Ngôi chùa
trong tâm tưởng
Nguyễn Văn Sâm
Thứ Năm, 28 tháng 1 2010
Nguyễn Văn Sâm sanh tại
Sài G̣n,1940. Từng dạy ở trường Nguyễn Đ́nh Chiểu,
Mỹ Tho, Pétrus Kư, Đại Học Văn Khoa (Sài g̣n) và các
trường Đại Học Vạn Hạnh, Cao Đài, Hoà Hảo, Cần Thơ.
Sang Mỹ từ năm 1979, vẫn sống bằng nghề dạy học.
Viết cho Văn, Văn Học và các tạp chí Việt ngữ của
người Việt. Trước 1975 chuyên viết về biên khảo văn
học. Ở Mỹ, Nguyễn Văn Sâm viết truyện ngắn v́ những
thôi thúc phải nói lên sự suy nghĩ của ḿnh về quê
hương và thân phận người Việt, ngay trên quê hương,
hay lạc loài tha hương. Gần đây, trở về gia tài cổ
của dân tộc bằng cách phiên âm các tuồng hát bội,
truyện thơ viết bằng chữ Nôm chưa từng được phiên âm
mà nguyên bản hiện c̣n đang nằm trong các thư viện
lớn ở Âu Châu. Thành viên Ban Biên Tập Tự Điển Chữ
Nôm Trích Dẫn. Giáo sư Viện Việt Học, California,
Hoa Kỳ. Cư ngụ tại Texas, Hoa Kỳ.
Tôi có người bác ruột, bác Ba, tu ở cái cốc trong
khuôn viên nhà vốn là một khu vườn dừa rộng răi.
Hằng ngày tôi được đánh thức dậy bằng tiếng mơ lốc
cốc, tiếng kệ kinh ê a của sư bác khi trời mới vừa
hừng sáng. Má tôi nói sư bác trước dạy học cũng nổi
tiếng trong vùng, bỗng nhiên từ nhiệm về đây dựng
cốc tu hành, chắc có tâm sự ǵ đó. Má c̣n nói kệ
kinh công phu sáng của sư ít nhứt cũng đánh thức
người chung quanh dậy đúng giờ, đó là chưa kể gương
kiên nhẫn của sư là một bài học quí giá nên theo.
Buổi chiều, trời mới chạng vạng là sư đă có thời
kinh tối, chăm chỉ, không ngày nào mệt mỏi. Cái cốc
của sư bác là nơi tôi thăm viếng khi thiếu lũ bạn
cùng lứa để rong chơi ngoài đồng hay tắm sông, bẻ
mía, lặt dừa, tát đ́a, ṃ cá...Lần nào sư bác cũng
cho trái cây cam quít, chuối, đu đủ chín rục có
những dấu tích đổi màu do chưng hơi lâu trên bàn
Phật. Nhiều khi qua cốc lúc sư đương thời kinh, tôi
tự nhiên ngồi ở một mép chiếu để lắng nghe cái âm
thanh huyền bí có sức ru ngủ ḿnh với tất cả sự
thích thú và ḷng kiên nhẫn đợi chờ được sư bác ṿ
đầu nói vài ba câu chuyện đời rồi cho ê hề bánh trái.
Lần nào cũng vậy trong khi chờ đợi, tôi ṭ ṃ nh́n
mấy tấm tứ thời treo trên vách lá vẽ h́nh ông Phật
ngồi nhắm mắt tham thiền hay ngắm nghía h́nh quỷ dữ
mặt xanh nanh vàng, đầu u nần năm bảy cục đang lấy
chĩa ba đâm người hay kéo lưỡi cắt họng thiên hạ.
Lúc rảnh rang sư bác thường cắt nghĩa về những bức
tứ b́nh đó và thường nhấn mạnh bây giờ là đời mạt
pháp quỷ sứ ma vương tràn đầy ngoài đường, đức Phật
Bồ Tát cũng xuống thế độ nhơn nhưng ít thành công
hơn thời Thượng Nguơn v́ con người bây giờ làm điều
xấu quá nhiều.
Tôi thắc mắc là sao ngoài đường không bao giờ thấy
quỉ sứ, ma vương ǵ hết. Sư bác cười, ṿ đầu tôi
hỏi: “Con có bao giờ thấy thằng ăn trộm, thằng đâm
thuê giết mướn không? Nó trộm đồ mà người ta đổ biết
bao nhiêu công khó mới có, nó nhận tiền người nầy để
chém giết người kia nhưng mặt mày nó ngoài đời cũng
b́nh thường như chúng ta mà thôi. Đó là quỷ sứ nhập
thân hay là ma vương hiện h́nh đó con. Thợ vẽ vẽ mặt
mày ma vương có nanh vuốt là để cho dễ thấy dễ biết
mà thôi, chớ thật sự quỷ sứ ma vương không khác ǵ
người thường hết đâu con. Vậy nó mới sống chung lộn
với người đời, mới hại người ta được.”
“C̣n Phật th́ sao sư bác? Phật có hào quang trên
đầu. Phật chỉ ngồi tham thiền thôi phải không sư
bác?”
“Đó là Phật ngày xưa lâu lắm rồi. Thời mạt pháp nầy
Phật xuống thế gian ở mọi nơi, lúc nào chung quanh
ta cũng có Phật, cũng có Bồ Tát giúp ta tranh đấu
chống ma vương. Chỉ tại ḷng ta không đủ tín thành
để chấp nhận đó là Bồ Tát mà thôi.”
“Sư bác nói khó quá con không hiểu.”
“Nầy nhe! Phật không xuống thế bằng một nhân thân,
mà xuống thế thành muôn vạn người vô h́nh hay hữu
h́nh ở kế bên mỗi người chúng ta. Phật trợ duyên
từng người để biến người đó thành Bồ Tát trong một
thời khoảng ngắn. Nếu người nào thành Bồ Tát nhiều
lần, thành Bồ Tát lâu dài th́ sau nầy khi chết sẽ
được siêu độ. Nhưng bên cạnh người đó cũng có quỷ
sứ, ma vương hiện diện. Nó xúi giục làm bậy như trộm
cắp, láo xược, ngoại t́nh, gian dối, ức hiếp để dành
giựt ruộng vườn nhà cửa của kẻ cô thế nếu người nào
nghe theo chúng th́ biến thành ma vương một thời
gian. Biến thành ma vương nhiều lần th́ khi chết sẽ
bị đọa địa ngục đời đời chịu khổ h́nh dưới âm ty
không thể đầu thai.”
Tôi vùng ôm mặt khóc lớn, nức nở:
“Vậy con sẽ bị đọa địa ngục. Sư bác cứu con với. Con
ăn cắp hết ba trái xoài của bà nội vú trong khạp gạo
rồi đổ thừa cho thằng em con. Lần trước nải chuối sứ
cũng vậy. Con cũng lén cạy ống heo của đứa em gái
nữa, mỗi ngày cạy lấy một chút, con cũng bẻ trộm mía
của hàng xóm, con cũng ăn hiếp thằng Tửng nhà xóm
trên v́ nó nhỏ hơn con.”
Sư bác tôi từ tốn giải thích:
“Những lúc làm điều xấu như vậy con đă biến thành ma
vương thời gian đó. Nếu con biết ḿnh 1àm xấu mà
chừa đi, mà ăn năn làm lành trở lại th́ ma vương
không thể dụ dỗ con để làm nô lệ cho nó nữa. Lâu
ngày nó chán bỏ đi kiếm người khác dễ dụ dỗ hơn. Làm
điều tốt th́ con đă hóa thân thành Bồ Tát lúc đó. Bồ
Tát hay ma vương là những trạng thái ngắn hạn trong
ḷng mỗi con người, không phải là trạng thái hằng
cửu. Lúc làm Bồ Tát th́ người ta sung sướng thơ thới
ḷng, mặt mày sáng sủa rạng rỡ như có hào quang tỏa
ra. Lúc làm ma vương th́ ḷng nóng như bị thiêu đốt,
khó chịu, mặt mày đăm chiêu buồn lo. Đó là lửa dục
thiêu đốt ḷng, đó là những u nần mọc ngược vào
trong tâm năo, đâm vào phía bên trong của người
con.”
Tôi lư sự trả treo:
“Vậy th́ con người đồng thời là Bồ Tát và ma vương?”
“Đúng vậy! Khi hành động v́ người khác, ḿnh là Bồ
Tát, khi hành động có hại cho người khác để lợi cho
ḿnh, ta là ma vương. Nói là nói đơn giản như vậy,
chứ hành c̣n hạnh nữa. Hành vi Bồ Tát nhưng tâm hạnh
ma vương th́ cũng là ma vương thôi. Mà thôi! Con
buồn ngủ rồi, ta sẽ nói chuyện hành và hạnh trong
dịp khác.”
Tôi buồn ngủ thiệt t́nh, mấy từ ngữ khó nuốt trôi
như hóa thân, trạng thái ngắn hạn, trạng thái hằng
cửu, lửa dục hào quang mà không thấy được, u nần mọc
vào bên trong tâm năo nhảy múa loạn xạ trong trí
tôi. Tôi cũng ngán ngẩm khi nghe đến các khái niệm
hành và hạnh. Chúng không hấp dẫn bằng nải chuối
thâm kim, mấy trái quít và hai chén chè trên bàn
Phật trước mặt đang cười cười mời gọi.
Sư bác tôi nh́n thấy ánh mắt ước muốn của cháu ḿnh,
nói trong nụ cười hiền từ:
“Con đương bị ma vương dụ dỗ đó. Bây giờ c̣n nhỏ th́
chẳng sao đâu, ma vương chỉ dụ được những việc xấu
nhỏ, nhưng đừng để ma vương có dịp lớn lên trong tâm
hồn ḿnh. Quan trọng là phải chống lại những cám dỗ
của ma vương.”
Sư bác tôi đứng dậy nhón chưn hạ dĩa trái cây xuống,
hào phóng đưa cho đứa cháu trần tục của ḿnh thiệt
nhiều quà của Phật.
Chỉ đợi có vậy, tôi kéo banh vạt áo trước ra đựng,
hai tay ôm chặt, chạy u ra tuốt mé mương ngoài ŕa
vườn nhà nơi thường có mấy thằng bạn trang lứa tụ
tập trửng giỡn, phá phách.
“Xuống xe qua bac bà con cô bác ơi!” Người lơ xe
vừa nhảy xuống, xe vẫn c̣n trờ bánh tới nhè nhẹ, đă
ca bài ca xưa cũ. “ Chỉ có ông bà già là được ngồi
lại trên xe, c̣n ai thanh niên th́ xuống đi bộ qua
bac nhe! Tới trước kia mà nhận giấy qua bac.”
Mọi người lục tục xuống xe, người lếch thếch đi
t́m chỗ tiểu tiện, kẻ xăm xăm vô quán kiếm chút ǵ
đó dằn bụng, giáo Bửu theo đám đông bước về phía
trước, chỗ xét giấy, nơi đây thằng lơ xe đă đợi sẵn
ch́a cho khách của xe ḿnh tấm giấy trả tiền qua
bac. Giáo Bửu nh́n đoàn xe nhà binh rồi lắc đầu ngao
ngán: “Điệu nầy hai ba giờ đồng hồ nữa biết xe ḿnh
nhúc nhích được chưa. Xe nhà binh ưu tiên mà đi hành
quân dài sọc như thế nầy tới bao giờ xe dân sự mới
được qua.”
Anh bước vô đám đông để nghe điệu ca vọng cổ mùi
tận mạng do một nghệ nhân lỡ thời đương xuống giọng
xề. Nghệ nhân cụt hết hai tay tới cùi chỏ, chỉ c̣n
lại lủng lẳng hai cánh trước. Anh ta mang trước ngực
một cái lon sữa ḅ là chỗ đựng tiền do khách bộ hành
mủi ḷng thương hại bố thí cho. Cái micro được cột
vô một cánh tay cụt, khi nghệ nhân cất giọng ca th́
giơ lên, người cột đă canh vừa đủ tầm cho âm thanh
có thể bắt được.
Giáo Bửu hờ hững nghe, cũng bâng quơ ngó người
đàn bà già trước tuổi đi sau nghệ nhân, ôm cây đàn.
Bỗng anh như nhảy nhổm lên hỏi lớn:
“Phải mầy đó không Phan?”
“Phải! Bửu c̣n nh́n tôi sao? Tưởng giả bộ quên
tôi rồi!”
Giáo Bửu ứa nước mắt, hai tay choàng qua ôm bạn:
“Hơn chục năm rồi ḿnh không gặp nhau. Cuối năm
học đó ḿnh không bao giờ gặp lại bạn nữa.”
Người chung quanh ṭ ṃ nh́n sự tương phùng của
hai người bạn. Người đàn bà của Phan lănh đạm ngó
bạn của chồng.
Giáo Bửu xăng xái mời hai người ghé vào quán gần
đó.
Bên ly trà đá người nghệ nhân kể lại đời ḿnh
với một giọng thiệt b́nh thường nhưng Giáo Bửu nghe
như kim đâm vô tim từng cái từng cái đau điếng hồn:
“Tôi mất căn bản về Toán và Sinh ngữ, anh chỉ
giùm th́ biết chút chút vậy thôi, Khi anh quá bận
th́ tôi đành chịu. Cuối năm đó thi lên lớp rớt, phải
về quê làm ruộng với ông già. Anh cũng biết vùng xôi
đậu mà, ban ngày bên quốc gia, ban đêm họ về, tuyên
truyền, bắt lính. Họ bắt ḿnh theo vô bưng. Thời
chiến tranh mà! Vướng vô ṿng th́ không chuyện nầy
cũng chuyện khác.Trong một trận chống càn, tôi bị
pháo trúng...tàn phế nên được tản cư ra chợ đă năm
sáu năm nay. C̣n sống là may. Có người vợ chịu
thương chịu khó theo ḿnh cũng là một cái may nữa.
Gặp anh, anh không sợ mất thể diện mà nh́n bạn, tôi
sung sướng vô hồi. Mấy năm nay tôi sống trong bi
thiết chán chường lúc nào cũng muốn rũ sạch bụi trần
để ra đi. Đời ḿnh c̣n ǵ nữa đâu để ham hố níu kéo.
Chưa làm được v́ c̣n một mụn con thơ và người đàn bà
tri kỷ.” Giọng Phan nhỏ dần như tiếng thở dài hiu
hắt. Giáo Bửu nghẹn ngào ray rứt trong tâm, thấy
dường như ḿnh có lỗi.
Tôi đi trả nợ cho nửa quê hương thất trận hơn mười
năm mới trở về, ngơ ngác giữa ḍng đời bon chen xào
xáo nhưng hiếm hoi chân t́nh với người chung quanh
gần gũi. Cha tôi đă mất, sư bác cũng đă siêu linh
tịnh độ hơn bảy tám năm nay rồi. Những buổi chiều
buồn, tôi lang thang vô cái cốc hoang phế đóng kín
cửa, phủ lớp bụi trần từ ấy để t́m chút dư vị tuổi
thơ. Một lần tôi ṭ ṃ mở một gói giấy dầu đặt ở
cuối góc trang thờ Phật, ngoài có đề mấy chữ nắn nót:
Kinh Phật A Di Đà. Tôi mở ra, ngoài hai gói kinh c̣n
có một gói tiền toàn giấy nhỏ một trăm, hai trăm,
năm trăm, một ngàn, hai ngàn .. và một bức thơ gởi
cho tôi.
Phong Điền, ngày tháng năm vô vọng.
Tuấn con,
Tiền nầy sư bác chắt mót kỳ khu hơn hai chục năm
mới có được. Đổi đi đổi lại th́ ra thế nầy, đủ để
mua mười lượng vàng hay cất một kiểng chùa nho nhỏ
cho Phật tử có nơi đến chiêm bái đấng Từ Phụ. Đủ
tiền th́ sư bác thỏa măn ước vọng xây chùa đồng thời
thất vọng về chính ḿnh, té ra bao nhiêu năm nay
ḿnh lặn lội cực nhọc, ḿnh dè xẻn khiêm tốn v́ một
số tiền, ḿnh cười với tín hữu nầy, vâng dạ với tín
hữu kia v́ số tiền đó.
Ngôi chùa phác họa trong tâm tưởng hướng dẫn cái
hành Bồ Tát, c̣n cái hạnh Bồ Tát của sư bác nằm ở
đâu? Cất chùa lớn rồi th́ sư bác phải dính vô chuyện
duy tŕ chùa, bảo vệ chùa, sư bác sẽ sinh hoạt chùa
chớ c̣n đâu tâm trí để tu hành kệ kinh, sư bác sẽ
làm chuyên chùa sự chứ đâu phải làm chuyện Phật sự.
Cái hạnh Bồ Tát suốt đời sư bác nhắm về coi như mỗi
lúc càng chạy ra xa.
Khám phá ra điều nầy, sư bác thấy bao nhiêu năm
nay tưởng rằng ḿnh làm đúng hóa ra sai. Sư bác tạ
lỗi với chư Phật bằng cách tuyệt thực từ từ cho đến
ngày được về chầu Phật tổ. Số tiền nầy con có toàn
quyền sử dụng theo ư muốn, có ích cho con hay cho
người khác đều được.
Nhưng con nên nhớ cái hạnh đáng quí gấp mấy lần
cái hành.
Cầu nguyện ơn trên gia hộ cho con.
Thích Giác Nguyện.
Chỗ kư tên thế danh lâu ngày mực nḥe nhoẹt không
đọc được, cố gắng lắm mới nh́n ra là Nguyễn văn Bửu.
Số tiền đó má tôi chép miệng than rằng với thời giá,
mua chưa đầy ba chỉ vàng, một cái chùa b́nh thường
nho nhỏ ở vùng quê lúc nầy cũng phải tốn gấp trăm
lần số đó. Ngồi nh́n gói tiền lâu ngày ẩm mốc, bốc
mùi tanh tanh từ những bàn tay dính đầy dầu mỡ, cát
đất, cá thịt của chúng sanh nghèo khổ khi cúng dường
cho sư, tôi quyết định đem đốt bỏ để giải thoát
hương linh sư khỏi vướng víu với nó nữa. Nơi chốn
thiêng liêng kia chắc sư không c̣n thắc mắc về hành
hạnh, theo tôi hai khái niệm nầy ḥa quyện lẫn nhau
không có lằn ranh phân biệt, càng biện biệt ta càng
bị bủa vây không lối thoát.
Xếp bằng chỗ ngày xưa sư bác đặt bồ đoàn ngồi gơ mơ
tụng kinh, tôi đốt từ tờ những tấm giấy bạc thiệt
như người ta đốt giấy tiền vàng mă. Ngọn lửa xanh
lân tinh từ tốn ngún cháy, liếm từ chút từ chút, mấy
cái h́nh trên giấy bạc bỗng chốc trở nên méo mó dị
dạng. Tôi chợt mơ hồ thấy nụ cười hiền từ của sư bác
quanh quẩn đâu đây.
“Mong sư bác siêu thăng, hành và hạnh Bồ Tát chẳng
qua là những điều dạy đạo lư giúp người đời sống từ
bi vị tha, sư bác đă hành thiện, đă sống xứng đáng
là một con người khi cố gắng thực hành một ước vọng
không v́ ḿnh. Sư bác đáng được về cơi tĩnh hằng
miên viễn như một Bồ Tát.”
Nguyễn Văn Sâm
Victorville, CA 12/09