MỘT KINH
NGHIỆM TRÊN HY MĂ LẠP SƠN
Tác gỉa:
Mathhieu Ricard
- Hoang Phong Việt dịch
Matthieu
Ricard là người đă sống trên triền núi Hy-mă-lạp-sơn từ bốn mươi năm
nay. Ông sẽ kể cho chúng ta nghe cuộc sống hàng ngày của một người
tu hành, và cả những kinh nghiệm của ông về thiền định và khoa học.
(Đây
là bài báo do chính ông M. Ricard viết và đăng trên nguyệt san quốc
tế nổi tiếng của Mỹ là tờ National Geographic, qua ấn bản tiếng Pháp,
số 100 kỷ niêm đầu năm 2008. Các h́nh ảnh trong bài báo cũng do
chính ông chụp. Trong số báo này c̣n có các bài khác nói vể dân tộc
Tây tạng và kinh đô Lhassa. Hoang Phong lược dịch.)
Đối với
tôi, Phật giáo đă trở thành những ǵ thật căn bản cho đời tôi. Cố
gắng đạt được sự hiểu biết nội tâm, t́m hiểu bản chất của tâm thức,
nắm vững được sự vận hành của hạnh phúc và khổ đau, là những ǵ khơi
động trong tôi từng giây phút một trên đường tu tập hầu cải thiện
cuộc sống của chính tôi. Con đường ấy mang những sắc thái triết học
và những suy tư sâu xa, và thêm cả sự thành kính nữa, nó đă giúp tôi
hướng về thể dạng « Giác ngộ », biểu hiện của một vị thầy tâm linh
là Đức Phật.
Cuộc đời
tôi bổng nhiên đổi hướng, sự đổi hướng ấy xảy ra vào ngày 2 tháng 6
năm 1967. Ngày hôm đó, tôi có dịp làm quen với một người mà sau này
đă trở thành vị thầy tâm linh của tôi, đó là vị đại sư Kangyour
Rinpoché. Lúc ấy tôi mới 20 tuổi và đang chuẩn bị bước vào viện
Pasteur để soạn một luận án tiến sĩ (1) về khoa tế bào di truyền học
trong pḥng thí nghiệm của Giáo sư François Jacob, người đoạt giải
Nobel về y khoa năm 1965 (cùng với hai vị giáo sư khác là André
Lwoff và Jacques Monod). Nhưng thật ra trước đó, từ năm 1966 tôi đă
quyết tâm lên đường sang Ấn độ, sau khi xem các bộ phim hết sức
ngoạn mục của một người bạn là Arnaud Desjardin nói về các vị đại sư
Tây tạng phải rời bỏ xứ sở của ḿnh bị Trung quốc xâm chiếm và họ
đang sinh sống trên các triền núi phía Nam của Hy-mă-lạp-sơn. Vào
thời bấy giờ, t́m đến những nơi này quả thật là một sự phiêu lưu.
Tôi phải chọn các chuyến bay rẻ tiền và v́ thế mà chuyến du hành
phải mất nhiều tuần, hơn nữa tôi lại không nói được tiếng Anh sành
sỏi. Sau những chuyến du lịch bằng tưởng tượng qua sách vở th́ giờ
đây tôi đang bắt đầu một chuyến du hành tâm linh thật sự.
Vị đại sư
Kangyour Rinpoché quả thật là một vị thánh, một sinh linh hoàn hảo,
một nhà hiền triết. Có thể nói đó là h́nh ảnh của thánh Françoise
d’Assise hay của các nhà hiền triết thuộc thời kỳ Cổ đại đă từng ám
ảnh đầu óc tôi trong những ngày thơ ấu.
Bạn bè nói
cho tôi biết tên của ông ta, và khi vừa đến Darjeeling, tôi đă t́m
ngay được ông. Gần như suốt ngày hôm ấy tôi ngồi trước mặt ông, cố
gắng chập chửng « thiền định », nhưng thật sự ra là ngồi trầm tư bên
cạnh ông th́ đúng hơn. Sự hiện diện của ông đă đem đến cho tôi thật
nhiều xúc cảm… Cái sâu xa, cái sức mạnh, cái trong sáng và nhất là
cái t́nh thương toả rộng từ thân xác ông đă khai mở tâm trí cho tôi.
Ông là một trong số những sinh linh đă hiểu được thế nào bản thể
đích thực của sự hiện hữu. Một vị thầy đích thực không phải chỉ biết
giảng dạy mà c̣n phải biết đem cả sự hiện hữu của chính ḿnh để làm
gương sáng. Sau vài tuần bên cạnh ông, tôi quyết định tiếp tục khám
phá thêm vùng đất mới này : từ Bắc Ấn, Ba-la-nại cho đến
Cachemire…Vào thời bấy giờ, Darjeeling và Katmandou chỉ là những thị
trấn nhỏ bé và êm đềm, không giống như ngày nay đă trở thành những
đô thị đông đúc, kẹt xe và chật cứng người.
Tôi ngao
du ba tháng trong khu vực đó của thế giới. Và chính ba tháng ấy đă
thay đổi cả cuộc đời tôi sau này.
Khi trở về
quê hương để bắt đầu năm khảo cứu đầu tiên ở Viện Pasteur th́ tôi
mới chợt nhận ra rằng cuộc gặp gở với thầy tôi đă tác động trong tôi
một cách thật sâu xa. Những phẩm tính của ông cứ vương vấn măi trong
tâm hồn tôi. Tôi đă ư thức được chính đó là một một cái ǵ thật đích
thực thu hút sự hiện hữu của tôi và sẽ mang lại cho cuộc sống của
tôi một ư nghĩa, mặc dù trong lúc ấy tôi cũng chưa đủ sức để h́nh
dung được cái ư nghĩa ấy như thế nào.
Năm sau
vào dịp nghỉ hè, tôi vội vă trở lại Darjeeling. Và cứ tiếp tục như
thế, mỗi năm tôi trở lại đây, rồi đến năm thứ sáu tôi nhất quyết
chọn lấy cho ḿnh một quyết định, một quyết định mà không bao giờ
tôi hối tiếc : tôi muốn được sống trong một nơi mà tôi hằng mong
ước, và thế đó tôi đă lưu lại Darjeeling từ năm 1972. Dĩ nhiên là
việc ấy đă làm cho vị thầy của tôi là Giáo sư François Jacob vô cùng
sửng sốt. Về phần cha tôi là triết gia Jean-François Rével th́ ông
rụng rời cả tay chân. Riêng mẹ tôi là họa sĩ Yhane Le Tourmelin,
cũng như người cậu của tôi là Jaques-Yves Le Toumelin, một nhà đi
biển phiêu lưu và đơn độc, lại tán thành lư tưởng của tôi. Sau này
mẹ tôi cũng sang Ấn độ và cùng tôi tu học với các vị thầy của tôi.
Sau khi vị
đại sư Kangyour Rinpoché qua đời vào năm 1975, tôi tiếp tục tu tập
trong một chiếc am nhỏ trên núi, cũng không xa tu viện của tôi bao
nhiêu. Chính trong khoảng thời gian này, tôi đă gặp được vị thầy thứ
hai là Dilgo Khyentsé Rinpoché, và tôi đă theo bên cạnh vị sư này
mười hai năm không rời bước, từ Bhoutan đến Ấn độ, từ Népal đến Tây
tạng. Tôi lắng nghe ông giảng dạy, hầu hạ ông và cùng ông du hành.
Sau đó, từ năm 1979 th́ tôi đă trở thành một nhà sư thật thụ. Khi vị
thầy thứ hai của tôi rời bỏ thế giới này vào năm 1991 th́ tôi lui về
một am nhỏ ở Népal, trong một vùng núi cách Katmandou vài giờ đường
bộ, đây là một nơi ẩn cư do tu viện Schéchén quản lư, và tu viện này
cũng chính là nơi cư ngụ thường xuyên của tôi. Những khoảng thời
gian trên đây đă mang lại cho tôi những ǵ phong phú nhất trong suốt
cuộc sống của tôi. Từ đó mỗi năm tôi sống ít nhất là tám tháng ở Á
châu (Népal, Tây tạng, Bhoutan, Ấn độ) và phần thời gian c̣n lại tôi
thường lưu trú tại Âu châu và Hoa kỳ.
«
Quyển sách Một nhà sư và một
triết gia, ghi lại cuộc đối thoại với cha tôi, đă gặt hái được kết
quả tốt, và tôi đă dùng toàn bộ tiền bản quyền vào việc từ thiện
»
Trong
khoảng thời gian gần hai mươi năm, từ các miền Darjeeling đến
Bhoutan, tôi chỉ cần vỏn vẹn khoảng 30 euros mỗi tháng là đủ sống.
Nhưng khi quyển sách « Một nhà sư và một triết gia » được xuất bản,
ghi lại cuộc đối thoại giữa cha tôi là Jean-François Rével (2) và
tôi, th́ bổng nhiên tôi nhận được một khoản tài chính quan trọng nhờ
vào sự thành công của quyển sách mà số bán đă lên đến 350 000 quyển
chỉ riêng trên đất Pháp. Tôi không hề có một thoáng ư định nào dùng
số tiền ấy để mua một căn nhà hay mua một chiếc xe, trái lại tôi
quyết định cống hiến tất cả tiền nhuận bút của quyển sách trên đây
và cả những quyển sách khác xuất bản sau này cho các chương tŕnh từ
thiện. Đây là dịp đem ra thực hành những lời giảng huấn về ḷng từ
bi mà tôi từng được học từ nhiều năm nay. Nhờ đó mà các dự án
Karuna-Schéchèn có thể bước sang giai đoạn thực hiện. Karuna trong
tiếng Phạn có nghĩa là Từ bi và Scéchèn là tên của tu viện mà tôi
đang tu học. Ngoài số bạn bè t́nh nguyện tham gia vào các chương
tŕnh này, c̣n có một số người hảo tâm khác nữa đă ủng hộ chúng tôi.
Đến nay chúng tôi đă thiết lập được ba mươi dự án do chính chúng tôi
đứng ra điều hành – gồm sáu bệnh viện, mười trường học, các trung
tâm chăm sóc người già và trẻ mồ côi, xây cầu đường v.v. ở các miền
Tây tạng, Népal, Ấn độ và Bhoutan. Chúng tôi đă chăm sóc cho 1 500
trẻ em và chữa trị cho 90 000 ngàn bệnh nhân, hơn một nữa số bệnh
nhân này được hoàn toàn miễn phí. Ngoài niềm vui sướng khi được dịp
phục vụ cho người khác, tôi c̣n rất hănh diện khi thấy ḷng từ bi đă
mang lại nhiều hiệu quả, v́ chi phí điều hành chỉ mất có 2% trên
tổng số ngân khoản chung. Tu viện Schéchèn nơi lưu ngụ chính thức
của tôi cũng là một nơi để gặp gỡ và học hỏi. Ngoài tu viện với 300
tỳ kheo, chúng tôi c̣n quản lư một trường trung học giảng dạy triết
học với học kỳ kéo dài chín năm, một trường hội họa chuyên về tranh
ảnh tôn giáo với số học viên hiện nay là sáu mươi người, cả nam lẫn
nữ, cả sư săi và người thế tục, họ đang theo một khoá đào tạo kéo
dài sáu năm. Thêm vào đó lại có cả một trung tâm ấn hành kinh sách
Tây tạng và trung tâm này đă in được 400 bộ kinh trong thời gian ba
mươi năm vừa qua, các kinh sách ấy được trích ra từ kho tài liệu đồ
sộ của tu viện. Một trong số những tài liệu quan trọng, nhất là bộ
sưu tập về nghệ thuật Tây tạng bằng phóng ảnh. V́ thế sinh hoạt của
tu viện lúc nào bận rộn, mỗi lần về đây tôi làm việc suốt bảy ngày
một tuần từ sáng cho đến tối.
Tuy nhiên
cũng phải tu tập, và thật may mắn tôi được cấp một cái am nhỏ nh́n
lên Hy-mă-lạp-sơn để làm nơi tĩnh tâm, am chỉ cách Katmandou vài giờ
đường bộ. Thật vậy niềm phúc hạnh chân thật, vẹn toàn và vững bền mà
tiếng Phạn gọi là sukha chỉ có thê đạt được khi nào loại bỏ được sự
u mê tâm thần và những xúc cảm đối nghịch. Niềm phúc hạnh đó là một
thứ trí tuệ giúp nhận biết được thế giới này đúng với bản chất của
nó, không bị che lấp cũng không bị méo mó. Và niềm phúc hạnh đó cũng
tượng trưng cho sự hân hoan được bước vào con đường giải thoát nội
tâm và ḷng nhân từ tràn đầy yêu thương toả rộng đến mọi người chung
quanh.
«
Người ta thường gán cho tôi cái
biệt danh là ‘’người sung sướng nhất trên đời’’. Nhưng thật ra bất
cứ ai cũng có đều thể trở nên sung sướng nhất trên đời khi họ biết
t́m cái hạnh phúc ấy vào đúng chỗ của nó
»
Trước đây
tôi có tham gia vào các buổi họp của nhóm Tâm linh và Sự sống tại
Dharamsala, nơi lưu ngụ của Đức Đạt-lai Lạt-ma trên đất Ấn. Và từ đó
sự hợp tác càng trở nên chặt chẻ hơn. Chúng tôi đưa ra một chương
tŕnh quy định việc nghiên cứu thiền định. Chúng tôi hợp tác với một
số các chuyên gia lỗi lạc nhất trên thế giới về thần kinh học, trong
đó có những chuyên gia thuộc các đại học như Madison ở Wisconsin,
Princeton, Harvard, và gần đây hơn là đại học Maastrich tại Ḥa lan.
Chúng tôi nghiên cứu về ḷng vị tha và từ bi, v́ đó là những xúc cảm
mang tính cách tích cực hơn hết trong số các xúc cảm, những xúc cảm
này làm phát sinh những làn sóng gamma cực mạnh trong năo bộ.
Đối tượng
của các công cuộc nghiên cứu trên đây gồn có các ảnh hưởng ngắn và
dài hạn do thiền định mang lại trong việc biến cải tâm linh, các
công cuộc nghiên cứu này có mục đích t́m kiếm một giải pháp thực
tiển để giải quyết các khó khăn muôn thuở và điên đầu do những xúc
cảm mang tính cách tệ hại gây ra. Nhu cầu khảo cứu đ̣i hỏi tôi phải
chịu đựng năm mươi giờ IRM (3). Kết quả do việc nghiên cứu này đă
làm cho một số cơ quan truyền tin và báo chí đem gán cho tôi cái
biệt danh là « người sung sướng nhất trên đời ». Điều ấy chẳng có
nghĩa ǵ cả. Bất cứ ai trong chúng ta cũng đều có thể là « người
sung sướng nhất trên đời » nếu họ biết đi t́m cái hạnh phúc ấy đúng
vào chỗ của nó.
Bures-Sur-Yvette
Người dịch
: Hoang Phong
Ghi
chú của người dịch :
1- Hai
mươi tuổi đă soạn luận án tiến sĩ có nghĩa ông là một sinh viên khác
thường. Muốn soạn luận án tiến sĩ ít nhất trước đó phải thi đậu các
bằng cử nhân và cao học. Người ta cho biết là ông đậu tú tài lúc mới
mười ba tuổi. Ngoài ra, cũng không phải là dễ để được một giáo sư
đoạt giải Nobel nhận làm học tṛ.
2-
Jean-François Rével (1924-1992) : không phải là tên thật mà chỉ là
bút hiệu, v́ chính ông không muốn giữ cùng một họ với con ḿnh v́ cả
hai đều rất nổi tiếng. Ông là triết gia, học giả, nhà văn, nhà báo,
b́nh luận gia…và cũng là thành viên của Hàn lâm Viện Pháp.
3- Máy
ghi nhận h́nh ảnh bằng cộng hưởng từ, tiếng Anh viết là MRI. Trong
trường hợp trên đây, các khoa học gia về thần kinh học quan sát bộ
nảo của ông M. Ricard bằng IRM trong khi ông thiền định và nhận thấy
ông đang ch́m trong một trạng thái sâu xa và êm ả nhất của sinh hoạt
năo bộ.
Phần
đóng khung trong bài báo :
Thầy và
đệ tử
Hai vị
thầy, đồng thời cũng là hai sinh linh khác thường, đă đưa tôi vào
con đường Phật pháp : vị thầy thứ nhất của tôi là Kangyour Rinpoché,
sau khi vỉ này qua đời vào năm 1975 th́ tôi gặp được vị thầy thứ hai
Dilgo Khyentsé Rinpoché.
Vào những năm
đầu của thập niên 1980, nhờ vào vị thầy thứ hai mà tôi đă gặp được
Đức Đạt-lai Lạt-ma. Chính Đức Đạt-lai Lạt-ma cũng xem Khyentsé
Rinpoché là một trong những vị thầy chính thức của Ngài và mỗi năm
Ngài đều mời ông về ở chung với Ngài từ một đến hai tuần để có dịp
học hỏi thêm. Cũng giống như vị thầy trước đây của tôi, Khyentsé
Rinpoché có một chiều rộng tâm linh và một tấm ḷng nhân ái khác
thường, những phẩm tính đó đă giúp ông cảm nhận được được bản chất
đích thực của mọi sự hiện hữu. Tuy ông ban ra những lời giáo huấn,
nhưng thật ra và đúng hơn th́ ông là hiện thân của chính những lời
giáo huấn ấy.
Khi
tôi gặp Đức Đạt-lai Lạt-ma tại Paris vào năm 1989, Ngài có nhờ tôi
thông dịch tiếng Tây tạng sang tiếng Pháp, và kể từ đó tôi đă trở
thành người thông dịch cho Ngài, mỗi năm độ một hai lần. Dù trước
công chúng hay trong cuộc sống riêng tư, Đức Đạt-lai Lạt-ma luôn
luôn là một tấm gương, đúng với những ǵ Ngài giảng dạy : đơn sơ, từ
bi và trí tuệ. Nhờ Ngài, tôi được tiếp xúc với rất nhiều khoa học
gia, nhất là trong lănh vực thần kinh học, họ chuyên khảo cứu về
những ảnh hưởng của thiền định đối với năo bộ.
(H́nh trên: Matthieu Ricard (trái) và Đạt Lai
Lạt Ma, April 17, 1997, trước khi cuộc họp báo của ông tại Đài tưởng
niệm Ḥa b́nh ở Caen. Ảnh AFP)
H́nh 1: Nhà
sư Matthieu Ricard ngồi thiền trước băng hà của
ngọn núi
Chomo Lhari (7326m), một trong những ngọn nuí cao nhất của xứ
Bhoutan
H́ng 2a và
2b: Tu viện Schéchèn, trong vùng lănh thổ Kham, thuộc Tây tạng miền
đông
H́nh 3: Một
Dzong trong thung lũng Paro, thuộc xứ Bhoutan,
dzong là một
nơi vừa làm tu viện vừa làm cơ quan hành chánh địa phương.
H́nh 4:
Kangyour Rinpoché: vị thầy thứ nhất của ông Matthieu Ricard
H́nh 5: Ông
Matthieu Ricard vào năm 1981, tại Thang Rémochèn,
một thánh địa
của xứ Bhoutan
H́nh 6: Đức
Đạt-lai Lạt-ma và ông M. Ricard trong dịp gặp gỡ
Quốc hội Âu
châu tại Strasbourg, vào tháng 10 năm 2001
H́nh 7: Vùng
Boumthang, xứ Bhoutan, cao 3 000 m.
Buổi lễ cống
hiến cho vô thường của sự sống vừa chấm dứt.
H́nh 8a và
8b: Những thửa ruộng trên triền núi, thuộc tỉnh Amdo, Tây Bắc Tây
tạng.
H́nh 9a và
9b: Từ trái sang phải và từ trên xuống dưới: 1) Một đứa bé trai,
Tây tạng miền Đông, 2) Một người thợ mộc làm nhà, Dzongsar, Tây tạng
miền Đông, 3) Một người đàn ông, Dzongsar, Tây tạng miền Đông, 4)
Một vị lương y, Tây tạng miền Đông, 5) Một phụ nữ vùng Golok, Tây
tạng miền Đông, 6) Một người sống ẩn dật, Tây tạng miền Đông, 7) Một
đứ bé vùng Dzonsar, Tây tạng miền Đông.
H́nh 10: Một
rừng cờ dùng vào việc tụng niệm, các lá cờ buộc vào các thân tre.