|
CHÚ THÍCH
CHƯƠNG I.
LƯ TƯỞNG BỒ TÁT và BỒ TÁT
ĐẠO
1. Naranda. The Buddha and his Teachings. Ch.
40.
2. Pháp Hoa - Phẩm. HT Thích Trí Tịnh
dịch.
3. Pháp Hoa - Phẩm Phương Tiện. HT Thích Trí
Tịnh dịch.
4. Lalmani Joshi. Sudies in the Buddhistic
Culture of India. p.5.
5. Kinh Hoa Nghiêm. Phẩm 37, Ly Thế gian. HT
Thích Trí Tịnh dịch.
6. Thái Hư Đại Sư toàn thư, tập 9. Trích lại
bởi HT Trí Quang, bản dịch "Phát Bồ Đề Tâm”.
7. Kinh Hoa Nghiêm. Phẩm 37, Ly Thế gian. HT
Thích Trí Tịnh dịch.
8. Bồ Tát Thế Thân.
9. B. L. Suzuki. Mahayana Buddhism, a Brief
Outline. pp 67-68.
10. D. T. Suzuki. Outlines. Trích dẫn bởi B. L.
Suzuki: Mahayana Buddhism, a Brief Outline. pp 71-72.
11. Kinh Duy Ma Cật. Phẩm Văn Thù Sư
Lợi.
CHƯƠNG
2.1
ĐẠI BI
QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT.
Thân Thế - Hành Trạng – Danh Hiệu.
1. Schopen 1997:1-14: Bones, Stones, and Buddhist Monks:
Collected Papers on the Archaeology, Epigrapy, and Texts of Monastic
Buddhism in India. Honolulu: University of Hawaii
Press.
2. Goto Daiyo (Hậu Đằng Đại Dụng 1958:283-88): Kanzeon
Bosatsu no kenkyu. (The Study of Kuan Shih Yin Bodhisattva.)
Tokyo.
3. Xem thêm cùng tác giả Vu Quân Phương: The Renewal of
Buddhism in China: Chu-hung and the late Ming Synthesis.
Newyork: Columbia University Press. 1981. and “Buddhism in the Ming”
In Cambridge History of China edited by Frederick Mote and
Denis Twitchett, 893-952. Cambridge: Cambridge University Press.
1998.
4. Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh (1924-1935) (T
15:451c). Hiệu đính bởi Takakusu Junjiro
và WatanabeKaigyoku. 100 vols. Tokyo:Taisho issaikyo
kankokai.
5. Eric
Zurcher đă xem bộ kinh này như là một phần trong nhóm nhỏ của những
kinh điển Trung quốc nguyên thủy tiêu biểu cho “khuynh hướng đại
chúng hóa” mà “những đặc tính chung là bao gồm một số lượng đáng kể
những trộn lẫn cổ điển, những thuật ngữ mang phong các riêng, và
trên tất cả, thực tế cho thấy là những dịch giả này đă cố gắng hết
sức để phiên dịch mọi thứ sang Hán văn kể cả những danh từ
riêng.” Zurcher tin rằng đặc tính sau cùng này cho thấy “cái ư
hướng muốn phục vụ giới thưởng ngoạn thuộc một bầu khí văn hoá đại
chúng chứ không thuộc giới chuyên môn”.
(1991:290).
6. Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh
(T12:15b).
7. Đại
Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh (T 14:519b).
8. Xem Fujita Kotatsu. 1970. Ghensi Jodo-shiso no kenkyu (A Study of Early Pure
Land Bud dhism. Tokyo:Iwanami Shoten. (Fujita 1970:13-115).
9. Do tiếng tăm của ngài Chi Ca Lâu Sấm, những gán
ghép sai lạc cho ngài là dịch giả của bộ kinh này trở thành một
vấn nạn nhức nhối. Cuốn danh mục cổ xưa
và có thẩm quyền nhất, Xuất Tam Tạng Kư Tập, kết tập bởi ngài Tăng
Hữu (515) đă không liệt kê dịch giả của bộ kinh này là Chi Ca Lâu
Sấm. Một số học giả cho rằng bộ kinh này thực ra là do ngài Đàm Ma
La Sát (265-313) dịch, c̣n bản dịch của ngài Chi Ca Lâu Sấm th́ đă
bị thất lạc. Nếu đúng như thế th́ bộ kinh Đại A Di Đà (Đại Kinh) do
cư sĩ Vũ Chí Khiêm dịch (220-252) có thể được xem như là bản dịch
sớm nhất c̣n tồn tại của kinh điển Trung quốc. Bukkyo daijiten 5:4851b.
10. Những nhà học
giả đương đại đồng thời cũng đặt vấn đề về sự gán ghép này: “Bây giờ
có vẻ như cái được gọi là bản dịch của ngài Khương Tăng Ngăi là cả
một công tŕnh tập thể của bộ phận phiên dịch do danh tăng dịch giả
đời Đường (sic), Phật Đà Bạt Đà La (359-429 C.E.), chủ tŕ”. (Gómez
1996:126)
11. Xem Howard,
Angela: “Buddhist Cave Sculpture of the Northern Qi Dynasty: Shaping
a New Style, Formulating New Iconographies.” Archive of
Asian Art 49:7-25. (Howard 1996a:16-17, Howard et al.
forthcoming; Yuan 1991).
12. Một trong những
bộ kinh này là Quang Thế Âm Đại Thế Chí shou chueh king do ngài Đàm
Ma La Sát dịch vào khoảng năm 265, và một bộ khác là Kuan Shih Yin
shou chi ching Quán Thế Âm do ngài Nieh Tao chen dịch vào khoảng năm
300. Mặc dù chúng đă bị thất lạc, nhưng những tựa đề vẫn c̣n được
lưu lại trong bộ Xuất Tam Tạng Kư Tập của ngài Tăng Hữu
(515).
13. Đại Chính Tân
Tu Đại Tạng Kinh (T12:356a-357a)
14. Đại Chính Tân
Tu Đại Tạng Kinh (T3:185-86).
15. Xem Tay, C. N.
1976 “Kuan Yin: The Cult of Half Asia,” History of Religion 16
(2):147:77, Reissued separately, 1987, as book with the same title
in English and Chinese. Taipei :Wisdom Torch. (Tay
1976:17).
16. Đại Chính Tân
Tu Đại Tạng Kinh (T9:129a).
17. Đại Chính Tân
Tu Đại Tạng Kinh (T 8:1b).
18. Honda Yoshihide
(Honda 1930: 15-17, 27): « Kannon yakugo ko »
(Investigation on the Translations of the Names of Kuan Yin). Nara
13 (Special Issue on the Study of Kannon).
19. (HTC 27:350a).
Tân Biên Vạn Tự Tục Tạng Kinh. 1977. 150 vols. Reprint of Dainippon
Zoku Zokyo (Đại Nhật Bổn Tục Tạng Kinh). Taipei.
Hsin-wen-feng.
20. Đại Chính Tân
Tu Đại Tạng Kinh (T34:624c).
21. (HTC 42:381a):
Tân Biên Vạn Tự Tục Tạng Kinh.
22. Sueki Fumihito
(Mạt Mộc Văn Mỹ Sĩ) 1986a : On the Various Versions of the
Visualization Sutra. Toyo Bunka 66. 1986b : Studies on
the Visualization Sutra. Toyo Bunka Kenkyusho Kiyo
101.
23. Hayashima
Kyosei 1964: “On the Meditation on Purity and Karma Taught in the
Pure Land School”. Also Hirakawa Akira. 1984: “The Creation of the
Visualization Sutra and the Meditation on Purity and
Karma”.
24. Kasugai Shinya
(Xuân Nhật Tỉnh Trinh Dă) 1953: “Various Problems Concerning the
Visualization Sutra” , and also Fujita Kotatsu 1985: “Lectures
on the Visualization Sutra”.
25. Tsukinowa
Kenryu (Nguyệt Luân Hiền Long) 1971: “Critical Studies on the
Buddhist Scriptures”. Tokyo. Hyakka-en.
26. Yamada Meiji
(Sơn Điền Minh Trị) 1976: “Investigating the Visualization
Sutra: Amitayus Buddha and the Amitabha Buddha”. Ryukoku daigaku
ronshu 408:76-95; also Pas Julian 1977: “The Kuan Wu liang shou Fo
Ching: Its Origin and Literary Criticism.” In Buddhist Thought and
Asian Civilization, edited by Leslie Kwamura and Keith Scott,
194-218. Emeryville, California: Dharma
Publishing.
27. Pas Julian
1995:38: “Visions of Sukhavati: Shan-tao’s Commentary on the Kuan Wu
Liang shou Fo Ching”. New York: State of New York University
Press.
28. Takakusu, J.
translator, 1969. The Amitayur-dhyana-Sutra. In Buddhist
Mahayana Texts. New York: Dover, reprint.
29. Năm bộ
kinh khác là Phật Thuyết Quán Hư Không Tạng Bồ Tát Kinh (T no. 409),
Fo shuo kuan Fo san mei hai ching (T no. 643), Fo shuo kuan Mi-lo
P’u sa shang sheng To shuai t’ien ching (T no. 452); Phật Thuyết
Quán Phổ Hiền Bồ Tát H́nh Pháp Kinh (T no.277); và Phật Thuyết Quán
Dược Vương Dược Thượng Nhị Bồ Tát Kinh. (T. no 1161) (Pas
1995:42-43).
30. Mochizuki
Shinko (Vọng Nguyệt Tín Hưởng), 1946: “On the History of the
Establishment of Buddhist Canon”. Kyoto: Hozokan.
31. Charles Luk (Lu
K’uan Yu), translator. The Surangama Sutra. London:
Rider:135.
32. Charles Luk đă
chú giải về ư nghĩa của đoạn kinh văn này như sau: “Bằng cách không tự quán cái tiếng, mà quán cái
tâm năng-quán, tức là cái tánh nghe, Bồ Tát đă vượt ra ngoài cả lục
căn lẫn lục trần và như thế đă thực chứng được Phật tánh của ḿnh
vốn bao gồm cả mọi loại chúng sanh. Triển khai niềm tin thuần túy
vào Ngài bằng cách niệm danh hiệu Bồ Tát, hoặc tập trung quán tưởng
về Bồ Tát, hành giả đạt đến t́nh trạng nhất tâm, hoà nhập với bản
tánh Bồ đề của Bồ Tát và trở nên đồng nhất với ngài, từ đó giải thoát mọi khổ nạn vốn không hề
hiện hữu trong cảnh giới tuyệt đối.” (Lu K’uan Yu [Charles Luk]:1966:139).
33. Charles Luk (Lu
K’uan Yu), translator. The Surangama Sutra. London:
Rider:142.
34. HTC (Tân Biên
Vạn Tự Tục Tạng Kinh.) 41:439a.
35. Đại Chính Tân
Tu Đại Tạng Kinh (T54:1062a).
36. Mironov, N. D.:
“Buddhist Miscellanea” 241-79. The Journal of the Royal Asiatic
Society of Great Brittain and Ireland (April
1927).
37. Goto Daiyo (Hậu
Đằng Đại Dụng): “The Study of Kuan Shih Yin Bodhisattva.” Tokyo.
1958:9.
CHƯƠNG
2.2
ĐẠI BI
QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT.
Thần Chú Đại Bi, Viên Ngọc của Người Cùng
Tử
(1) Kinh
Đại Bi Tâm Đà Ra Ni. HT Thích Thiền Tâm dịch. Phật Học Viện Quốc Tế
xuất bản. Tr. 124-125.
(2) Như
trên. Tr.112.
(3)
Piyadassi. Phép
Hành Thiền, bản dịch của Cư sĩ
Phạm Kim Khánh.
(4)
Chun-Fang
Yu. Kuan-Yin, The Chinese Transformation of Avalokitesvara. Columbia
University Press. 2001. Pp. 286-287.
(5)
Như trên. P. 272.
(6)
Lê Mạnh Thát. Nghiên Cứu về Thiền Uyển Tập Anh. Viện Nghiên Cứu Phật
Học Việt Nam thực hiện, 1999. Tr. 262-264.
Những chú thích kể từ đây trở đi, được tóm
tắt lại từ phần Chú Thích của Thiền Uyển Tập Anh.
(7)
Bắc Thành Địa Dư Chí Lục 2 có ghi hai xă mang tên Cổ Miệt huộc tổng
Hương Đại, huyện Thanh Hà, trấn Hải Dương, tức nay thuộc huyện Thanh
Hà, tỉnh Hải Dương. Dưới mỗi tên, người viết c̣n chua thêm hai thôn,
đấy là thôn Tràng Liệt và thôn Khánh Mậu, th́ như vậy, Cổ Miệt trước
chắc địa phận rộng hơn những xă cũng có tên đây. Nhưng tại tổng
Hương Đại cũng như trong toàn huyện Thanh Hà, chúng tôi không thấy
ghi một xă thôn nào có tên Đào Gia cả. Điểm chắc chắn là Cổ Miệt
phải ở vùng huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
(8)
Bối thông thường là một phiên âm tiêu chuẩn của chữ Bhanna
(Sanskrit) và Bhan~n~a (Pali). Xem Thập luật tụng 37 tờ 269c18-19:
Phật ngôn: “Thính nhũ tác thanh bối”. Thông thường cũng là một gọi
tắt của chữ Bối nặc, tức là một lối đọc kinh Phật giáo với những nốt
nhạc, nên cũng được gọi là thanh bối hay Svarabhanna (Sanskrit) và
Sarabhanna (Pali). Nó khác với lối đọc kinh theo lối ca hát với
giọng dài của những người theo Vệ Đà có tác dụng làm cho người đọc
và người nghe khỏi mệt mỏi và giữ được sự trong sáng và âm điệu của
ngôn ngữ. C̣n Bối nặc hay Bhannaka có nghĩa người đọc tụng theo nốt
nhạc, có thể nói đó là nguời hát lễ nhạc Phật giáo. Vậy nếu Bối Đa
giữ chức Bối trong triều đ́nh nhà tiền Lê, th́ Bối đây chắc hẵn là
chức quan coi về lễ nhạc Phật giáo. Sau này, ta thấy Ma Ha cũng nối
nghiệp cha tiếp tục hát bối ở chùa ḿnh, th́ cũng đủ rơ bối đây
tượng trưng cho lễ nhạc Phật giáo. Cũng cần thêm là, sau chữ bối,
Thiền Uyển Tập Anh c̣n chú thêm rằng, “Xưa gọi là Đà phan”.
Chữ Đà có lẽ là một khắc sai của chữ Xà. Và “Xà phan” quả là một
phiên âm khá trung thực chữ Svarabhanna (Sanskrit) và Sarabhanna
(Pali) như đă nói ở trên.
(9)
Tán Bối theo luật tạng vẫn là một thứ ngoại học –cái học bên ngoài.
Xem Thập Tụng Luật 37 tờ 269c6-21.
(10)
Tức Đại Bi Thần Chú rút ra từ kinh Thiên Thủ do ngài Già Phạm Đạt Ma
dịch và phiên âm.
(11)
Tức núi Long Triều, xă Trường Yên hạ, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh B́nh
ngày nay. Đại Nam Nhất Thống Chí, tỉnh Ninh B́nh, mục Sơn xuyên nói:
“Núi Long Triều ở cách huyện Gia Viễn 10 dặm, một là tên núi Đại
Vân, có miếu vua Đinh, vua Lê ở dưới chân núi”.
(12)
Hoàng đế Lê Đại Hành nghi là chép sai, có lẽ Lư Thái Tổ mới hợp
lư.
(13)
Ái Châu tức tỉnh Thanh Hóa ngày nay, đất Sa Đảng thời Lư có thể hiện
nay thuộc huyện Cẩm Thủy và Quan Hoá, Tỉnh Thanh
Hoá.
(14)
Theo Toàn Thư B2 tờ 1363 th́ đây là Thái uư Nguyễn Quang
Lỵ.
(15)
Theo Toàn Thư B1 tờ 27c7-8 th́ phủ Thái B́nh trong truyện Ma Ha chắc
là đất Đằng Châu chứ không phải là Thái B́nh ngày
nay.
(16)
Lê Mạnh Thát. Nghiên Cứu về Thiền Uyển Tập Anh. Viện Nghiên Cứu Phật
Học Việt Nam thực hiện, 1999. Tr. 271-277.
(17)
Chùa Thiên Phúc thuộc xă Sài Tây, huyện Yên Sơn, tỉnh Sơn
Tây.
(18)
Núi Phật Tích thuộc xă Thủy Khê, huyện Yên Sơn (c̣n gọi là Sài Sơn
hay Cổ Sài), tỉnh Sơn Tây.
(19)
Làng Yên Lăng thuộc huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Sơn Tây tức là làng Láng
ở gần phía Tây thủ đô Hà Nội ngày nay. Làng này hiện có chùa thờ Đạo
Hạnh, tục gọi là chùa Láng.
(20)
Theo Đại Nam Nhất Thống Chí th́ nguyên quán của Đạo Hạnh là thôn
Đồng Bụt, huyện Yên Sơn, cha là Từ Vinh, mẹ là Tăng Thị
Loan.
(21)
Diên Thành Hầu là con của vua Lư Thánh Tôn và em của vua Nhân
Tôn.
(22)
Tức Nguyễn Đại Điên. Truyện Thần Nghi tờ 40a cho là đại biểu một
thiền phái thứ 4 của thời Lư.
(23)
Theo Bắc Thành Địa Dư Chí Lục: “Sông Tô Lịch ở phía đông của thành
Hà Nội phân lưu từ sông Nhị, theo thành từ phía Bắc mà chảy qua phía
Tây gặp sông Hà Liễu và sông Nhuệ, hai song cùng chảy đổ vào. Sông
này, muà đông và xuân th́ khô cạn, mùa thu và hạ th́ thuyền đi
được…” Quốc sử của Ngô Sĩ Liên cho biết: “Sông này hễ khi có mưa lớn
th́ nước ứ và chảy ngược.”
(24)
An Nam Chí Lược 1 tờ 24 viết: “Sông Tô Lịch chảy qua La Thành. Sông
có năm cầu đều rất đẹp.” Hiên nay 3 cầu có thể nhận ra được là
cầu Tây Dương, Yên Quyết, và Nhân Mục (tức là cống Mọc, làng Nhân
Chính, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Đông ngày nay). Cầu Quyết tên nôm là
cống Cót, bắc ngang song Tô Lịch, địa phận làng Yên Quyết, huyện
Hoài Đức, tỉnh Hà Đông ngày nay.
(25)
Mọi răng vàng hay Kim Xỉ Man là một dân tộc thiểu số thuộc địa phận
tỉnh Vân Nam, Trung Quốc ngày nay. Gọi là mọi răng vàng v́ dân tộc
ấy dùng vàng lá mà trang sức răng ḿnh, khi ăn th́ lấy ra. Như vậy
Đạo Hạnh chỉ mới vượt khỏi biên giới vào Vân Nam.
(26)
Tức là Tứ Thiên Vương: Tŕ Quốc ở phía Đông, Tăng Trưởng ở phía Nam,
Quảng Mục ở phía Tây và Tỳ Sa Môn ở phía Bắc của tầng thứ tư núi Tu
Di, quản thủ bọn Dạ Xoa và La Sát.
(27)
Tức là Cầu Giấy. Xem chú thích 24 ở trên.
(28)
Tức là phủ Thái B́nh. Xem chú thích 15 ở trên.
(29)
“Cơ xan khát ẩm”, có ư nói đạo lư của Thiền không ở đâu xa, mà ở
ngay trong chính những công tác thường nhật nhất. Sư Nguyên Tân đến
hỏi Thiền sư Đại Châu Huệ Hải: “Hoà Thượng tu đạo có dụng công
không?” Hải đáp: “Dụng công”. Hỏi: “Dụng công ra sao?” Đáp: “Đói đến
th́ ăn cơm mệt lại th́ đi ngủ” (Truyền Đăng Lục 6 tờ
247c1-3).
(30)
Câu chuyện này có ghi lại trong Đại Việt Sử Lược 2 tờ
21a4-b5.
(31)
Sách Toàn Thư cũng có ghi rơ chuyện này (B3 tờ 16a4-6 và 16b6-17a4).
Phu nhân của Sùng Hiền Hầu là Đỗ Thị có thai sanh người con trai tức
là Dương Hoán.
(32)
Tam Thập Tam Thiên tức là cơi trời Đao Lợi hay Đâu Suất, nơi ngự trị
của Đế Thích theo huyền thoại Phật Giáo.
(33)
Theo Toàn Thư B3 tờ 17a 4-5: “Xác của Sư đến khoảng năm Vĩnh Lạc
thời Minh mới bị người Minh đốt. Người làng đúc lại tượng của Sư mà
thờ như xưa, nay vẫn c̣n”.
CHƯƠNG
2.3
ĐẠI TRÍ
VĂN THÙ SƯ LỢI BỒ TÁT.
Lưỡi
Gươm Vàng Trí Tuệ
.
(1): Reginald A. Ray. Indestructible Truth. Shambala xb. 2002. p.
192.
(2): Benoytosh Bhattachary The Indian Buddhist Iconography.
2nd ed. Calcutta. 1958. pp. 101-3.
(3): John
Brough, 1948. Snellgrove giới thiệu trong Indo-Tibetan Buddhism,
Indian Budhist and their successors. 1987. p. 366.
(4):
“Samsandati kho pana te pancasikha tantissaro giitassaro ca
tantissarena na ca pana te pancasikha tantissaro ativannati
giitassara giitassaro vaa tantissaram.” (DNII.
267).
(5): Xem Kinh Trường A Hàm, Quyển 5,
Thích Thiện Siêu dịch, Phật Học Viện Quốc Tế xb. 1986. trang
132-145.
(6): EtienneLamotte. Manjusri. Toung
Pao. 1960. p. 35.
(7): EtienneLamotte. (như trên). p.
33-4.
(8): HT Thích Thanh Kiểm. Lịch Sử
Phật Giáo Trung Quốc. Phú Lâu Na
xb. 1991. p.180.
(9): HT Thích Thanh Kiểm. (như
trên). p.170.
(10): Sáu bộ kinh được đề
cập:
-Astasahasrika-prajna-paramita-sutra (AsPP; T.224),
- Wenshushili wen pusa shu jing (WWP; T.458),
-
Druma-kinnara-raja-pariprcha-sutra (DKP; T.624),
- Lokanuvartana-sutra (LAn; T.807),
- Dousha jing (DSJ; T.280),
- and the Ajata`satru-kauk.rtya- vinodana-sutra
(AjKV; T.626).
(11): Kinh “Văn Thù Sư Lợi Nói Về Cảnh
Giới Bất Tư Nghị của Phật”. HT. Thích Chánh Lạc dịch, Quyển
Thượng.
(12) & (13):
Như
trên.
(14): Kinh Duy Ma Cật. HT Thích Duy Lực dịch.
Phẩm “Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát”.
(15):
Kinh Duy Ma Cật. HT Thích Duy Lực dịch. Phẩm “Phật
Quả”.
(16):
Giới Thiệu Kinh Duy Ma Cật. Tuệ Sỹ.
(17): Tuệ
Sỹ. Như trên.
(18):
Kinh Duy Ma Cật. HT Thích Duy Lực dịch. Phẩm “Bất Nhị Pháp
Môn”.
(19):
«Pháp Môn Bất Nhị, Tư Tưởng Thiền Trong Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ
Lục ». HT. Thích Thanh Kiểm, trong tuyển tập Tuệ Trung Thượng
Sĩ với Thiền Tông Việt Nam. Nxb Đà Nẳng. 2000. Tr.
196-197.
(20):
Edward Conze. The Short Prajnaparamita. London. Luzac &
Co. 1973. pp 83-84.
(21): Garma Chang. A treasury of Mahayana Sutra. Pennsylvania &
London: Pennsylvania State University Press. 1983. p. 65.
(22): Chang. Sách đă dẫn nt. p. 66.
(23): Kinh Thủ Lăng Nghiêm. Bản
dịch của HT. Thích Duy Lực , Quyển 1: http://www.tuvienquangduc.net/Kinhdien/25langhiem06.html)
(24) Kinh Thủ Lăng Nghiêm. Bản
dịch của HT. Thích Duy Lực , Quyển 6.
(25) Đại
Cương Kinh Lăng Nghiêm. HT Thích Thiện Hoa. Hương Đạo tái bản, 1962.
Tr. 193-195).
(26), (27) &
(28):
Kinh Hoa Nghiêm. Phẩm Nhập Pháp Giới, Bản Việt dịch của HT Thích Trí
Tịnh.
(29): Thomas Cleary. The Flower
Ornament Scripture. A translation of the Avatamsaka Sutra. Vol. III:
Entry Into the Realm of Reality. Shambala. Boston & London.
1987. pp. 377-8.
(30): Minh Đức Thanh Lương. Bồ Tát
Đạo. (tóm tắt bởi HT Thích Đức Nhuận). trang
1119.
(31): Phạm Công Thiện, Lời Tựa Pháp
Hoa Yếu Giải. The Corporate Body of the Bud dha Educational
Foundation Ấn tống. Đài Loan. 1999. Tr.10.
(32):
Kinh Pháp Hoa. Phẩm “Pháp Sư”. Bản dịch của HT Thích Trí
Tịnh.
(33) & (34): Kinh Pháp Hoa. Phẩm “Tựa”. Bản dịch của HT Thích Trí
Tịnh.
(*) GHI
CHÚ: Bài viết này một
phần được gợi ư và dựa vào tài liệu “Manjusri: Origins, Role and
Significance” của GS/TS Anthony Tribe (Dharmachari Anandaiyoti),
Giáo sư Đại học Montana, USA.
CHƯƠNG
2.4
Qua Kinh ĐỊA TẠNG BỔN
NGUYỆN
1. HT Trí Tịnh. Kinh Địa
Tạng Bổn Nguyện. Quyển Thượng - Phẩm Thứ Hai: Phân Thân Tập
Hội.
2. HT Trí Tịnh. Kinh Địa
Tạng Bổn Nguyện. Quyển Hạ - Phẩm Thứ Mười Ba: Dặn Ḍ Cứu Độ Nhơn
Thiên.
3. HT Trí Tịnh. Kinh Địa
Tạng Bổn Nguyện. Quyển Thượng - Phẩm Thứ Tư: Nghiệp Cảm Của Chúng
Sanh.
4. HT Trí Tịnh.
Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện. Quyển Trung-Phẩm Thứ Tám- Các Vua Diêm La
Khen Ngợi.
5. Trần Ngọc Anh. Bên
Kia Cửa Tử. Thế Giới xuất bản. 1993.
6. HT Trí Tịnh. Kinh Địa
Tạng Bổn Nguyện. Quyển Thượng - Phẩm Thứ Năm: Danh Hiệu của Địa
Ngục.
7. Dr. Bruce Goldberg.
Past lives, Future lives. Pp 100-106.
8. HT Trí Tịnh. Kinh Địa
Tạng Bổn Nguyện. Quyển Trung-Phẩm Thứ Sáu- Như Lai Tán
Thán).
CHƯƠNG
2. 5
BỒ TÁT
ĐỊA TẠNG,
Vị Bồ Tát
Bảo Vệ Trẻ Con Trong Truyền Thống Phật Giáo Nhật Bản
(1) Thiền sư Taigu Ryokan (1758-1831) là một nhà
thơ nổi tiếng rất được yêu thích trong văn học Nhật Bản. Ông cũng là
một nhà sư nghèo nổi tiếng, sống đạm bạc trong một túp lều tại một
vùng quê đầy tuyết phủ. Hàng ngày đi vào làng khất thực, đám trẻ con
trong làng thường chạy theo ông và ông cũng đùa giỡn, chơi tṛ vật
lộn với chúng một cách hồn nhiên. Bài thơ sau đây đă mô tả một khung
cảnh như thế:
"Trời xanh cao và nắng chói
chang
Với chiếc áo màu xanh thắm tươi,
tạo vật đón chào ngày Xuân mới
Ôm chiếc b́nh bát trên tay
tôi thả bộ vào làng
Đám trẻ đang chơi đùa trước
cổng chùa dừng tay nh́n tôi mời gọi
Tôi đứng lại cởi chiếc túi vải
treo lên cành cây
Đặt chiếc b́nh bát trên mỏm ḥn đá
trắng
Chuyến khất thực của tôi chấm dứt
tại đây
Khi dừng lại và thay phiên nhau
chơi tṛ ném banh với chúng
Khách qua đường dừng chân, cười,
chỉ chỏ :
"Sao lại chơi đùa như con nít thế
kia!"
Tôi im lặng cúi đầu chào
họ
Bởi giải thích đâu chắc ǵ có ai
đă hiểu
Rằng chẳng có ǵ ngoài phút giây
đang hiện hữu này đây.”
Tất cả những thư họa, vật dụng...
của nhà thơ nay c̣n được lưu giữ tại Bảo tàng viện Ryokan, tại
Izumozaki.
(2) Kinh Địa Tạng Bổn
Nguyện, Phẩm Thứ Mười Hai, "Thấy Nghe Được Lợi Ích", Bản dịch của
Hoà Thượng Thích Trí Tịnh.
(3) Xem "Jizo
Bodhisattva, Modern Healing & Traditional Buddhist Practice",
Jan Chozens Bays, Tutle Publishing, 2002. P. 95.
(4) Tam Giai Giáo do
Đại sư Tín Hành (540-594) khai sáng với hoài bảo đem Phật pháp để
truyền bá sâu rộng trong dân gian, phù hợp với thời cơ và quốc độ.
Gọi là Tam Giai Giáo v́ ngài Tín Hành đem giáo pháp của đạo Phật
chia làm ba bậc: Nhất thừa, Tam thừa và Phả pháp. Ba bậc này tương
ứng với ba thời là Chánh pháp, Tượng pháp và Mạt pháp. Nay chúng
sinh đang ở trong thời Mạt pháp, phải nương nhờ vào "Phả pháp giáo"
để tu hành mới có thể thoát ṿng sinh tử.
(5) Kinh Địa Tạng Bổn
Nguyện, Phẩm Thứ Tám, "Các Vua Diêm La Khen Ngợi", Bản dịch của Hoà
Thượng Thích Trí Tịnh.
(6) Kinh Địa Tạng Bổn
Nguyện, Phẩm Thứ Sáu, "Như Lai Tán Thán", Bản dịch của Hoà Thượng
Thích Trí Tịnh.
(7) Xem "Jizo
Bodhisattva, Modern Healing & Traditional Buddhist Practice",
Jan Chozens Bays, Tutle Publishing, 2002. P. 73.
(8) Beyond Dogma, HH
the Dalai Lama. Rupa & Co., 1996. P. 11.
(9) Beyond Dogma, HH
the Dalai Lama .Rupa & Co., 1996. P. 43.
(10) Ni sư Jan Chozen Bays Roshi
tốt nghiệp Đại học Y Khoa San Diego, CA, 1972, hiện là Tu viện
trưởng Larch Mountain Zen Center, Portland, Oregon.
CHƯƠNG III.
LƯ TƯỞNG BỒ TÁT và BỒ TÁT
ĐẠO
1. Gernet, Jacqes. Buddhism in Chinese Society
Society: An economy History from the Fifth to the Tenth Centuries.
Bản dịch của Francius Verellen. New York: Columbia University Press.
1995:274.
-Xem thêm: “Les Suicides Par Le Feu Chez Les
Bouddhistes Chinois du Ve au Xe Siecle. Pp. 527-528.
2. Getz, Dan. Siming Zhili and Tiatai Pure Land
in the Sung Dynasty. Luận án tiến sĩ. Yale University, New Haven.
1994.
3. T . - Taishoshinshu daizokyo. Đại Chính Tân
Tu Đại Tạng Kinh (1924-1935). Takakusu Junjiro và Watanabe
Kaigyoku hiệu đính. Tokyo. 49:343a.
4.Chikusa Msaaki. “Studies on the Social
History of Bud dhism during the Sung.” Kyoto: Dohosa.
1982;
và, “Halls and Cloisters in the Sung and Yuan
Periods”. Studies in Asian History: 1-28. 1987.
5. Barend J. ter Haar. The White Lotus
Teachings in Chinese Religious History. Leiden: E.J.
Brill.1992.
6. Xem Chú Thích ở trên về: ter Haar 1992:31-32
và Chikusa 1982:262-292.
7. Chikusa (1987:12-13), đă đưa ra nhiều bản
lược đồ để minh họa cho quan điểm của ḿnh. Cụ thể như trường hợp
của huyện Soochow, đă có 127 am được xây dựng trong khoảng năm mươi
năm cuối thời Nam Tống (1225-1274), và 207 am dưới thời Nguyên.
Ngược lại chỉ có 10 am được xây cất dưới thời Ngũ Đại, 26 trong thời
Bắc Tống, 56 trong thời sơ khởi của Nam Tống (1127-1173), và 36 vào
giữa thời Nam Tống (1174-1224).
8. Xem Chikusa 1982:111-43, chú thích 4 ở trên.
9. Xem ter Haar 1992:23, chú thích 5 ở
trên.
10.
Chun-Fang
Yu.
Kuan-Yin, The Chinese Transformation of
Avalokitesvara. Columbia University Press. 2001.
11.
Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ của Đức Huỳnh Giáo Chủ. Sứ Mạng của Đức
Thầy. Tr. 19.
12. Sấm
Giảng Thi Văn Toàn Bộ của Đức Huỳnh Giáo Chủ. Huấn Lịnh. Tr.
429.
13. Sấm
Giảng Thi Văn Toàn Bộ của Đức Huỳnh Giáo Chủ. Tuyên ngôn của Đảng
Việt Nam Dân Chủ Xă Hội. Tr. 4688.
14. Lịch
Sử Phật Giáo Trung Quốc. HT Thích Thanh Kiểm. Vạn Hạnh xb, 1965. Tr.
263-264.
15. Lịch
Sử Tranh Đấu Phật Giáo Việt Nam. Tập I. GS Kiêm Đạt. Phật Học Viện
Quốc Tế xuất bản. 1981. Tr. 50.
16. Sấm
Giảng Thi Văn Toàn Bộ của Đức Huỳnh Giáo Chủ.
17. Sấm
Giảng Thi Văn Toàn Bộ của Đức Huỳnh Giáo Chủ. Khuyến Thiện. Tr.
118.
18. Phật
Giáo Ḥa Hảo Trong Ḍng Lịch Sử Dân Tộc. Nguyễn Long Thành Nam. Tr.
161-162.
19. “Một
vài ư kiến về việc cải cách điền địa ở Bắc Việt.” Tri Tân. Số 3.
1951.
20. Việt
Nam Pháp Thuộc Sử. Phan Khoang. Tr. 451.
21. Việt
Nam Pháp Thuộc Sử. Phan Khoang. Tr. 480.
22. Sấm
Giảng Thi Văn Toàn Bộ của Đức Huỳnh Giáo Chủ. “Tặng Thi Sĩ Việt
Châu”. Tr. 454.
23. Những
Điều Sơ Lược Cần Biết của Kẻ Tu Hiền. Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ của
Đức Huỳnh Giáo Chủ. Tr. 145-146.
24. Phật
Giáo Ḥa Hảo Trong Ḍng Lịch Sử Dân Tộc. Nguyễn Long Thành Nam. Tr.
235.
25.
Daisaku Ikeda. The
Human Revolution. Foreword xi. John Weatherhill, Inc. 1976.
26. Shingyo Hikkei. A Handbook for Members of
The Nichiren Order. Pp. 65-66.
27. Shingyo Hikkei. A Handbook for Members of
The Nichiren Order. P. 68.
28.
Shingyo Hikkei. A
Handbook for Members of The Nichiren Order. P130.
29. Thích
Trí Siêu. Vô Ngă. Phật Học xb. Tr. 66-67.
30. Báo
cáo của Tuần báo Time, Số 1-4-2002, Tr. 30.
  
[ML] [CH1] [CH2] [2.1]
[2.2] [2.3] [2.4] [2.5]
[CH3] [BAT] [CT] [PHULUC] [STK]
|