
Phật Di Lặc
và Pháp Hội Long Hoa

Ngày 1 tháng Giêng đầu năm Âm lịch theo truyền
thống Phật giáo Bắc Tông là ngày vía của Đức Phật Di Lặc, vị Bồ Tát đă được Đức Phật
Thích Ca Mâu Ni thọ kư trở thành vị Phật tương lai. Thế nên đối với người Phật
tử, chào mừng một năm mới cũng có nghĩa là chào
mừng nhau trong niềm tin và hy vọng
rằng một vị Phật sẽ sớm ra đời mang lại hạnh phúc và an lành cho muôn loài chúng
sinh. Di Lặc tiếng Phạn gọi là Maitreya (Sanskrit), Metteyya
(Pāli), c̣n Phật giáo Tây Tạng th́ gọi là Jampa.
Người Trung Hoa dịch là Từ Thị hay Từ Tôn
tức là người tu tâm
Đại Từ. Một số kinh sách Đại Thừa c̣n gọi
Ngài bằng một danh hiệu khác là Ajita
Bồ
Tát (phiên âm là A Dật-Đa, Tàu dịch là Vô Năng Thắng), nhưng tựu trung khi nói đến
Phật Di Lặc là nói đến vị Phật của Đại Từ Bi, Đại Hoan Hỷ. Một điểm đáng chú ư
là trong khi Phật giáo Nam Tông rất "dị ứng" với ư niệm Bồ Tát, họ chỉ xem
tiền thân của Đức Phật Thích Ca khi chưa thành Phật là Bồ Tát
c̣n những vị
Bồ Tát Đại Thừa khác, theo họ chỉ là những nhân
vật hư cấu, tuy nhiên ở đây, Bồ Tát Di Lặc đều đă được cả hai truyền thống Nam,
Bắc Tông kính ngưỡng, tôn thờ.
Thiết
tưởng trước khi đi sâu vào việc t́m hiểu một số đặc trưng của vị Phật tương lai,
chúng ta cũng cần nên biết qua về h́nh tượng của vị Phật Di Lặc hiện đang
được người Phật tử Việt Nam thờ phượng, sùng kính. Đó là h́nh ảnh
của một ông
Phật với chiếc bụng tṛn quay đang ngồi
hở rốn ra
với nụ cười luôn rộng mở. Chung quanh Ngài là sáu em nhỏ đang
trèo lên người đùa vui nghịch phá. Theo
thiển ư chúng tôi, ông Phật bụng phệ này không thể nào là h́nh ảnh biểu trưng cho
vị Phật tương lai Di Lặc. Trước tiên, một vị Phật thường xuất hiện
qua
một thân tướng trang nghiêm với đầy đủ 32 tướng tốt
như được mô tả trong
kinh điển truyền thống Phật Giáo. Bụng phệ th́ nhất định không thể nào là một hảo tướng rồi!
Ông Phật Di Lặc này nếu thêm vào một chiếc quạt phe phẩy trên tay là ta có ngay h́nh ảnh của một đại
phú gia Tàu chính hiệu. Thế mà một số
nhà được gọi là nghiên cứu Phật học c̣n
vẽ rắn thêm chân, lư giải h́nh ảnh 6 đứa bé bao quanh Ngài là h́nh
ảnh tượng trưng cho lục căn (mắt tai
mũi lưỡi thân ư), và lục trần đang quậy
phá người tu, nhưng bậc giác ngộ vẫn an nhiên
tự tại. Đă là một vị Phật rồi th́ đâu c̣n dính mắc ǵ đến chuyện lục
căn, lục trần nữa mà gọi là quậy phá? Thế th́ do đâu lại xuất hiện ra một ông Phật Di
Lặc như thế? Thật ra đây chỉ là một phiên bản của
nhân vật Hoà thượng Bố Đại, một vị Thiền
sư sống vào thời Hậu Lương (907–923 CE), mà theo truyền thuyết là hoá thân của
Phật Di Lặc. Các nghệ nhân Trung Hoa là những người rất giàu tưởng
tượng, đă lấy cảm hứng từ câu chuyện này
để sáng tạo ra h́nh ảnh của một ông
Phật Di Lặc như thế. Phiên bản thứ hai của Hoà thượng Bố Đại là ông Thần Tài. Cả
hai vị này -Phật Di Lặc và ông Thần Tài- h́nh tượng bên ngoài đều
được điêu khắc na ná giống nhau, khiến nhiều người đă lầm
tưởng cả hai vị này là một, thế nên trước khi rời khỏi nhà hay đi làm ăn
buôn bán phương xa, họ cũng cố gắng xoa vào bụng của ông Phật bụng phệ này một
cái, với hy vọng là công chuyện làm ăn sẽ suông sẻ, thu gặt nhiều tài lộc. Vô
h́nh chung, trong dân gian, ông Phật Di Lặc này đă biến thành người ban phát tài
lộc, hay nói rơ hơn, đây là một ông thần giử của không hơn không kém.
Phật giáo Việt Nam, như ta biết, đă chịu ảnh hưởng rất sâu đậm bởi Phật giáo
Trung Hoa trong một thời gian dài hằng bao nhiêu thế kỷ nên đă mang h́nh tượng "ông
thần giử của" bụng phệ của Tàu lên bàn thờ và gọi đó là vị Phật tương lai! Tuy
nhiên như ta biết, cởi bỏ một chiếc áo đă mặc lâu đời không phải là chuyện dễ dàng.
 Bồ
Tát Di Lặc, thế kỷ thứ 2, giai đoạn phát triển của
nghệ thuật Càn Đà La
|
Thật ra, Bồ Tát Di Lặc đă có mặt rất lâu đời trong lịch sử Phật
giáo, song song với sự h́nh thành và phát triển của Phật Giáo Đại
Thừa hoặc ngay cả thời gian trước đó. Các nhà khảo cổ đă phát hiện
ra một bức tượng điêu khắc của Bồ Tát Di Lặc xuất hiện vào khoảng
thế kỷ thứ hai sau Tây Lịch, trong thời kỳ vàng son của Phật Giáo
Càn-Đà-La. Thông thường Bồ Tát được mô tả đang ngồi với đôi chân đặt
lên mặt đất hay kiết già trên pháp toà như đang chờ đợi đến phiên
ḿnh ra đời để cứu độ chúng sinh. Theo truyền thống, Ngài được trang
phục trong lớp áo của một vị Tỳ kheo hoặc theo hàng vương giả Ấn Độ.
Một chiếc khăn lụa (khata) được quấn chung quang thắt lưng
Ngài như một
chiếc đai. Cũng như các vị Bồ Tát khác, Ngài thường được mô tả trong
tư thế đứng nhiều hơn là ngồi với trang sức đầy ngọc ngà châu báu
trên người. Một nét đặc trưng khác là trên chiếc khăn trùm đầu
của Ngài có đính vào một ngôi tháp nhỏ, tượng trưng cho ngôi tháp
đựng xá lợi của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Như một người con có hiếu
luôn luôn mang theo tro cốt của cha ḿnh ở trên đầu, h́nh ảnh
này khẳng định một cách dứt khoát rằng, Ngài là người thừa kế duy
nhất của Đức Phật Thích Ca, không ai có thể tranh căi được.
Phật Di Lặc và Hội Long Hoa Về sự
ra đời của Phật Di Lặc, đă được Đức Phật Thích Ca nói rơ trong kinh "Phật Thuyết
Kinh Di Lặc Hạ Sanh Thành Phật":
Tôi nghe như vầy: Một thời gian nọ, Đức Thế Tôn ở tại núi Linh Thứu, trong thành
Vương Xá, đồng thời có các vị Tỳ kheo tụ hội đông đủ. Bấy giờ có Thầy Xá Lợi Tử
là bậc đại trí huệ tối thắng trong hàng đệ tử của Phật. V́ Thầy nặng ḷng thương
xót thế gian nên từ chỗ ngồi liền đứng dậy và, trịch vai áo phải, quỳ gối sát
đất, chắp tay thưa Phật:
"Bạch Đức Thế Tôn: Nay con có chút việc muốn thưa hỏi, mong Phật giảng cho!"
Phật nói với Thầy Xá Lợi Tử rằng: "Tùy ư hỏi ǵ tôi sẽ nói cho."
Thầy Xá Lợi Tử nói lời kệ tụng thưa hỏi Thế Tôn:
"Đại sư thọ kư cho
Phật hạ sanh sau này,
Hiệu Ngài là Từ Thị,
Như các kinh đă dạy,
Xin đấng Nhơn Trung Tôn
Phân biệt lại lời tụng
Về thần thông oai đức,
Chúng con muốn được nghe." Đức Phật nhân
đấy đă cho đại chúng biết thêm một số chi tiết về sự giáng sanh của Bồ Tát Di
Lặc như sau: Thuở đó, dưới thời vua Hướng Khư, một vị Chuyển Luân Thánh Vương
rất mực nhân từ, cai trị khắp cả bốn châu bằng chánh pháp nên nhân dân đều an
lạc, không hề có chiến tranh và khổ nạn. Các quốc độ đều giàu có, không hề có
h́nh phạt hay tai ách. Những người sinh trong nước Ngài đều đă tu hạnh lành từ
nhiều kiếp. Quan phụ chánh đại thần của vua là Bà La Môn Thiện Tịnh, một người
đa văn, thông kim bác cổ, tất cả các luận nghị đều nghiên cứu thấu đáo, xứng
đáng là một vị quốc sư tài ba xuất chúng. Phu nhân của Ngài là hiền nữ Tịnh Diệu,
đạo đức nhân từ, thân tướng đoan nghiêm, ai trông thấy cũng sinh ḷng cảm mến,
kính trọng. Lúc bấy giờ Bồ Tát Di Lặc đang ở cung trời Hỷ Túc, thấy thời cơ đă
đến liền nhập thai vào bà Tịnh Diệu. Cũng giống như truyền thuyết về sự ra đời
của Đức Phật Thích Ca, phu nhân Tịnh Diệu mang thai Bồ Tát trong mười tháng rồi
trong dịp đi dạo vườn Diệu Hoa th́ sinh ra Ngài từ hông bên phải. Bồ Tát ra
đời với đầy đủ 32 tướng tốt,
"thân sắc vàng chói, tiếng như Đại phạm âm, mắt
giống lá sen xanh, tứ chi đều viên măn." Ngày Đức Đại Từ Tôn ra đời, trời rải
hoa chào mừng, vua trời Đế Thích đă đến bồng ẳm Ngài, chào đón một vị Đại giác
mới ra đời cứu độ chúng sinh trong ba cơi. Rồi rồng thiêng đến phun nước tắm
Ngài và chư thiên cầm lọng che cùng đẩy xe Ngài về cung. Tuy nhiên khi lớn khôn,
chứng được lẽ Thành, Trụ, Hoại, Không, thấy chúng sinh vẫn c̣n lẩn quẩn trong
ṿng luân hồi sinh tử, Ngài đă phát nguyện đi tu và chứng quả giải thoát dưới
gốc cây Long Hoa, một tên gọi khác của cây Bồ Đề, nhưng đặc biệt cây Bồ Đề này
có tàng lá sum suê che phủ đến 600 mét. Phật Di Lặc đă thuyết pháp độ chúng dưới
gốc cây Long
Hoa này trong ba hội: Hội thứ nhứt độ được chín mươi sáu ức
người thành bực Thanh Văn, hội thứ hai độ được chín mươi bốn ức
người thành Thanh Văn, hội thứ ba độ được chín mươi hai ức
người thành Thanh Văn. Đó là thời kỳ người ta gọi là Long
Hoa Tam Hội.
Như vậy biểu tượng Long Hoa gắn liền với vị Phật tương lai Di Lặc. Đây là một
biểu tượng hoàn toàn Phật giáo được tôn trọng bởi tất cả các tông phái. Ngay tại
Việt Nam, Đức Huỳnh Giáo Chủ của Phật Giáo Ḥa Hảo cũng đă nhiều lần bày tỏ ḷng
mơ ước của Ngài về Hội Long Hoa trong các kệ giảng của ḿnh. Tại Tây Ninh, thánh
địa của Đạo Cao Đài -cũng là một giáo phái Phật giáo- có chợ Long Hoa, như là
một nhắc nhở bổn đạo nỗ lực tu hành để hướng về Hội Long Hoa của Phật Di Lặc.
Ngoài ra, việc sử dụng danh xưng hay biểu tượng Long Hoa cho những mục tiêu khác
là việc làm của những kẻ tà đạo mà người Phật tử cần phải lưu ư, đề pḥng. Tuy
nhiên ư niệm về Phật Di Lặc, Hội Long Hoa là một ư niệm rất mực hấp dẫn, dễ dàng
lôi cuốn quần chúng, thế nên trong lịch sử đă có những nhân vật tự xưng ḿnh là
Phật Di Lặc tái sanh, hoặc sử dụng ư niệm Long Hoa cho những mục tiêu chính trị.
Nổi tiếng nhất, phải kể đến là:
- Vơ Hậu (tức Vơ Tắc Thiên) đời
Đường. Do sự bất lực của chồng và con, bà là
người thực sự cai trị nhà Đường từ năm 665
đến năm 690 và tự xưng ḿnh là Phật Di Lặc
tái sanh. Năm 690, bà dẹp bỏ luôn nhà Đường,
lập ra nhà Hậu Chu (周) rồi lên ngôi xưng
hiệu là
Thánh Thần Hoàng Đế (聖神皇帝),
gọi Lạc Dương là "Thánh Đô" và cai trị Trung
Hoa kể từ năm 690 cho đến năm 705.
-
Chu Nguyên Chương đời Minh: Năm 1531, Hàn
San Đồng thủ lănh Bạch Liên Giáo cùng với
Lưu Phúc Thông, tư lệnh quân nổi dậy, đă
phát động một cuộc khởi nghĩa nhằm lật đổ
triều đại nhà Nguyên. Hàn San Đồng đă tung
ra khẩu hiệu chống Mông Cổ như sau: "Đế
quốc Nguyên Mông đang trên đường hoàn toàn
sụp đổ. Phật Di Lặc đă ra đời và Minh
Vương đă xuất thế." Ông ta tự xưng ḿnh
là Minh Vương và con trai, Hàn Lâm Nhi, là
Tiểu Minh Vương. Tuy nhiên sau khi Hàn San
Đồng và Lưu Phúc Thông qua đời, Chu Nguyên
Chương, một tăng sĩ tu xuất đă thực sự nắm
trọn binh quyền. Ông ta cho người ám sát Hàn
Lâm Nhi và đưa cuộc khởi nghĩa đến thành
công, lập ra triều đại nhà Minh.
-
Gần đây nhất (1955) là
L. Ron Hubbard, giáo chủ giáo phái
Scientology (Mỹ), cũng tự xưng ḿnh là "Metteya" (Maitreya),
v́ theo ông, căn cứ vào những tài liệu
Phạn ngữ, ông ta có những đặc tính hoàn toàn
giống với đặc tính của vị Phật tương lai Di
Lặc.
Trong thời đại ngày nay, ư niệm về Phật Di
Lặc đă trở thành một ư niệm phổ quát trên
toàn thế giới. Nhiều tổ chức xă hội, giáo
dục ngoài Phật giáo cũng đă dùng danh xưng
Di Lặc đặt tên cho tổ chức ḿnh.
Phật Di Lặc và Cung Trời Đâu
Suất. Dưới thời Đức Phật Thích Ca c̣n
tại thế, việc Ngài thọ kư cho Bồ Tát A Dật Đa (Di Lặc) trở thành vị Phật kế tục Ngài
trong tương
lai có thể đă gây ra một số hoài nghi thắc mắc trong hàng thánh chúng,
những cao đồ của Đức Phật v́ A Dật
Đa là một nhân vật không tên tuổi, ít ai biết đến. Trong
Kinh "Phật Thuyết Quán Di Lặc Bồ Tát Thượng Sinh Đâu Suất
Thiên", Ngài Ưu Ba Ly đă đại diện thánh chúng nêu thắc
mắc
này với Phật Thích Ca, "Kính bạch Thế
Tôn, xưa kia Thế Tôn nói trong kinh luật rằng A Dật Đa sẽ
được thành Phật ở đời sau này. Nay con thấy rằng ông A Dật
Đa c̣n đầy đủ tấm thân phàm phu và chưa dứt hết được các
lậu hoặc. Khi Di Lặc mất, sẽ sinh nơi nào? Bản thân Di
Lặc, con người hiện nay, tuy là xuất gia, không tu thiền
định, không dứt phiền năo. Thế Tôn thụ kư cho ông Di Lặc,
con không dám nghi. Nhưng con muốn biết, khi ông mất rồi,
sinh vào nước nào?"
Phật dạy rằng, Đức Di Lặc sẽ sinh vào cơi trời Đâu Suất
(Phạn ngữ là Tusita), và sẽ dạy pháp
Duy Thức nơi đây cho
đến khi thời cơ tới, sẽ lại sinh vào một gia đ́nh Bà La
Môn ở nước Ba La Nại, thương xót chúng sinh khổ năo nên
xin cha mẹ cho đi tu, đến ngồi thiền định và thành Phật
dưới gốc cây Long Hoa.
Cung trời Đâu Suất là tầng trời thứ 33 theo truyền thuyết Phật giáo.
Người ta có thể đến đó bằng năng lực thiền định. Một nhân vật nổi
tiếng trong lịch sử Phật Giáo, Bồ Tát Thế Thân, vị tổ của Duy Thức Học,
đă nhiều lần nhập định đến cung trời Đâu Suất để nghe Bồ Tát Di Lặc giảng
kinh. Với trí nhớ tốt, Ngài đă ghi lại được những lời giảng này
và để lại những bộ
kinh được khẳng định là do chính Bồ Tát Di Lặc thuyết giảng. Gần đây nhất, người đă có cơ duyên đến thăm viếng cung trời Đâu Suất là Lăo
Hoà Thượng Hư Vân. Năm đó (1952) Ngài đă được
112 tuổi, Trung Hoa lục địa bấy giờ đă
hoàn toàn rơi vào tay cộng sản. Nghe đồn rằng Ngài chôn dấu rất nhiều tài sản,
kể cả súng đạn, quân dụng của phe Quốc Dân Đảng để lại, mười tên công an địa phương lực
lưỡng và hung ác đă t́m đến chùa tra tấn Ngài để khảo của. Chúng đánh Ngài bằng
gậy sắt mà cho dù một thanh niên tuổi c̣n sung sức cũng không thể chịu đựng nỗi
mười gậy, huống ǵ là một ông già 112 tuổi! Thế nhưng, chúng đă đánh Ngài liên
tiếp suốt cả một ngày như thế. Đến chiều tối, tưởng rằng Ngài đă chết chúng mới
chịu bỏ về. Hôm sau nghe tin Ngài c̣n sống, bọn chúng liền quay trở lại, lôi
Ngài ra khỏi giường và tra tấn c̣n hung bạo hơn cả hôm trước. Không những tiếp
tục đánh bằng gậy sắt chúng c̣n mang giày đinh đá vào khắp người, khiến toàn bộ
thất khiếu của Ngài đều ra máu. Lần này yên chí rằng Ngài đă chết, bọn chúng mới
chịu rút đi. Tuy nhiên chính trong thời điểm này, Ngài đă nhập vào đại định đến
thăm viếng cung trời Đâu Suất và gặp gỡ Bồ Tát Di Lặc. Câu chuyện này đă được
Ngài ghi lại trong tự truyện như sau: "Thầy vừa mộng thấy ḿnh đến
nội viện cung trời Đâu Suất. Nơi đó, thật rất trang nghiêm kỳ diệu, trên thế
gian này không có nơi nào giống như thế. Thầy thấy Bồ Tát Di Lặc đang ngồi trên
ṭa cao thuyết pháp. Trong chúng hội có vài mươi vị, đều là pháp hữu thuở xưa
của Thầy như hoà thượng Chí Thiện chùa Hải Hội ở Giang Tây, pháp sư Dung Cảnh ở
núi Thiên Thai, ngài Hằng Chí ở Kỳ Sơn, hoà thượng Bảo Ngộ ở cung Bá Tuế, hoà
thượng Thánh Tâm ở núi Bảo Hoa, luật sư Độc Thể, hoà thượng Quán Tâm ở Kim
Sơn, tôn giả Tử Bách v.v... Thầy cung kính chắp tay chào và được chư vị chỉ tay
ra hiệu bảo ngồi bên phía Đông, nơi có một chỗ trống. Tôn giả A Nan làm Duy Na,
bèn đến ngồi kế cận thầy. Đại chúng cùng nghe Bồ Tát Di Lặc thuyết 'Duy Thức
Định". Đang giảng, đột nhiên Ngài Di Lặc dừng lại, chỉ tay về hướng Thầy và nói:
"Con hăy trở về đi!" Thầy đáp: Đệ tử nghiệp chướng nặng nề. Không dám trở về."
Ngài Di Lặc bảo: "Nghiệp duyên của con chưa dứt. Hăy đi về, rồi sau này trở lại."
Kế đến, Ngài Di Lặc nói bài kệ: "Thức
cùng tri khác ra sao?
Sóng cùng nước đồng nhau
Chớ phân biệt b́nh bồn
Chất vàng không phân chia
Lượng tánh ba nhân ba
Một sợi gai nhỏ, một sừng ốc tí ti
Nghi thành ảnh tượng
Tánh bệnh hết khi tư hoặc dứt,
Như thân phàm phu trong nhà ảo mộng
Huyễn không chấp trước
Biết huyễn liền rời xa
Rời huyễn tức giác
Đại giác viên minh
Kính soi mhuôn vật
Phàm Thánh không hai
An nghiệp lành xấu
Bi nguyện độ sanh
Làm trong cảnh mộng
Đương đầu nghiệp lực trong bao kiếp
Nên tỉnh giác việc xảy ra
Thuyền từ bơi trong bể khổ
Chớ sanh tâm thối thất
Sen nở từ bùn lầy
Có Phật đà ngồi trong đó ... C̣n rất nhiều
câu kệ, nhưng thầy quên rồi. Ngài c̣n dặn bảo thầy nhiều điều mà nay không tiện
nói ra." (Trích "Đường Mây Trên Đất Hoa, Nguyên Phong dịch, tr. 136-138). Di Lặc, Vị Phật Tương Lai Mỗi một vị Phật có măt trên thế gian
này đều là một đại sự nhân duyên. Đó là cả một sự chuẩn bị lâu dài để khi cơ
duyên đến là ta có một vị Phật ra đời, phù hợp với nhân sinh và thời đại, trong
tinh thần khế thời và khế cơ của Phật giáo. Thời đại và môi trường mà Đức Phật
Di Lặc ra đời, hành hoạt chắc chắn là khác xa với thời đại chúng ta. Những
khác biệt đó đều đă được mô tả rơ trong kinh sách, đặc biệt là Kinh "Phật Thuyết
Kinh Di Lặc Hạ Sanh Thành Phật". Có hai điểm mà chúng ta không
thể không quan tâm, đó là môi trường, thời đại và con người của thời đại Di Lặc,
và thứ hai, vị Phật tương lai của chúng ta sẽ thuyết giảng giáo pháp nào để độ
chúng, phù hợp với căn cơ của con người trong thời đại ấy? Trước tiên, môi
trường sống của con người trong thời đại Di Lặc đă hoàn toàn thay đổi. Cơi ta bà
đầy hệ lụy của những thời đại xa xưa nay đă biến thành một cơi thiên đàng hạ
giới, với "Địa cầu không gai gốc, mọc những cỏ xanh mềm, chân người dẫm lên
trên, giống như bông vải mịn." Đâu đâu cũng có cây lành trái ngọt, lương
thực và y phục đều thừa mứa, không ai c̣n phải quan tâm đến chuyện đói rách nữa.
Tuổi thọ trung b́nh của con người trong thời đại này là tám muôn tuổi. Con gái
năm trăm tuổi mới thành lập gia đ́nh. Tất cả mọi người đều có thân tướng đoan
nghiêm, đặc biệt là họ "không có các bệnh tật, ĺa khổ thường an vui."
Với tuổi thọ như thế, nhiều người sẽ cho rằng kinh sách
đă đưa ra những chuyện
hoang đường, không thể nào có được. Tuy nhiên dưới mắt nh́n khoa học, đây là chuyện rất mực b́nh thường.
Như ta biết, với sự tiến bộ của Y khoa, con người của thời đại này đă có thể
sống trên trăm tuổi. Song song với lănh vực Y khoa, bộ môn Sinh học
nay cũng đă đạt
được những tiến bộ đáng kể qua các lănh vực nghiên cứu về tế bào mầm, kỹ thuật
nhân giống,... Hăy tưởng tượng hàng ngàn năm sau, các bộ môn Y khoa và Sinh học
sẽ c̣n tiến bộ đến mức nào! Các tế bào lăo hoá chắc chắn sẽ được loại bỏ, các bộ
phận trong cơ thể con người sẽ được thay thế, trẻ trung hoá,... thế th́ con
người của thời đại này muốn sống bao lâu mà chẳng được? Chuyện căi lăo hoàn đồng,
đi t́m thuốc trường sinh bất tử sẽ không c̣n là giấc mơ của bạo chúa Tần Thuỷ
Hoàng!
Tuy nhiên sẽ vẫn c̣n có người thắc mắc: Nếu tuổi thọ con người kéo dài th́
địa cầu đâu c̣n đủ chỗ để chứa đựng một số lượng người đông đảo như thế? Nạn
nhân măn chắc chắn sẽ xảy ra! Xin đừng lo! Kinh "Phật Thuyết
Kinh Di Lặc Hạ Sanh Thành Phật" đă giải quyết vấn nạn này: "Bấy
giờ nước đại dương sẽ thu hẹp dần khoảng ba ngàn hai trăm du thiện na
(1), và địa
cầu sẽ mở rộng ra cả vạn du thiện na," đủ chỗ để cho con người sinh sống. Điều
này cũng không hề là chuyện hoang đường mà hoàn toàn phù hợp với vấn nạn đương
đại. Các nhà khoa học về môi trường đă cảnh báo rằng quả địa cầu đang bị hâm
nóng dần (global warming), và như vậy tiến độ bốc hơi nước chắc chắn sẽ dần dần
gia tăng. Đến thời đại Di Lặc, đại dương sẽ thu hẹp dần là do hậu quả của vấn
nạn này. Trên đây, chúng ta đă có một cái nh́n phớt qua về môi trường và con
người của thời đại Di Lặc. Một khi trái đất đă biến thành cơi thiên đàng hạ giới
và con người "không có các bệnh tật, ĺa khổ thường an vui," chúng ta
sẽ thắc mắc, không biết Đức Phật Di Lặc sẽ dùng pháp môn ǵ để độ chúng trong
thời đại này? Trong Kinh "Phật Thuyết Quán Di Lặc Bồ Tát Thượng Sinh Đâu Suất
Thiên", Đức Phật Thích Ca đă hé
mở cho chúng ta biết rằng Bồ Tát
Di Lặc hiện đang ở cung trời Đâu Suất và đang giảng dạy pháp môn Duy Thức. Điều
này cho phép chúng ta suy đoán rằng, trong tương lai Đức Phật Di Lặc chắc chắn
cũng sẽ dùng pháp môn Duy Thức để độ chúng.
Duy Thức là khoa học về Tâm, mà "Tâm dẫn đầu các pháp", thế nên không có một
pháp môn nào thích hợp hơn cho thời đại Di Lặc bằng Duy Thức. Bởi v́ một điều
rất phù hợp với luận lư là, sự tiến bộ của khoa học luôn luôn đi song song với
sự tiến bộ về mặt tâm linh. Khoa học ngày nay đang bước vào ngưởng cửa nghiên
cứu về Tâm, đến thời đại Di Lặc chắc chắn sẽ đạt được những thành tựu cụ thể và
con người của thời đại này chắc chắn cũng
sẽ đạt được những tiến bộ nhất định về
mặt tâm linh. Tâm quan trọng như thế, thế nên Kinh
nói,
“Tam
giới duy tâm”- ba cơi duy chỉ là một tâm.
Mở được cánh cửa vào Tâm tức
là mở được cánh cửa vào vạn pháp, đạt đến chứng ngộ, giải thoát một cách nhanh
chóng. Đức Phật Di Lặc sẽ giúp con người của thời đại này tháo gỡ những vướng
mắc cuối cùng về Tâm để đạt đến chân lư. Những lời thuyết giảng của Ngài sẽ
là sấm sét làm nổ bùng trí tuệ của những ai đang mấp mé bên bờ
giác ngộ, đưa họ nhập quả vị Thanh Văn. Thế nên trong suốt cả ba kỳ của Pháp hội
Long Hoa, những người được Ngài độ thoát đều nhập quả vị Thanh Văn một cách
nhanh chóng. Đó là chức năng của vị Phật tương lai Di Lặc.

Phật Di Lặc, Trung bộ Tây Tạng, khoảng giữa thế kỷ thứ 13 sau Tây Lịch
Nhân dịp Xuân về, ta cùng chúc nhau một Mùa Xuân Di Lặc. Chúc nhau một
Mùa Xuân Di Lặc có nghĩa là nguyện cầu cho nhau sống trong Chánh Pháp, tinh tấn
tu học, trong niềm mơ ước và tin tưởng rằng, mai đây chúng ta sẽ thác sanh về
cung trời Đâu Suất, được gặp gỡ Bồ Tát Di Lặc, chư vị Hiền Thánh Tăng, quư Ngài
sẽ d́u đắt chúng ta tiến bước trên con đường vươn tới giác ngộ, giải thoát.
Đức Phật đă hứa khả như thế
trong kinh
Trung A-hàm
17:
“Người mà tâm-ư-thức luôn luôn được huân
tập bởi tín, tinh tấn, đa văn, bố thí, trí
tuệ; người ấy do nhân duyên này tự nhiên
thác sinh lên cơi trên, sinh vào thiện xứ…”
Nam Mô Long Hoa Giáo Chủ Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật.
Tâm Hà Lê
Công Đa
Chú Thích:
(1) Du Thiện Na (Yojana,) cũng đọc là: do tuần, do
diên, du xà na. Số mục để đo đường bên Ấn Độ hồi xưa. Một du thiện na bằng 16
dặm (lư) bên Tàu, tương đương với 3 miles (1 lư tương đương với .2 miles) theo
hệ thống đo lường ngày nay. |