
NGUYÊN NHÂN TỤC ĐỐT VÀNG MĂ
HT. Tố Liên –
1952
Với quan niệm
thông thường, sau cái chết, con người cũng có một đời sống, cũng có
các nhu cầu như khi đang ở dương thế. Một số người vì quá thương tiếc
người thân đã mất, sắm đủ thứ vàng mã để đốt cúng nhân ngày giỗ
hoặc các dịp lễ như Rằm tháng Bảy, Tết Nguyên Đán…, để người ở đã
chết sử dụng ở cõi âm. Việc làm đó đôi khi thái quá, người ta có thể
sắm vàng mã với hình dáng nhà lầu, xe hơi, máy lạnh, điện thoại di
động, tiền mô phỏng đô-la Mỹ, v.v. . để cúng cho người đã chết. Tục
đốt vàng mã bắt đầu từ đâu và Phật giáo quan niệm như thế nào về
việc đốt vàng mã, VHPG trân trọng giới thiệu lại một bài viết cách
đây hơn năm mươi năm của một danh Tăng ở miền Bắc, Hòa thượng Tố Liên về
vấn đề này.
Phàm ở đời, cái
ǵ cũng phải có nguyên nhân mới có kết quả, dưới đây sẽ biện bạch rơ cái nguyên
nhân của tục đốt vàng mă.
Đọc kinh Dịch nhà
Nho, chúng ta thấy rằng: Tục chôn người chết của nước Tầu về đời thượng cổ, một
khi có người chết cứ để thế đem chôn, không quan không ván, lại cũng không khanh
phần mộ chi cả. Đến đời vua Hoàng đế (2679 trước Tây lịch) cho rằng: Con cháu
đối với ông bà, cha mẹ trong việc mai táng cẩu thả như thế là thiếu bổn phận,
mới sai ông Xích Xương sáng chế ra quan, quách để chôn cất. Trải qua đời Hoàng
đế đến đời Đường Ngu, cái lệ tục chôn cất người chết chỉ có thế thôi.
Nối nhà Ngu là
nhà Hạ (2205 trước Tây lịch), người Tầu mới bắt đầu dùng đất sét nặn làm mâm
bát, dùng tre gỗ làm nhạc khí, như chuông khánh, đàn sáo v.v… để đem theo người
chết. Các đồ vật đó được gọi là minh khí, hoặc gọi là quư khí, tức là những đồ
vật đem chôn theo cho thần hồn người chết dùng ở âm phủ, lễ nhạc đối với người
chết bắt đầu có từ đấy. Rồi đă chế ra đồ dùng cho người chết, tất phải có người
hầu hạ người chết, người ta mới lại chế ra người bù nh́n bằng gỗ đem chôn theo
với người chết. Đến đời nhà Ân (1765 trước Tây lịch), lại không dùng mâm bát đồ
đất và nhạc khí bằng tre gỗ để chôn theo người chết nữa. Thay vào cái đồ tế khí,
dùng toàn đồ thật chôn theo.
Đời nhà Chu (1122
trước Tây lịch), người Tàu đă bắt đầu văn minh; Cố nhiên lễ nhạc đối với người
chết cũng được ăn nhịp mà tiến bộ, giữa người chết với người chết đă được người
sống phân ra giai cấp sang, hèn trong việc lễ nghi chôn cất. Số là từ vua cho
đến các quan lớn khi chết đi, sẽ được dùng cả đồ vật giả theo lệ nhà Hạ, đồ vật
thật theo lệ nhà Ân để đem theo các vua chúa đă chết, c̣n từ hạng sĩ phu tới
b́nh dân, khi chết chỉ được chôn theo độc một thứ đồ giả thôi. Nếu người hèn hạ
nào mà dùng nghi lễ ngang với người sang tức khắc phải tội “ Tiếm lễ”. Không
những thế mà thôi, dă man nhất, độc ác nhất là người ta c̣n bịa đặt ra những
TUẪN TÁNG, nghĩa là khi các vua và các quan lớn chết đi, từ vợ con đến bộ hạ của
các vua, các quan lớn, đồ yêu quư khi c̣n sống, sẽ phải đem chôn sống để làm đồ
dùng khi đă chết. Việc này chúng ta được thấy sự thật đă chép ở sách TẢ TRUYỆN
rằng: “ Đời vua Văn Công thứ 6, vua Tần Mục Công tên là Hiếu Nhân chết, ba anh
em họ Tứ xa là Yểm Tục, Trọng Hành và Chàm Hổ đều bị chôn sống theo Mục Công, v́
Mục Công khi c̣n sống, yêu quư nhất ba anh em họ Tứ-xa. Người trong nước tỏ ḷng
thương tiếc ba anh em họ Tứ-xa là người hiền đức, mới làm ra thơ Hoàng Diệu để
tỏ ư than văn, mỉa mai. Trong thơ đại ư nói: “Ba anh em họ Tứ-xa đều là người
hiền đức gấp trăm ngh́n người khác, trời đất ơi! Sao nỡ đem chôn sống để đi theo
với người đă tận số là Mục Công. Nếu ba trăm người như chúng tôi này được chết
theo Mục Công để thế mệnh cho ba người hiền đức ấy, chúng tôi rất vui ḷng mà
chết thay”. Về sau người ta cũng biết đem người sống chôn theo với người chết là
vô nhân đạo, mới chế ra người cỏ “Sô-linh”, sau v́ người cỏ không được mỹ thuật,
người ta lại dùng đồ gỗ “Mộc ngẫu” như trước. Sách Trang Tử chép rằng: Vua Mục
vương nhà Chu (1001 trước Tây lịch) có người tên là Yến-sư chế ra người cỏ để
chôn theo người chết. Đức Khổng Tử đọc đến chuyện này liền nổi ḷng phẫn uất mà
thống mạ rằng: “Kẻ nào sinh ra tục chôn người gỗ theo với người chết là bất nhân”.
Thầy Mạnh Tử cũng ác cảm với tục h́nh nhân thế mệnh mà nguyền một câu độc rằng:
“Kẻ nào dùng người bù nh́n là tuyệt tự”.
Đến đời nhà Hán,
giới tri thức Nho học cảm động với nhời tuyệt cự thống thiết của ngài Khổng,
Mạnh trong tục lệ dùng người sống chôn theo với người chết, mới bỏ tục lệ TUẪN
TÁNG, không dùng người sống chôn theo với người chết nữa, nhưng lại làm ra nhà
mồ để cho vợ, con, tôi, tớ người đă chết ra để ấp mộ. C̣n các thức đồ ăn, mặc,
hành dùng của người chết kia, khi c̣n sống dùng những thức ǵ, khi chết cũng đem
chôn theo hết. Ngôi nhà mồ kia muốn cho thêm oai vẻ, người ta lại đục phỗng đá,
voi, ngựa đá để bài trí chung quanh phần mộ nữa.
Đến đây chúng ta
sẽ lại t́m thấy nguyên nhân của tục đốt vàng mă giấy. Đời Hán Hoa đến năm Nguyên
Hưng nguyên niên (105), ông Thái Lĩnh bắt đầu lấy vỏ cây dó và rẻ rách, lưới
rách đem chế ra giấy, v́ đă có giấy, ông Vương Dũ liền chế ra vàng bạc, quần áo
v.v.. đều bằng đồ giấy để cúng rồi đốt đi để thay thế cho vàng bạc và đồ dùng
thật trong khi tang ma, tế lễ. Sách “Thông giám cương mục” có chép: V́ vua Huyền
tôn mê thuật quỷ thần mới dùng ông Vương Dũ làm quan Thái thường bác sỹ để coi
việc chế vàng mă dùng trong khi nhà vua có tế lễ. Chúng ta có thể liệt Vương Dũ
vào hạng Thuỷ tổ nghề vàng mă được.
Đức Phật Thích Ca
Ngài không hề dạy đốt vàng mă để cúng gia tiên. Tại sao ngày rằm tháng bảy là
ngày lễ trọng thể của Phật giáo mà thấy một số tín đồ nhà Phật đốt rất nhiều
vàng mă để kính biếu gia tiên. Chính nghĩa ngày rằm tháng bảy của Phật giáo là
thế này: Ngài Mục Kiền Liên là bực đại đệ tử của Đức Phật Thích Ca. Ngài đă tu
chứng được 6 phép thần thông, mắt trông thấy thân mẫu Ngài là Bà Thanh Đề phải
đày đoạ ở địa ngục, mà Ngài không sao cứu được mới cầu cứu đến Đức Phật. Đức
Phật dạy rằng: “Dầu ông thần thông đến đâu chăng nữa, cũng không có thể cứu được
tội nghiệp của thân mẫu ông, phải nhờ đến công đức tu hành của chư Tăng mới cứu
được tội nghiệp cho thân mẫu của ông được. Ngày rằm tháng bảy sắp tới đây, nó sẽ
là ngày của chư Phật hoan hỷ, ngày của chư Tăng hành đạo tự tứ. Ông phải chí
thành sắm lễ nghi trai đàn đem dâng cúng dàng chư Tăng. Các Ngài sẽ cầu nguyện
cho thân mẫu ông được giải thoát”.
Chính ư nghĩa của
ngày rằm tháng bảy chỉ có thế thôi, không hơn không kém. Chúng ta có ai thấy
Phật dạy đốt vàng mă cúng gia tiên về ngày rằm tháng bảy đâu? Tại sao lại có tục
lệ mê tín di đoan ấy? Nguyên nhân đốt vàng mă vào ngày rằm tháng bảy là thế này:
Triều vua Đạt tôn nhà Đường (762) nhằm lúc Phật giáo cực thịnh ở Tầu, vị sư tên
là: Đạo-Tăng muốn cho dân chúng Tầu v́ ngày rằm tháng bảy mà bồng bột theo Phật
giáo, bèn lợi dụng tục đốt vàng mă của nhân dân Tầu vào tâu với vua Đạt tôn rằng:
Rằm tháng bảy là ngày vua Diêm vương ở âm phủ xét tội phúc thăng trầm, nhà vua
nên thông sức cho thiên hạ, trong việc lễ cúng gia tiên vào ngày rằm tháng bảy
nên đốt nhiều vàng mă để cúng biếu các vong nhân dùng.
Vua Đạt Tôn đương
muốn được ḷng dân nên rất hợp ư với lời tâu của Đạo tăng liền hạ chiếu cho
thiên hạ, thế là nhân dân nước Tàu lại được dịp thi nhau đốt vàng mă vào ngày
15/7 để kính biếu gia tiên. Nhưng chẳng bao lâu lại bị chư tăng công kích bài
trừ về việc đốt vàng mă vào ngày trọng lễ của Phật giáo làm cho cái lệ ngày 15/7
không c̣n có chính nghĩa nữa. Phần lớn dân chúng Tầu hồi đó, hầu tỉnh ngộ cùng
nhau bỏ tục đốt vàng mă làm cho các nhà chuyên sinh sống về nghề nghiệp vàng mă
gần như bị thất nghiệp, nhất là người Vương Luân ḍng dơi của Vương Dũ là đă bịa
đặt chế ra đồ vàng mă. Vương Luân mới bàn cùng với các bạn đồng nghiệp âm mưu
phục hưng lại nghề nghiệp hàng mă trong bọn họ. Một người giả cách ốm mấy hôm,
rồi tin chết được loan ra, c̣n cái xác giả chết kia lập tức được khâm liệm vào
quan tài, đă có lỗ hổng và sẵn sàng thức ăn, nước uống. Đương khi mọi người họ
mạc, xóm làng đến thăm viếng đông đúc, Vương Luân với một lũ người tất tưởi đem
trăm ngh́n thứ đồ mà đến có cả h́nh nhân thế mệnh nữa. Đem đến để làm ǵ? Bầy
đàn cúng các quan thiên phủ, địa phủ và nhân phủ. Chả! Chả! Phép quỷ thần màu
nhiệm quá nhỉ! Thiêng liêng quá nhỉ! Khi mọi người đương suưt xoa khấn khứa,
bỗng trăm ngh́n mắt như một, trông thấy hai năm rơ mười, cỗ quan tài rung động
lên. Bấy giờ, Vương Luân đă đứng sẵn bên quan tài, liền mở nắp quan tài ra.
Chàng giả cách chết kia cũng ḷ ḍ ngồi dậy, giả vờ lù dù, trông trước, trông
sau, mới bước từ Đời nhà Chu (1122 trước Tây lịch), người Tàu đă bắt đầu văn
minh; Cố nhiên lễ nhạc đối với người chết cũng được ăn nhịp mà tiến bộ, giữa
người chết với người chết đă được người sống phân ra giai cấp sang, hèn trong
việc lễ nghi chôn cất. Số là từ vua cho đến các quan lớn khi chết đi, sẽ được
dùng cả đồ vật giả theo lệ nhà Hạ, đồ vật thật theo lệ nhà Ân để đem theo các
vua chúa đă chết, c̣n từ hạng sĩ phu tới b́nh dân, khi chết chỉ được chôn theo
độc một thứ đồ giả thôi. Nếu người hèn hạ nào mà dùng nghi lễ ngang với người
sang tức khắc phải tội “ Tiếm lễ”. Không những thế mà thôi, dă man nhất, độc ác
nhất là người ta c̣n bịa đặt ra những TUẪN TÁNG, nghĩa là khi các vua và các
quan lớn chết đi, từ vợ con đến bộ hạ của các vua, các quan lớn, đồ yêu quư khi
c̣n sống, sẽ phải đem chôn sống để làm đồ dùng khi đă chết. Việc này chúng ta
được thấy sự thật đă chép ở sách TẢ TRUYỆN rằng: “ Đời vua Văn Công thứ 6, vua
Tần Mục Công tên là Hiếu Nhân chết, ba anh em họ Tứ xa là Yểm Tục, Trọng Hành và
Chàm Hổ đều bị chôn sống theo Mục Công, v́ Mục Công khi c̣n sống, yêu quư nhất
ba anh em họ Tứ-xa. Người trong nước tỏ ḷng thương tiếc ba anh em họ Tứ-xa là
người hiền đức, mới làm ra thơ Hoàng Diệu để tỏ ư than văn, mỉa mai. Trong thơ
đại ư nói: “Ba anh em họ Tứ-xa đều là người hiền đức gấp trăm ngh́n người khác,
trời đất ơi! Sao nỡ đem chôn sống để đi theo với người đă tận số là Mục Công.
Nếu ba trăm người như chúng tôi này được chết theo Mục Công để thế mệnh cho ba
người hiền đức ấy, chúng tôi rất vui ḷng mà chết thay”. Về sau người ta cũng
biết đem người sống chôn theo với người chết là vô nhân đạo, vàng mă ở kinh sách
nào? Nếu các ngài t́m thấy, bần tăng này xin cam tâm vào địa ngục để chịu lấy
tội vong hữu. Nếu không t́m thấy tục đốt vàng mă do Phật giáo hay Nho giáo
truyền dạy, một lần nữa bần tăng thiết tha yêu cầu các ngài bỏ tục đốt vàng mă
đi, lại sẽ khuyến hoá mọi người bỏ tục đốt vàng mă đi, v́ tục đốt vàng mă là bọn
Vương Dũ và Vương Luân đầu độc dân Tàu làm cho dân Việt Nam chúng ta cũng bị hại
lây. Nay chúng ta cũng nhau triệt để bài trừ mê tín tục đốt vàng mă, quyết nhiên
giữa dân tộc Việt Nam này để dành cho chúng ta viên thành một công nghiệp kiến
quốc vậy.
1952
HT. Tố Liên
(Theo VHPG số 63
) |