11] Đặng Đức Siêu : Hành tŕnh văn hoá Việt Nam; Hà nội, Nhà xuất
bản Lao Động, 2002, 492 trang
[12] L. White : The science of Culture; New York, 1949
[13] Trần Ngọc Thêm, sđd, tr. 10
[14] Hiện nay một vài Đại học ở Pháp đă mở khoá tŕnh Cao học
chuyên biệt (5 năm đại học) về khoa học văn hoá.
[15] Trần Văn Cảnh, sđd, tr. 634
Bài 3 : Tính chất biến chuyển và hữu cơ của văn hoá gia đ́nh
Việt
Nam
Trong định nghĩa mà ta vừa nêu ra trên đây, một bản chất nội dung
rơ rệt về văn hoá đă được đưa ra. Nội dung này ‘là một hệ thống tổ
hợp biểu lộ tác phong, bao gồm kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật,
luật lệ, giáo dục, văn học, phong tục, tập quán và tất cả những
h́nh thức sinh sống của tập thể con người sống thành xă hội’. Cũng
trong định nghĩa này, hai tính chất căn bản của văn hoá đă được
xác định, ‘tính chất biến chuyển theo thời gian và môi trường’ và
‘tính chất hệ thống hữu cơ‘.
31. Áp dụng vào lănh vực gia đ́nh, trong tính chất thứ nhất, tức
là ‘tính chất biến chuển theo thời gian và môi trường’, văn hoá
gia đ́nh Việt Nam có chiều hướng quá khứ, hiện tại và tương lai.
Trong chiều hướng quá khứ, văn hoá gia đ́nh hay được tŕnh bày
trong những truyền thống. Trong hiện tại, nó được diễn giải qua
những xung đột đang xẩy ra. Có những xung đột đă dịu xuống v́
chiều thắng đă nghiêng hẳn về một phiá, như sự tách biệt dần dà
của tiểu gia đ́nh ra khỏi đại gia đ́nh, nam nữ b́nh đẳng,.. . Có
những xung đột mà mức độ xung khắc đang c̣n mạnh, như hôn nhân dị
chủng, dị giáo, ngừa thai, phá thai, ly dị, ly thân. Và qua những
xung đột đang diễn biến trong hiện tại, có lẽ những dự phóng tương
lai đă và đang được manh nha. Câu hỏi được đặt ra là ‘Đâu là những
biến chuyển, những đặc trưng mới của văn hoá gia đ́nh Việt Nam
trong tương lai ?’ Có lẽ những khảo cứu dân số, luật học, kinh tế,
nhân chủng, lịch sử, tâm lư, chính trị, xă hội,..sẽ soi sáng và
giúp t́m ra câu trả lời. Đó là vấn đề của tương lai, ta chưa nắm
được. Điều mà ta nắm được là văn hoá và văn hoá gia đ́nh biến đổi
theo một chu kỳ ba động tác : bảo tồn cái đă thu thập trong quá
khứ, đồng hoá có chọn lựa cái hiện tại và sáng tạo cái tương lai.
Ta có thể diễn tả tính chất biến hoá theo thời gian của hệ thống
văn hoá qua biểu đồ sau :
|
 |
|
Hệ thống văn hóa biến hóa theo thời gian và môi trường |
32. C̣n tính chất thứ hai, tức là ‘tính chất hệ thống hữu cơ‘, th́
văn hoá gia đ́nh Việt Nam, cũng như văn hoá nói chung, là một tổ
hợp gồm nhiều bộ phận liên lạc mật thiết và tùy thuộc lẫn lộn vào
nhau, trong đó ba bộ phận chức năng chính là thiết kế nhận thức,
hành động tổ chức và cải tiến ứng xử. Cái tổ hợp này không phải là
một trạng thái tĩnh, nhưng là một hệ thống hữu cơ sinh động, có
sinh, có tử, có phát triển, có suy tàn. Sự sinh động này tùy thuộc
rất nhiều vào môi trường và lịch sử tiến hoá của văn hoá. Xí
nghiệp có lẽ là một h́nh ảnh diễn tả đày đủ tính cách hệ thống hữu
cơ này của văn hoá. Do một nhận thức, xí nghiệp đă được thiết kế
để được tạo dựng. Các nhân viên, từ lănh đạo đến thừa hành, đều
đóng góp hành động, tạo thành ra những cơ quan, những nghiệp vụ
của xí nghiệp và tổ chức của xí nghiệp. Và tùy theo biến chuyển
của thị trường, xí nghiệp phải sáng tạo để cải tiến cách ứng xử.
T́m ra cách ứng xử và cải tiến cách ứng xử là giống như tạo ra một
xí nghiệp mới vậy. Và cứ thế chu kỳ thiết kế, hành động, cải tiến,
chu kỳ nhận thức, tổ chức, ứng xử xoay vần, trong đó các bộ phận
xí nghiệp cấu kết vào nhau để phát triển, lớn lên, hay lụi bại,
đóng cửa. Ta có thể mượn biểu đồ các tiến tŕnh tổng quát của xí
nghiệp để họa ra cái hệ thống hữu cơ của văn hoá như sau :
|
 |
|
Hệ thống hữu cơ văn hóa |
Kết hợp hai tính chất biến hoá theo thời gian và môi trường và hệ
thống hữu cơ của văn hoá, sau đây ta sẽ lần lượt xem xét nội dung
văn hoá gia đ́nh Việt Nam qua những điểm sau đây :
• Những nhận thức quá khứ về gia đ́nh c̣n được bảo tồn
• Những nhận thức hiên tại về gia đ́nh đang xung đột
• Những tổ chức quá khứ về gia đ́nh c̣n được bảo tồn
• Những tổ chức mới đang xâm nhập và gây xung đột
• Những ứng xử đang được thiết kế về gia đ́nh
• Những nét chính yếu của văn hoá gia đ́nh Việt Nam
Bài 4 : Những nhận thức quá khứ về gia đ́nh c̣n được bảo tồn.
41. Nhận thức gồm những dữ kiện đă thâu nhận, để biến thành tin
tức và tạo thành tri thức hoặc hệ thống tư tưởng. Trong lịch sử
văn hoá tổng quát của Việt
Nam[[1]],
năm trào lưu tư tưởng đă được thiết kế, tiếp cận, giao lưu và hội
nhập vào văn hoá và văn hoá gia đ́nh Việt
Nam.
Đó là hệ tư tưởng Âu Lạc, Hệ tư tưởng Ấn Phật, hệ tư tưởng Lăo
giáo, hệ tư tưởng Khổng giáo và hệ tư tưởng Âu Mỹ Thiên Chúa giáo.
Hệ tư tưởng Âu Lạc mang lại ba tư tưởng chủ yếu vun tưới tác phong
tập thể và cá nhân của người Việt Nam, mạch sống của văn hóa Việt
Nam.
Đó là mạch huynh đệ, tương thân tương trợ, khiến tất cả mọi người
Việt Nam đều nh́n biết nhau là đồng hương, đồng bào. Mạch ‘Đức giả
lạc sơn’ : người đức độ th́ ưa thích (và vững chắc như) núi, noi
theo tính chung thủy, đức độ của mẹ chung là Âu Cơ, ḍng dơi thần
tiên, đă dẫn 50 con lên núi, khiến sự tiếp đăi, giao thiệp luôn
được trên kính dưới nhường. Mạch ‘Trí giả lạc thủy’ : người mưu
lược th́ ưa thích (và biến báo như) nước, thừa hưởng được tính
thông minh, biến báo của cha chung là Lạc Long Quân, ḍng dơi rồng,
đă đưa 50 con xuống biển Nam Hải, khiến sự tiếp xúc được ḥa thuận
với từng người và ḥa hợp với môi trường chung quanh.
Hệ tư tưởng Ấn Phật với cái nh́n hư vô về thế giới; với tứ diệu đế
: khổ, dục, diệt, đạo, đă đưa cho người việt nam cách cư xử siêu
thoát với thế tục, xả kỷ với ḿnh, để từ bi với chúng sinh.
Hệ tư tưởng Lăo Trang tŕnh bầy cái gốc Đạo là nguyên ủy của sự
tạo hóa. Vạn vật đều bởi Đạo mà sinh ra. Văy, sửa ḿnh và trị nước
cần phải noi theo Đạo, phải điềm tĩnh, phải vô vi, phải tự nhiên,
không dùng trí lực. Tính hiếu ḥa, tính an nhiên của người Việt
Nam phải chăng bắt nguồn từ Đạo giáo ? Ngoài cái học thuyết cao
siêu về Đạo, về vô vi ấy nơi những bậc hiền triết, Đạo giáo c̣n
được phổ biến nơi kẻ b́nh dân với những cái dị đoan mê tín, những
thuật tướng số, phù thủy, đi t́m sự tu luyện để được cái trường
sinh bất tử.
C̣n như hệ tư tưởng Khổng Mạnh, th́ cả nền luân lư xă hội của ta
đều lấy sức từ đấy và qua đấy. Trong cách sống của người Việt Nam,
tam cương : quân thần, phụ tử, phu thê vẫn được tôn kính; ngũ
thường : nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, vẫn được dùng làm nguyên tắc
cư xử. Chữ tam ṭng không c̣n hợp thời lắm, nhưng chữ tứ đức :
công, dung, ngôn, hạnh, vẫn được nhiều phụ nữ vun trồng. Ba cái
cương lănh : minh đức, tân dân, chỉ chí thiện, vẫn luôn làm người
Việt Nam lưu ư và tuân giữ. C̣n như bát điền mục : cách vật, trí
tri, thành ư, chánh tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, b́nh thiên hạ,
th́ ai nấy vẫn cố gắng áp dụng trong các sinh hoạt và hoàn cảnh cá
biệt của ḿnh. Nhiều người Việt Nam sống ở ngoại quốc nhận định
rằng luân lư Khổng Mạnh vẫn rất rơ rệt và rất mạnh mẽ trong cách
sống và suy nghĩ của ḿnh.
Và sau cùng là hệ tư tưởng Âu Mỹ Thiên Chúa giáo. Hệ tư tưởng này
dẫn vào văn hoá Việt nam ba chất sống mới. Chất sống nhân bản với
tiêu chuẩn rằng con người và bản tính của con người có một giá trị
tuyệt đối. Tất cả phải do và v́ con người. Chất sống này thổi vào
ba luồng gió mới là tự do, b́nh đẳng và công lư. Ba luồng gió này
đă một thời xáo trộn xă hội cương thường, cấp bậc và quan liêu xưa
của Việt
Nam.
Chất sống thuần lư với nguyên lư rằng ‘chỉ có ánh sáng tự nhiên
của lư trí mới có khả năng đưa con người tiến bộ về hiểu biết, về
khôn ngoan’, Lư trí, do đó, trở thành một đức tin mới. Thực nghiệm
và canh tân là phương pháp và mục tiêu quan trọng. Khế ước xă hội,
luật pháp là những phương tiện tổ chức của một xă hội tân tiến.
Khoa học, kỹ thuật, kiến thức bách khoa là những khả năng mà ai
cũng phải trau dồi. Người Việt
Nam
ngày nay được nuôi dưỡng nhiều bằng hai chất sống nhân bản và
thuần lư này. Chất sống Thượng Đế với niềm tin có một Thượng Đế
duy nhất, tạo dựng đất trời vạn vật, đă giúp cho luân lư Tam giáo,
đặc biệt là Khổng giáo có một cơ sở siêu h́nh học vững chắc.
Thượng Đế ấy là Cha nhân từ và toàn năng đă dựng nên trời đất muôn
loài, trong đó có con người. Lạm dụng tự do, con người đă chống
lại Thượng Đế và đă đi vào đường lầm lạc tội lỗi. Để cứu chuộc
nhân loại, Thượng đế ấy đă giáng sinh nhập thể, đă chịu nạn khổ
h́nh, chết trên thập giá, và đă phục sinh, rồi lên trời. Ngài sẽ
trở lại vào ngày tận thế để phán xét kẻ dữ người lành. Thượng Đế
ấy, từ muôn đời và cho đến muôn đời, vẫn sống với nhân loại bằng
sự hướng dẫn soi sáng của Thánh linh. Qua sự giáng sinh nhập thể,
Thiên Chúa đă lập Giáo Hội, một Giáo Hội duy nhất, thánh thiện,
vững bền. Qua Ngôi Hai nhập thể, ngôi Ba Thánh Linh và Giáo Hội,
Thiên Chúa đă mạc khải cho con người biết rằng nó được tạo thành
với một thân xác có thể hư nát và một linh hồn bất tử. Thân xác
này sẽ sống lại. Con người tội lỗi sẽ được tha thứ, nếu nó biết ăn
năn hối cải.
42. Trong lănh vực văn hoá gia đ́nh, vai tṛ và ảnh hưởng của năm
hệ tư tưởng này không đồng đều. Hệ tư tưởng Âu Lạc dùng h́nh ảnh
gia đ́nh trong ư niệm tạo lập và tổ chức xă hội, có nhiều nhân
tính. Rơ rệt nó là hệ tư tưởng gốc trong văn hoá gia đ́nh Việt
Nam. Đây vừa là một xác tín, vừa là một dữ kiên lịch sử xă hội. Từ
yếu tố di truyền nguyên thủy Âu Lạc, một cách cư xử căn bản đă dần
dần thành h́nh, cô đọng qua những tiếp cận, phản ứng và kinh nhiệm
sống với môi trường địa lư thiên nhiên. Cách cư xử này đă được xây
dựng trên ba đức tính : trí, đức và dũng, mà ta có thể gọi là trí
việt, đức việt, và dũng việt. Đó là ba chân kiềng của văn hoá
nguyên thũy gia đ́nh Âu Lạc. Từ ba chân kiềng này, phát sinh một
nền văn hiến Bách Việt quay quanh ba trụ chính : việt tính, việt
học và việt lư[[2]]. Ba chân kiềng trí việt, đức việt và dũng việt,
cùng với ba trụ việt tính, việt học và việt lư là những yếu tố căn
bản của văn hoá nguyên thủy Việt Nam, văn hoá Âu Lạc Bách Việt.
Nền văn hoá này nền tảng đặt trong gia đ́nh. Âu lạc là tên của một
cặp hôn nhân thủy tổ của ḍng giống Việt Nam. Gia đ́nh bởi vậy giữ
một vai tṛ quan trọng trong tiềm thức suy lư, trong sinh hoạt tổ
chức và trong sáng tạo ứng xử của mỗi cá nhânngười Việt và của xă
hội Việt Nam. Tinh thần gia đ́nh này được biểu lộ một cách rơ rệt
qua ngôn ngữ. Ngôn ngữ Việt Nam là một ngôn ngữ gia đ́nh. Những
thứ bậc, vị trí gia đ́nh, từ cố cụ, ông bà, bác chú cô d́, anh chị
em, con cháu,...đều đă được xử dụng để gọi thưa, xưng hỏi trong
ngôn ngữ thông thường hàng ngày với tất cả mọi người, thân quen
hay xa lạ.
Nền văn hoá gia đ́nh nguyên thủy này đă dần dà trong ḍng lịch sử
mở ra với môi trường xă hội thế giới. Đầu tiên là những tiếp xúc
với văn hoá Ấn Độ và Trung Hoa, qua đó, ba hệ tư tưởng mới đă xâm
nhập vào Việt Nam đó là Ấn Phăt, đạo Lăo và đạo Khổng. Chắc hẳn
lúc đàu đă có những va chạm, xung khắc. Nhưng sau gần 2000 năm
chung sống, ba hệ tư tửng này đă góp phần vào việc tạo h́nh cho
văn hoá Việt
Nam,
trên nền tảng văn hoá nguyên thủy Âu Lạc Bách Việt. Đến nỗi ngày
nay đă trở thành những yếu tố cơ cấu của văn hoá Việt
Nam.
Trong mỗi cá nhân người việt và trong xă hội Việt Nam, đâu dó, đều
có ít nhiều ‘phật tính’, ‘lăo tính’ và ‘khổng tính’. Trong các hệ
tư tưởng, có lẽ hệ tư tưởng Khổng Mạnh là hệ tư tưởng bén rễ sâu
nhất trong nhận thức gia đ́nh Việt
Nam.
Có thể bảo rằng trong mỗi con người Việt Nam đều có một lượng
‘khổng tính’ quan trọng. Hệ tư tưởng Khổng giáo đẵ chiếm một chỗ
đứng hầu như độc tôn trong văn hoá gia đ́nh Việt Nam. Nó đă tạo ra
cả một tổ chức cho xă hội, trên căn bản của những liên lạc gia
đ́nh với những yếu tố chính yếu như sau :
- Gia đ́nh căn bản là đại gia đ́nh :
- Mỗi phần tử có một chỗ đứng nhất định, có một cư xử mẫu cho
những hoàn cảnh chính yếu, mà tam cương ngũ thường là những nguyên
tắc căn bản;
- Hai chức vụ uy quyền quan trọng là gia trưởng và tộc trưởng;
- Những lễ nghi chính yếu đă được định thức cho những cuộc hội họp
gặp gỡ chính yếu về cưới hỏi, tang chế, cúng giỗ, hội đồng gia
đ́nh, hội đồng gia tộc;
- Những văn bản quan trọng đă được thiết kế, biên soạn và bảo tŕ,
từ gia phả, gia lễ, gia phong, đến pháp luật gia đ́nh, phong tục
gia đ́nh, luận lư gia đ́nh, văn học gia đ́nh,..
Hệ tư tưởng Khổng Mạnh đă biết đưa ra những giá trị vĩnh hằng, tựa
vào một quan niệm xă hội có phẩm trật, có luân thường để di t́m
hạnh phúc vừa có tầm tâm linh vừa có tầm vật chất, trong hoà thuận,
yên vui, thịnh vượng, ấm no. Rơ rệt những nhận thức, những quan
niệm, những nguyên tắc của Khổng Mạnh vẫn c̣n ảnh hưởng mạnh và
được bảo tồn kỹ trong văn hoá gia đ́nh Việt Nam. Giáo sư Vũ Ngọc
Khánh, và đa số cac nhà nghiên cứu cũng sễ đồng ư với ông để xác
định như vậy. Ông viết : ‘Có một nét rất đặc biệt của Nho Giáo, là
nó có thể ngự trị trong văn hoá gia đ́nh Việt Nam, gợi ra được cảm
giác là nó đồng hoá được tất cả những khuynh hướng triết học, tôn
giáo khác. Nho, Phật, Lăo có những cuộc đấu tranh tư tưởng, rồi
cùng với Thiên Chúa Giáo có những kỳ thị, không cảm thông nào đó,
là ở những lănh vực khác chứ không phải ở trong gia đ́nh. Văn hoá
gia đ́nh thu nhận tất cả và đều qui vào những quan niệm gia giáo
của đạo Nho. Ở những trường hợp, những qui tắc tập tục có thể khác
nhau và gây mâu thuẫn, nặng nề nhất là những ngày mới tiếp xúc,
song dần dần vấn đề cũng được an bài - (đến nay th́ ổn thỏa). C̣n
ở phần cơ bản, những vấn đề như đạo hiếu thảo, phép tề gia, th́
các gia đ́nh dù theo tôn giáo nào cũng đều xử lư như nhau[[3]]’.
CHÚ THÍCH
[1] Trần Văn Cảnh, sđd, tr. 511-517
[2] Xin xem bài 8 dưới đây về ‘Những ứng xử đang được thiết kế về
gia đ́nh’
[3] Vũ Ngọc Khánh; sđd, tr. 89
GS.Trần Văn Cảnh


[BANTIN]