Hiện Thực Hoá Tinh Thần Từ Bi Cứu Khổ Ban Vui của Phật Giáo Qua Các Lĩnh Vực Văn Hoá, Giáo Dục và Phụng Sự Xă Hội.

Ni Sư Tiến Liên

   

Đức Phật người khai sáng Phật Giáo là đấng đại từ, đại bi và đại trí tuệ. Ngài đă v́ đời mà khai thị tám vạn bốn ngàn pháp môn, đầy dủ phương tiện thiện xảo, khéo hay để giúp con người và tất cả chúng sinh thoát khổ nạn, được an vui và hạnh phúc.

Nh́n qua lăng kính giáo dục th́ đức Phật là một nhà Đại Giáo Dục;

Nh́n qua lăng kính xă hội th́ đức Phật là một nhà Đại Cách Mạng Xă Hội;

Nh́n qua lăng kính văn hoá th́ đức Phât là một nhà Đại Văn Hoá.

 

Giáo lư của Ngài khế lư, khế cơ, phù hơp theo từng thời gian, không gian và bối cảnh. Giáo lư của Đức Phật mang đầy tính hiện thực, nếu áp dụng được lời dạy của đức Phật th́ được an lạc hạnh phúc ngay trong hiện tại và ngay tại thế gian nầy. Giáo lư của Ngài không cách xa với đời sống con người chúng ta mà c̣n rất ư là nhân bản, từ bi, công b́nh và bác ái, giúp cho con người thoát khỏi đau khổ trong đời sống hàng ngày về cả hai phương diện tinh thần lẫn vật chất. Về tinh thần, biết tạo cho ḿnh được hạnh phúc là học và hành theo giáo lư của Đứa Phật. Về vật chất là biết đủ và tiếp nhận tất cả những ǵ đă và đang hiện hữu.

 

Do vây, Đạo Phật không chỉ được giảng dạy về thực hành trong chốn thiền môn và cho riêng hàng Phật tử xuất gia mà c̣n được truyền bá sâu rộng trong muôn loài và được hành tŕ trong tất cả mọi lănh vực văn hoá, xă hội và giáo dục của con người.

1- Đức Phật là một nhà Đại Giáo Dục.

Giáo dục căn bản là sự truyền đạt. Thế hệ này truyền lại cho thế hệ khác kinh nghiệm sống của một cá nhân hay một đoàn thể. Thường là sự truyền đạt lại những lư thuyết, những thực hành, những kỹ thuật, thủ thuật trong các lănh vực nghề nghiệp. Ngoài ra giáo dục cũng là nền văn hoá và văn minh của loài người. Giáo dục c̣n được hiểu như là con đường hai chiều của dạy và học của con người kể từ lúc sinh ra cho đến khi chết và có mặt trong ba môi trường sinh hoạt củ con người đó là gia đ́nh, học đường, và xă hội. (1)

 

Tại sao Đức Phật được xem như một nhà Đại Giáo Dục?

Đức Phật sau 45 năm du phương giáo hoá, Ngài đă giảng dạy con đường   giải thoát giác ngộ t́m về với suối nguồn của tâm linh và chân lư. Như chúng ta đă biết, các đệ tử của Ngài đều tôn xưng Ngài là bậc Thầy của trời và người (Satthadevamanussanam). Đây là một   trong mười danh hiệu (Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn), được dùng để tán thán Ngài trong h́nh thức tôn kính.

 

Xét theo phương pháp giáo dục sư phạm thông thường th́ sự giáo dục của Đức Phật rất c óphương pháp, đầy tính thuyết phục và đă được Đức Phật ứng dụng từ 25 thế kỷ trước. Truyền bá cho người nghe dễ hiểu, Đức Phật thường dùng phương pháp ví dụ để dẫn chứng những lời Ngài nói và làm cho hội chúng thấy được tính chất xác thực của nó. Ngoài ra để mở đầu cho buổi thuyết pháp, Ngài thường dùng phương pháp nêu câu hỏi để người nghe vận dụng tư duy và biết so sánh phân biệt được sự hay dở, tốt xấu để từ đó rút ra bài học, hay chọn lựa cho ḿnh thái độ giải quyết những vấn đề nan gỉi (critical thinking). Kinh Sonadanda trong Trường Bộ, Đức Phật đă đặt nhiều câu hỏi cho Bà La Môn Suttdanda về thế nào làm nên một người Bà La Môn để cuối cùng ông tự nhận ra rằng không phải sinh ra trong ḍng Bà La Môn là có thể trở thành một người Bà La Môn mà phải có đạo hạnh và trí tuệ do chính con người tu tập hành tŕ mới phát sinh được. Ngoài ra Kinh Tiểu Bộ của Đại Tạng Kinh là toàn bộ những mẩu chuyện ví dụ do Đức Phật nói ra và giảng dậy trong lúc Ngài c̣n tại thế.

 

Tuy nhiên Đức Phật và Đạo Phật không chỉ giáo dục con người ở lănh vực thông thường đó. Một đường hướng giáo dục toàn thiện phải có 2 yếu tố con người và tâm linh, hay nói một cách khác, là đào tạo con người xă hội và con người của chính nó. Đào tạo con người xă hội là con người đáp ứng các nhu cầu kinh tế, văn hoá và chính trị. Con người chính nó là con người toàn diện về vật lư, tâm lư, ư chí, t́nh cảm và trí tuệ. Một nền giáo dục thiếu một trong hai yếu tố ấy là một nền giáo dục không hoàn chỉnh. (2)

 

Đức Phật và giáo lư của Ngài (Đạo Phật) giáo dục được con người đầy đủ hai mặt ấy. Về mặt xă hội, Kinh Singalovada (Trường Bộ Kinh số 31; Hán Tạng, Kinh Thiện Sinh) dạy về sáu mối tương giao của con người: tương giao giữa cha mẹ và con cái, tương giao giữa vợ chồng, tương giao giữa thầy và tṛ, tương giao giữa bạn bè, tương giao giữa chủ và người làm, tương giao giữa sa môn và tín chủ.

Kinh Tăng Chi, chương Bảy Pháp, Đức Phật dạy bảy điều làm cho một quốc gia cường thịnh và Thập Vương Tử Pháp trong Kinh Pháp Cú Sớ dạy thực hiện tốt mười điều để làm nên một chính phủ tốt (Pháp Cú Sớ và Jataka).

Trường bộ Kinh I I I, số 26, Kinh Chuyển Luân Thánh Vương Sư Tử Hống dạy rằng nghèo đói là nguyên nhân phát sinh tham lam và trộm cắp, bất thiện và vô nhân. Để cải thiện tệ trạng xă hội như vậy, cần cải thiện kinh tế bằng cách cung cấp phương tiện và dụng cụ làm việc cho mỗi ngành nghề và trả lương thỏa đáng cho nhân viên và lúc 6áy Đức Phật dạy pháp bố thí và các lễ tế đàn tốn kém vô ích được thay thế bằng các cuộc đại chẩn tế   cứu khổ cho mọi người.

 

Về mặt cá thể, Thế Tôn dạy về hạnh phúc của đời sống gia đ́nh, mỗi người cần thực hiện các việc như sau: (3)

Giỏi tay nghề, siêng năng , biết điều hành công việc;

Biết quân b́nh chi, thu (giữ cho số thu lớn hơn số chi);

Biết làm ra của cải hợp pháp bằng sức lực của ḿnh;

Biết đầu tư;

Biết làm bạn với thiện (có giới, tín và huệ);

Biết quân b́nh sức khoẻ và tâm lư;

Biết lo cho đời sau: tu Tín, Thí, Giới và Tuệ;

Biết sống trong hiện tại, làm chủ suy tư, không tiếc nuối quá khứ, không mộng tưởng tương lai.

 

Tuy giáo dục học đường hiện nay đào tạo ra những nhà xă hội, tâm lư, nhân chủng, v.v… để đáp ứng nhu cầu tinh thần cho con người; nhưng đồng thời giáo dục của học đường hay củ nhân loại   nói chung cũng đào tạo ra những kỹ thuật gia, chính trị gia, kinh tế gia để chế tạo những vũ khí độc hại tàn phá con người, tạo ra chiến tranh, làm mất đi tính tương giao tốt đẹp của loài người, gây đau thương cho loài người   và cho nạn nhân nói riêng. Giáo dục theo thế gian cũng chỉ đặt mục tiêu trên phương diện giáo dục cá nh6n mà không chú trọng tinh thần tập thể và cộng đồng.

 

Phật giáo qua hơn hai mươi lăm thế kỷ đă đóng góp không ít vào văn hoá con người và ǵn giữ phần nào nền hoà b́nh cho nhân loại qua tinh thần từ bi và hoà hợp trong giáo lư Phật Đà. Do vậy giáo dục trong Phật Giáo không chỉ là sự dạy và học mà c̣n là quá tŕnh chuyển hoá nội tâm, cải tạo cái xấu thành tốt đẹp, phát hu cái đẹp và tốt, trang bị cho mỗi cá nhân trí tuệ của chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh hành, chánh định và chánh tinh tấn để có được một phẩm chất tâm linh toàn thiện, toàn mỹ, toàn chân và đạo đức nhân bản siêu thế qua đời sống tu học, thiền định và tỉnh giác. Từ đó con người gầy dựng được đời sống an lạc, hạnh phúc vĩnh hằng cho cá nhân, cho gia đ́nh và xă hội.

Giáo dục Phật giáo là một nền giáo dục hiện thực , nhằm trang bị cho con người những kiến thức cần có và một tinh thần bi, trí, dũng dám đối diện với các nan đề và đem lại lợi lạc cho ḿnh và cho người. Từ đó, Đức Phật đă được xem như là một nhà Đại Giáo Dục, bậc Đạo sư của cả trời và người.

 

2- Đức Phật là môt nhà Đại Cách Mạng Xă Hội.

 

Đức Phật sinh ra và lớn lên trong bối cảnh của một xă hội Ấn Độ bị phân chia thành bốn giai cấp (Bà La Môn, Sát Đế Lợi, Thương Gia và Nô Lệ). Từ sự phân chia này đă sinh ra không biết bao nhiêu bất công và khổ đau cho những người thuộc giai cấp cùng đinh trong xă hội đương thời. Đức Phật trong suốt 45 năm thuyết pháp độ sinh Ngài đă làm một cuộc cách mạng vĩ đại là xoá bỏ giai cấp, những bất công của xă hội, đồng thời nâng cao phẩm giá của người phụ nữ. Ngài tuyên bố không có giai cấp giữa người và người, không có giai cấp trong giọt nước mắt cùng mặn, trong ḍng máu cùng đỏ; mọi người đều b́nh đẳng như nhau trong thế giới và vũ trụ này.

 

Trên luận điểm nhân chủng học, trong Kinh Trường Bộ III, trang 93, Đức Phật nói rơ từ khởi nguyên toàn thể nhân loại đều b́nh đẳng giống như nhau. Tuy trong cơ cấu xă hội con người dường như có phân chia sai biệt, tuy nhiên sự khác biệt này là để sinh hoạt trong cuộc sống và ǵn giữ trật tự xă hội chứ không phải là để đàn áp, thống trị và khinh rẽ nhân phẩm của người khác chỉ v́ họ sinh ra không cùng giai cấp.

 

Trên luận điểm đạo đức, Đức Phật dạy rằng tất cả mọi người đều như nhau trước quy luật nghiệp quả. Cho dù ở tầng lớp xă hội hoặc giai cấp nào con người cũng vẫn bị chi phối và ảnh hưởng của nghiệp duyên mà họ đă gây tạo. Trong giáo lư nhân quả con người b́nh đẳng trong tầm hoạt động của nghiệp. Kinh Madhura đă chứng minh như sau: “Bất kỳ con người thuộc giai cấp nào trong bốn giai cấp, khi có những hành vi phẩm hạnh xấu về tư duy hay lời nói hoặc thân tạo tác th́ người đó phải gánh lấy những hậu quả bất hạnh; và người nào có phẩm hạnh tốt th́ sẽ gặt hái được những quả an lạc.” (42 G.P. Malalasekera and K.N. Jayatilleke: Sđd, tr.50)

 

Trên luận điểm tâm linh, Kinh Kannakatthala (Trung Bộ Kinh), Đức Phật dạy rằng tất cả mọi người (nhân loại) đều có khả năng phát triển tâm linh và giải thoát khỏi khổ đau, dầu cho có sự khác nhau về khả năng và vị trí xă hội. Đức Phật đă chứng minh điều này khi Ngài nhận vào Tăng đoàn   vị đệ tử Ưu Ba Li, người thợ cắt tóc thuộc giai cấp nô lệ và Ngài Ưu Bà Li trở thành một trong mười vị đại đệ tử của Phật, đệ nhất về tŕ giới. Ngài Ni Đề xuất thân là một người gánh phẩn. Tỳ Kheo Ni Liên Hoa Sắc là môt cô gái bán dâm… Tất cả đều đă được Đức Phật tiếp độ như bao niêu vị vương tôn công tử, Bà La Môn khác để tu tập và trở thành những bậc Thánh Tăng, Thánh Ni (Trưởng Lăo Tăng Kệ và Trưởng Lăo Ni Kệ).

 

Đức Phật không những thắp sáng ngọn đèn công lư, nêu cao ư nghĩa b́nh đẳng của con người mà c̣n giải thoát cho giới phụ nữ ra khỏi sự trói buộc hạn hẹp của gia đ́nh cũng như nâng cao phẩm giá của người phụ nữ trong xă hội. Trong giáo lư của Ngài, Đức Phật đă ca ngợi rất nhiều về h́nh ảnh của phụ nữ qua thiên chức làm mẹ, làm vợ. Do vậy trong Kinh Thiện Sinh, sự tương giao giữa vợ chồng, Ngài đă dạy năm điều người vợ đối với chồng và đồng thời cũng dạy năm điều cho người chồng đối với vợ. Ngài dạy Đức Mục Kiền Liên về chuyện báo hiếu được lưu lại trong Kinh Báo Hiếu Phụ Mẫu Trọng Ân, qua đó làm sáng tỏ vai tṛ quan trọng và công đức thâm ân của người mẹ. Quan trọng hơn nữa, Đức Phật đă cho nhận nữ giới vào hàng ngũ xuất gia trở thành giáo đoàn sống đời du phương giải thoát như chư Tăng, nam giới. Chư Ni được cùng học, cùng tu y như chư Tăng. Thật là một việc làm vô cùng khai phóng của Đức Phật trong một thời đại c̣n có quá nhiều sự phân chia giai cấp xă hội và nhũng tập tục phong kiến và thành kiến về người phụ nữ c̣n tồn tại nặng nề trong gia đ́nh và xă hội.

 

Đức Phât c̣n cải cách về tín ngưỡng tôn giáo trong việc cúng tế, thay vào đó là thực hành thiền định, giữ giới thanh tịnh hoá tâm hồn th́ các việc lành sẽ đến. Ngài c̣n dạy không nên tin vào thần linh và sự cúng tế (mà ngày nay chúng ta gọi là sự mê tín) để cầu phước báo, lợi lạc hay hạnh phúc mà chỉ nên tự ḿnh t́m ra phương pháp đưa ḿnh đến chân hạnh phúc, đó là sự thực hành ǵn giữ và ngăn ngừa các ác pháp và ác nghiệp hơn là t́m cầu nơi tha lực, sự ban ơn, cứu rỗi của các đấng thần linh và ngay cả của Đức Phật. Đức Phật khẳng định, Ngài chỉ là người dẫn đường, hay chỉ là người thầy thuốc chỉ phương thuốc hay để trị bịnh nhưng uống hay không uống là tự mỗi người phải thực hành lấy. Câu tuyên ngôn của Đức Phật đă làm rung động càn khôn vũ trụ làm thức tỉnh cho tất cả trời và người.

 

3- Đức Phật là một nhà Đại Văn Hoá.

 

Sức sống của một nền đạo lư Từ Bi, Trí Tuệ như đạo Phật th́ chỉ có thể là sức sống văn hoá. Bởi v́, chỉ trên b́nh diện văn hoá, hoặc ở những h́nh thái sống động của đời sống hoặc trong tâm hồn của con người, suối nguồn Từ Bi của đạo Phật   mới có thể thẩm thấu, chan hoà trong đời sống. Văn hoá như hơi thở của sự sống, do vậy việc ǵ thuộc lănh vực văn hoá th́ việc tự thân nó phải gần gũi, phù hợp với con người, được nh́n thấy và thể hiện thiết thực ngay trong cuộc sống hàng ngày của con người. Do đó Đức Phật trong phương pháp giảng dạy của Ngài đă ứng dụng khế cơ, khế lư để thời điểm nào, hoàn cảnh nào cũng thích nghi với cuộc sống của mọi người. Ngay cả những lần thuyết pháp đại chúng, Ngài cũng ứng dụng khế cơ, khế lư cho phù hợp với tŕnh độ tâm linh và tầm hiểu biết của mỗi người trong đại chúng.

 

Về phương diện chính trị, Ngài dạy cho các nhà chính trị cách an dân trị quốc, cách làm cho đất nước được phồn thịnh và người dân được ấm no giàu có như đă được nêu lên ở trên qua các phẩm Tăng Chi Bộ Kinh, chương Bảy Pháp, Đức Phật dạy bảy điều làm cho một quốc gia cường thịnh, hay trong kinh Pháp Cú Sớ, phẩm Thập Vương Tử Pháp dạy thực hiện tốt mười điều để xây dựng một chính phủ tốt (Pháp Cú Sớ và Jataka). Trong Trường Bộ Kinh III, số 26, Kinh Chuyển Luân Thánh Vương Sư Tử Hống, Đức Phật cũng đă chỉ rơ những phương thức nhằm cải thiện tệ trạng xă hội, cải thiện kinh tế, v.v…

 

Về phương diện giáo dục đă được đề cập đến nhiều lần trong phần đầu của bài viết.

 

Về phương diện Thi ca, Đức Phật là một nhà thơ lớn nói theo ngôn ngữ của thời đại. Ngài nhận thức rất rơ lợi ích của thi ca trong các nền văn học cho dù thời điểm lúc bấy giờ nền văn học của con người c̣n rất phôi thai, nhưng cũng là một phương tiện ghi nhớ và truyền khẩu dễ dàng rất hữu hiệu trong sinh hoạt hàng ngày. Do đó Đức Phật cũng thường sử dụng thi ca để củng cố kiến thức cho người học và tạo sự ghi nhớ một cách dễ dàng hơn. Những bài kệ truyền pháp của Đức Phật với các vị đại đệ tử và một số chủ đề   diễn giải về thân, tâm, ư cũng được dùng thi ca để diễn giảng mà chúng ta được biết ngày nay là Kinh Pháp Cú. Đặc biệt, Đức Phật đă sử dụng những ngôn ngữ thông dụng của đại đa số quần chúng hơn là dùng ngôn ngữ của hàng thượng lưu trí thức. Đây rơ ràng là điểm tế nhị của một nhà làm văn hoá.

 

Đức Phật là một nhà văn hoá luôn sống hoà ḿnh với mọi người trong mọi hoàn cảnh. Hoà nhập với Tăng đoàn, Ngài không sống xa cách với các vị sa môn, đệ tử của Ngài và trong danh xưng, Ngài vẫn tự xưng ḿnh là một Sa Môn. Đức Phật đi hành đạo khắp nơi trên đất nước Ấn Độ, đến đâu Ngài cũng tùy phương tiện hoà nhập với dân bản xứ, cụ thể như Đức Phật dạy con người phải thương yêu, không giết hại lẫn nhau kể cả loài súc sinh, đệ tử của Ngài phải giữ giới không sát sinh, không giết hại dù là sinh mạng của một sinh vật nhỏ, thế nhưng Đức Phật đă có lần dùng thịt trong lúc đi khất thực ở một vùng không có rau cải, và thực phẩm duy nhất của người dân trong vùng có được chỉ là thịt cá mà thôi. Thế là Đức Phật đă hoà nhập   với cư dân tại địa phương thay v́ phải tạo ra khó khăn hay gây lo lắng cho những người mà Ngài đang muốn dùng phương tiện cứu độ họ và truyền dạy tinh thần từ bi trong giáo lư của Ngài.

 

Đức Phật trong tinh thần cứu khổ ban vui, Ngài đă quan tâm đến mọi con người trong mọi giai tầng xă hội, mọi hoàn cảnh khó khăn, người bịnh, kẻ cô đơn, những quả phụ, v.v... không phân biệt nam, nữ, già, trẻ. Tu học theo giáo lư của Phật không có nghĩa là ruồng bỏ bản than, gia đ́nh và xă hội. Trái lại người học Phật phải luôn tích cực dấn thân trên con đường chuyển hoá thân tâm và xă hội, tích cực tham gia vào các sinh hoạt xă hội để giúp đỡ, quan tâm đến những người đau khổ đang cần giúp đỡ.

 

4- Những tư duy của người con Phật qua cuộc đời và giáo lư của Đức Phật   và phương cách hành hoạt cho hiện tại và tương lai.

 

Ngày nay, nền văn hoá giáo dục và xă hội của vật chất đang lấy dục vọng làm nguồn năng lực kích động con người, mang đầy tính chất cạnh tranh, tham lam, bất chấp mọi nỗi thống khổ của nhân loại th́ sức sống văn hoá và giáo dục của đạo Phật với chất liệu Từ Bi, Trí Tuệ của nó có thể giúp tạo nên những tâm hồn b́nh dị, thuần tịnh trong lành, những nếp sống an hoà tươi mát nhưng cũng không kém phần sinh động và tích cực mang lại lợi lạc cho nhân quần xă hội, từ đó con người sẽ được sống trong hạnh phúc an lạc vĩnh hằng, vượt qua mọi khía cạnh xung đột đấu tranh và bất toàn.

 

Suy gẫm về cuộc đời của Đức Phật và giáo lư của Ngài, người học Phật có thể nhận thấy rằng nếu không hiểu đúng tôn chỉ của giáo lư Phật Đà th́ không khéo chúng ta sẽ đi lệch hướng lời dạy của Đức Phật, bậc Thầy của nhân loại hay làm mất đi tinh thần tích cực dấn thân, hy sinh của Đạo Phật trong thực hành. Hàng Phật tử xuất gia hay tại gia v́ thế cần nên tích cực tham gia mọi hoạt động xă hội trong nỗ lực cứu đời và giúp đời như Đức Phật đă làm cũng như dạy cho người học Phật và hành đạo Phật phải làm. Cứu đời và giúp đời có phải là chỉ làm một số công tác từ thiện xă hội? Thưa không hẵn như thế. Cứu đời và giúp đời theo gương của Đức Phật đă làm là ngoài những công tác từ thiện, cứu tế có tổ chức c̣n phải thực hiện quyền b́nh đẳng của con người, tích cực tham gia loại bỏ những bất công trong xă hội; bảo vệ nền đạo đức của nhân loại khi những giá trị đạo đức bị suy thoái, tiếp tay ngăn chặn những tội ác tràn lan trong xă hội, v. v...

 

M. Heidegger, một triết gia nổi tiếng, người tổng kết toàn bộ 2500 năm lịch sử triết học phương tây, triết học nhị nguyên, đă nói rằng: “Muốn vượt qua tư tưởng tính toán để đến với tư tưởng thiền quán, Tây phương phải làm một bước nhảy: Bước nhảy đó, các nhà hiền triết Đông phương thời xa xưa đă vượt qua và để lại cho đời nền văn hoá Đông Phương. Nghĩa là muốn vượt qua tính nhị nguyên, tâm thức phân chia chủ thể-đối tượng, sự khốn khổ bế tắc của chính ḿnh, Tây phương phải nh́n vào Đông phương, mà Phật giáo là đại diện có đầy đủ thẩm quyền. V́ so với triết học Khổng, Lăo th́ Đạo Phật bao hàm tất cả những Khổng Lăo có và c̣n có cả những cái mà không có trong Khổng và Lăo. Đạo Phật dung hoà được tất cả những mâu thuẫn của bờ bên này, đang là một sức sống của hang triệu người Âu Mỹ”. (trích dẫn). Từng bước cũng cho thấy những bước khởi đầu của thời đại mới, đó là bước khởi đầu của sự phát triển nền văn hoá   phương Đông nói chung và nền văn hoá Phật Giáo nói riêng ở Phương Tây, và sự phát triển đó là sự giao hoà giữa hai nền văn hoá Đông-Tây.

 

Tóm lại, Phật giáo sẽ đóng một vai tṛ quan trọng trong việc cung ứng những giải pháp nhân bản, khai phóng, tích cực trong các lănh vực giáo dục, văn hoá, xă hội trong xu thế toàn cầu hoá của nhân loại hôm nay. Với những nội dung giáo dục rất phong phú, đầy tính văn hoá và tinh thần trách nhiệm xă hội của Đạo Phật làm thăng hoa cả hai lănh vực tinh thần lẫn vật chất mới là một hệ thống giáo dục hoàn mỹ, tạo nên những con người toàn thiện, toàn chân, toàn mỹ, những bậc thánh siêu vượt trong nhân loại. Suy gẫm về cuộc đời Đức Phật, của các bậc Thánh Tăng và những lời dạy của Đức Phật để nhận thấy rằng bổn phận của chúng ta hôm nay là phải làm sáng tỏ quan điểm này, canh cải những sai lầm trong những thập niên qua đă và đang làm sai lệch đi tinh thần từ bi nhập thế của Đạo Phật. Tất cả nghệ thuật của đời sống đi vào cơi Đạo hay ngược lại, đạo thấm nhuần vào trong cơi sống. Sống đạo là sống văn hoá trong ư nghĩa đẹp nhất của nó. Và đạo sống chính là đạo như nguồn sống văn hoá này.

 

Thích Nữ Tiến Liên

[ NSLONGHOA ]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TR̀NH HỘI ĐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ NSLONGHOA
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 01/18/09