
HỘI
NGHỊ NI GIỚI VÀ NỮ CƯ SĨ PHẬT GIÁO
MINH MẪN
Chiều ngày
27/12/09, tại chùa Phổ Quang, quận Tân B́nh, nhộn nhịp chuẩn bị ra mắt Hội Nghị
nữ giới Phật giáo Thế giới lấn thứ 11, được Phân ban đặc trách ni giới Việt Nam
đăng cai tổ chức.
Khuôn viên
chùa Phổ Quang c̣n bề bộn vôi hồ vữa trong công tŕnh xây dựng một góc sân, phần
c̣n lại vẫn tiến hành theo chương tŕnh hoạch định mà 12 tháng qua đă chấp nhận
cho Ni sư Tsomo, chủ tịch hội Phụ nữ Phật giáo Thế giới (Sakyadhita), được phép
luân phiên tổ chức hai năm một lần trong những quốc gia có Phật giáo.
Đại hội Nữ
giới Phật giáo Thế giới lần đầu tiên ra mắt tại Bodhgaya, Ấn độ, năm 1986, do Ni
sư Tsomo, Tiến sĩ Triết kiêm phó giáo sư phân khoa tôn giáo học và Thần học của
đại học San Diego, làm chủ tịch, mục đích xiển dương gương sáng đạo hạnh và tài
năng của những người nữ tại gia cũng như xuất gia, được gọi là những người con
gái lỗi lạc của Đức Phật; Để từ đó, những người con Phật thuộc giới nữ lưu gắn
bó, liên kết đến sự phát triển xă hội.
Kiều Đàm
Di Mẫu, một tấm gương của Ni giới trong Phật giáo, thể hiện trọn vẹn Tài Đức và
Hạnh, vượt qua nhiều chướng ngại của cổ tục xă hội giai cấp kỳ thị mà Ấn Độ trăi
qua hàng ngàn năm, để trở thành một nữ tu đầu tiên chứng tỏ khả năng chuyển hóa
tự thân và trí tuệ b́nh đẳng không bị hạn chế bởi giới tính. Làm rạng danh Ni
giới song song với các bậc Thánh Tăng đương thời, từ đó, giành cho Phật giáo một
vị thế có một không hai trong xă hội Ấn độ. Dĩ nhiên, sau Kiều Đàm Di Mẫu, vẫn
c̣n những thế hệ kế thừa mà kinh tạng Nikaya lẫn Bắc truyền thường nhắc đến.
Trong
những quốc gia Phật giáo mà Ni giới được một vị trí tương xứng, hẳn phải có một
sự truyền thừa chính thống để từ đó, hạt giống ưu việt có môi trường sanh sôi
nẩy nở. Nhất là các quốc gia Phật giáo Bắc Truyền, ni giới không là chiếc bóng
của chư Tăng, mà họ là con đường song hành chứng tỏ ánh sáng mặt trăng có một
giá trị chuyên biệt như ánh sáng mặt trời. Tại H
àn Quốc,
Ni giới từng đóng vai tṛ truyền bá Phật pháp trong giai đoạn khởi nguyên. Sunim
Sa Morye là Tỳ kheo ni đầu tiên hổ trợ cho HT Ado truyền bá Phật Pháp vào kinh
đo Silla. Hoàng hậu vua Jingheung cũng xuất gia làm tỳ kheo ni hiệu Bopun, bà độ
cho nhiều phu nhân cùng theo xuất gia tu tập.Cũng có Tỳ kheo ni là lương y từng
chữa bệnh cho quốc sư trong triều đại Sin Mun. Năm thứ 12, triều vua Jinheung đă
ban sắc cho Tỳ kheo ni Ani làm ni trưởng Ni bộ. Trong các thời đại Tam kinh,
Goryeo, joseon , ni giới đă đóng góp cho xă hội đương đại không những về hạnh
đức, kiến thức mà c̣n y học và từ thiện. Ngày nay, ni giới Hàn quốc đă ḥa nhập
xă hội qua con đường giáo dục, từ thiện, hoằng pháp. Ni giới có một thành tích
lớn truyền bá và phát triển Phật giáo vào Hàn Quốc cũng như truyền sang Nhật
Bản. Tŕnh độ ni chúng Hàn quốc hiện nay đại học hoặc trên đại học, tham gia vào
các chương tŕnh giảng dạy Phật pháp và thế học. Ni giới cũng quản lư 30 trung
tâm thiền học hiện nay tại Hàn quốc. Ni bộ Hàn quốc được biết đến ba ni sư danh
tiếng, đạo cao đức trọng như sư bà Guemryong,Hyeoak và Sueak. Năm 2003, ni viện
Beob Ryong Sa được thành lập giúp ni giới có điều kiện tham cứu Phật pháp áp
dụng vào xă hội bằng tinh thần từ bi.
Tại Hoa
kỳ, một sự lư thú, cô Joyce Adele Pettingill, một gia đ́nh Tin Lành ngoan đạo,
nhân dịp ghi danh phân khoa Phật học, cô được HT Thiên Ân, viện trưởng viện Đại
Học Đông Phương khai thị thâm hiểu Phật pháp, sau đó cô đă hợp tác cùng HT sáng
lập Thiền viện quốc tế và trở thành nữ viện trưởng sau khi HT viên tịch. Cô xuất
gia năm 1976, pháp danh là Ni sư Karuna;
được HT
Thiên Ân đặt cho pháp tự là Thích nữ Ân Từ. Ni sư cũng từng tham dự Hội nghị Ni
giới quốc tế tại Kulalampur.Malaysia, và cùng được mời làm hội trưởng với Ni sư
Tsomo cùng thời điểm 1986 tại Bodhgaya, cô đóng góp không nhỏ trong việc phổ
biến giáo lư trong xă hội Mỹ.
Tại Việt
Nam, từ thế kỷ đầu du nhập, Phật giáo cũng xuất hiện những bậc anh lưu kiệt
xuất, cho đến Hai bà Trưng từng là Phật tử, nhiều nữ tu và nữ tín đồ từng tham
gia chống giặc ngoại xâm. Trong lúc ổn định xă hội, ,Việt Nam từng có một Sư bà
Diệu Không, sư bà Như Chí, Sư bà Như Thanh..ni sư Huỳnh liên một thời vang danh
trong ni giới. Nữ tu gần đây nhất, thuộc gịng dỏi trâm anh thế phiệt, có một
tŕnh độ phật pháp uyên thâm và kiến thức thế học ưu lăm, đóng góp cho kho tàng
văn học VN qua nhiều dịch phẩm, đó là Ni sư Trí Hải. Sau 1990, phong trào du học
đă đào tạo rất nhiều ni cô có bằng Tiến sĩ, Thạc sĩ cả hai hệ phái Bắc tông và
Khất sĩ tạo một sắc thái mới cho ni giới Việt Nam. Nhất là phía Nam, ni giới
chứng tỏ khả năng qua đại lễ Vesak, và bây giờ là Hội nghị ni giới, do chư ni
đứng ra tổ chức, điều hành.
Cái thao
lược về trí tuệ như một Trí Hải, cái dung nạp về trí thức như các ni trẻ đă và
đang bảo vệ tiền sĩ, đều nói lên khả năng của nữ lưu tương phùng với nam giới mà
không v́ giới tính bị hạn chế.
Ngày xưa,
qua Trưởng lăo Ni kệ cho ta thấy một Mahàpajàpàti Gotami đă dùng nội chứng để
chuyển hóa các học nữ xuất gia, các bậc xuất sĩ ni giới từng tuyên xưng những kệ
tán của tâm chứng, th́ ngày nay, thay v́ hướng nội chuyển hóa nhân cách, các nữ
lưu lỗi lạc của đức Thế Tôn góp tay đem lại an lành cho xă hội mà một số sư cô,
hoặc là bác sĩ, hoặc là điều dưỡng, thâm thậm chí là bảo mẫu trong các viện mồ
côi giúp cho người dân an ḷng trước bệnh tật đói nghèo.
Tuy gần 30
năm, Ni chúng không có một vị trí chính thức trong cơ cấu hành chánh giáo hội,
nhưng truyền thống sinh hoạt b́nh đẳng ni giới của các quốc gia Bắc truyền, giúp
chư ni có một quyền hạn nhất định trong phạm vi chuyên biệt, làm giềng mối tồn
tại và phát triển mà chỉ có các ni chúng Bắc truyền mới nuôi dưỡng được sinh lực
đó. Tuy Bát kỉnh pháp có là tấm b́nh phong xác định vị trí lưỡng cực, nhưng
không là rào cản tiến bộ tâm linh và trí thức; Ngược lại một số nữ tu của Nam
truyền, tự an phận với vị thế cách biệt, đă không làm nổi bậc được khả năng tiềm
ẩn của một người con gái Phật trong các thời đại.
Chính v́
thế, Hội nghị nữ giới Phật giáo Thế giới không chỉ nêu lên tấm gương sáng của
quần lưu, khả năng sẵn có của thân nữ, c̣n muốn gắn kết tất cả những người con
gái đức Phật có một ư thức tự tồn, đoàn kết và tiến hóa để giúp cho xă hội nhiều
hoàn thiện hơn cả lĩnh vực xă hội lẫn văn học và đạo đức.
Phân Ban
Đặc trách Ni giới Việt Nam, tuy vừa h́nh thành chưa tới nửa năm, do nhu cầu Hội
nghị quốc tế, cũng đă chứng tỏ khả năng tiềm ẩn từ lâu chưa có dịp phát tiết.
Qua chuẩn bị Hội nghị,, các khâu triển lăm, họp báo và điều hành, phải xác nhận
các ni trẻ tạo được niềm tin cho một ni giới Việt Nam trong tương lai. Giá mà,
Ni giới được sớm xác lập là một trong những thành phần cốt lỏi trong ngôi nhà
PGVN để phát triển từ khi thành lập Giáo Hội, san sẻ bớt gánh nặng cho chư tôn
đức Tăng đang kiêm nhiệm quá nhiều Phật sự, th́ guồng máy Giáo Hội sẽ sinh hoạt
nhẹ nhàng hơn, khởi sắc hơn. Gần 30 năm mà Hiến chương PGVN vẫn chưa có một điều
khoản xứng đáng để ni giới là một cơ phận quan yếu trong Phật giáo ngày nay. Qua
Hội Nghị Nữ Giới Phật Giáo thế Giới lần thứ 11 nầy, liệu PGVN rút ra được một
quan tâm về vai tṛ nữ giới nói chung và ni giới nói riêng trong cơ chế PGVN,
khả dĩ đóng góp cho xă hội cũng như Giáo hội một sắc thái ḥa hợp mà Phật giáo
từng đồng hành cùng dân tộc???
MINH MẪN
27/12/09
|