THẬP NHỊ
NHÂN DUYÊN
Hoang Phong
Việt dịch
Lời giới thiệu
của người dịch:
Thập
nhị nhân duyên là một chủ đề quen thuộc, thường được đề cập và b́nh
giải trong nhiều sách, bài viết cũng như băng đĩa. Tuy nhiên chúng
ta cũng thử tim hiểu xem Phật giáo Tây phương tiếp cận và giải thích
khái niệm này như thế nào.
Có thể
người đọc cũng sẽ ngạc nhiên đôi chút trên phương diện thuật ngữ, lư
do là các học giả Tây phương nói chung không nhất thiết dựa vào kính
sách bằng Hán ngữ để b́nh giải và thông thường th́ ngoài những tư
liệu bằng tiếng Hán các tác giả Tây phương c̣n căn cứ vào các kinh
sách bằng tiếng Phạn và tiếng Pali. Hơn nữa các học giả Tây phương
lại được thừa hưởng một gia tài văn hóa lâu đời về triết học cũng
như những hiểu biết cận đại về khoa học, do đó kinh sách dịch thuật
của họ khá cởi mở, minh bạch và chính xác, Trong khi đó kinh sách
tiếng Việt lại chịu ảnh hưởng quá nặng nề từ kinh sách Trung hoa đă
được dịch thuật từ nhiều trăm năm cho đến hàng ngàn năm trước.
Thập
nhị nhân duyên trong kinh sách bằng ngôn ngữ Tây phương được
dịch là Mười hai mối dây tương liên hay Mười hai
mối dây lệ thuộc hoặc trói buộc. Gốc tiếng Phạn của Thập nhị
nhân duyên là Dvadasanga pratityasamutpada hay c̣n gọi là Dvadasa
nidana, nguyên nghĩa của các cụm từ này là mười hai mối dây
tương tác, tương tạo hay tương liên. Riêng chữ
pratityasamutpada c̣n có nghĩa là sự tạo tác lệ thuộc hay sự
tạo tác do điều kiện mà có. Người Tây phương dịch chữ
pratityasamutpada là interdependance, thật
hết sức đơn giản và chính xác, c̣n kinh sách gốc Hán th́ dịch chữ
này là Lư duyên khởi.
Thí dụ
trên đây cho thấy một số khác biệt về thuật ngữ giữa kinh sách Tây
phương và kinh sách gốc Hán. Thật vậy, ngôn ngữ dùng để chuyển tải
Đạo Pháp rất quan trọng. Nếu một ngôn ngữ có cấu trúc ngữ pháp minh
bạch, có khả năng thích ứng với khoa học và triết học hiện đại th́
sẽ có nhiều hy vọng mang Đạo Pháp đến gần với con người trong các xă
hội ngày nay hơn.
Mặt khác,
trên phương diện nội dung th́ khái niệm về Thập nhị nhân duyên
là một khái niệm khá khó để nắm bắt và thấu triệt, v́ khái niệm này
bao hàm khá nhiều hiện tượng liên quan đến cả hai thế giới vừa
vật-chất và phi-vật-chất, liên đới với sự hiện hữu của con người cả
trên phương diện thể xác lẫn tâm thần. Sự tổng kết hay tổng hợp ấy
lại dựa vào thật nhiều quy luật khác nhau như nguyên nhân hậu quả,
sự tương liên (pratityasamutpada - lư duyên khởi), sự tái sinh, hiện
tượng vô thường, v.v... Thật ra th́ mọi hiện tượng trong vũ trụ đều
tùy theo cơ duyên mà biến động không ngừng, không nhất thiết phải
theo chiều dọc hay chiều ngang. Tuy nhiên Đức Phật đă chọn ra mười
hai biến động trực tiếp nối kết nhau thành một ṿng tṛn để chỉ cho
chúng ta nh́n thấy một cách cụ thể, trực tiếp và đơn giản về cách
thức hiện hữu của chính chúng ta trong thế gian này. Mười hai chiếc
khoen của sợi dây xích đó đang tác động để buộc chặt sự hiện hữu của
chúng ta và ḱm giữ chúng ta bất tận trong cơi ta bà.
Chu kỳ
liên kết mười hai hiện tượng thường được cụ thể hóa bằng một bánh xe
vẽ trên một tấm tranh gọi là Thăng-ka (thanka). Bánh xe đó mang tên
là Bánh xe của sự hiện hữu hay Bánh xe luân hồi.
H́nh vẽ trên trên tấm Thăng-ka rất phức tạp v́ bao hàm thật nhiều
chi tiết. Ngoài tính cách thiêng liêng biểu hiện cho Đạo Pháp, tấm
Thăng-ka c̣n có mục đích giúp người Phật tử nh́n vào đó để t́m hiểu
và học hỏi về Phật pháp mà không cần phải biết đọc, chỉ cần nghe
giảng một lần là hiểu, nếu không nhớ hết th́ nh́n vào những biểu
tượng của tấm Thăng-ka sẽ nhớ lại ngay. Nếu có nhiều th́ giờ th́ có
thể ngồi xem để chú tâm vào đấy mà chiêm nghiệm từng chi tiết một.
Phần
thuyết giảng dưới đây là một bài lược dịch từ hai buổi phát sóng
trên đài truyền h́nh France 2 của nước Pháp, thuộc chương tŕnh hàng
tuần về Phật giáo do Tổng hội Phật giáo Pháp phụ trách. Hai buổi
phát sóng được tổ chức vào hai ngày chủ nhật 5 và 12 tháng 8, năm
2007. Người thuyết giảng là ông Pierre Arène, một khảo cứu gia
chuyên ngành về Phật giáo thuộc Trung Tâm Quốc gia Khảo cứu Khoa học
của Pháp (Centre National de la Recherche Scientifique - gọi tắt là
CNRS), Ông đồng thời cũng vừa là khảo cứu gia và là thành viên ban
giảng huấn của trường Collège de France, một cơ quan giáo dục và
khảo cứu hàng đầu của nước Pháp, quy tụ các học giả, triết gia và
khoa học gia lỗi lạc nhất trong nước. Hơn thế nữa ông c̣n giữ chức
chủ tịch Ủy ban Nghiên cứu Phật Pháp của hệ thống tu viện do đại sư
Tây tạng là Dagpo Rimpoché thiết lập tại Pháp và Âu châu. V́ thế
thiết nghĩ những ǵ do ông thuyết giảng dưới đây là kết quả nghiên
cứu rất khoa học và nghiêm chỉnh. (Hoang Phong)
|
Cô
Aurélie Godefroy |
Ông
Pierre Arène |
Buổi phát
sóng ngày 5 tháng 8 năm 2007
Cô
Aurélie Godefroy : Hôm nay chúng ta sẽ tŕnh bày về chủ đề «
Mười hai mối dây tương liên », đó là những ǵ sẽ chi phối số phận
của chúng ta trong kiếp sau. Mười hai mối dây tương liên là một
trong những khái niệm đặc thù và quan trọng trong giáo lư nhà Phật,
tuy nhiên muốn t́m hiểu thấu đáo và nắm vững sự liên tục của mười
hai mối dây không phải là dễ. V́ lư do đó mà chúng tôi quyết định
dành ra hai buổi phát sóng cho chủ đề này. Vai tṛ của mười hai mối
dây tương liên là ǵ? Khái niệm đó muốn nói lên điều ǵ? Tại sao sự
hiểu biết thấu đáo về mười hai mối dây tương liên lại có thể giúp ta
tự giải thoát khỏi khổ đau? Ông Pierre Arène được mời đến nói chuyện
hôm nay sẽ giải đáp cho chúng ta những thắc mắc vừa được nêu lên.
Xin
chào ông Pierre Arène. Ông là khảo cứu gia thuộc Trung Tâm Quốc gia
Khoa Học Pháp (CRNS), chuyên ngành về Phật Pháp, đồng thời ông cũng
là khảo cứu gia của trường Collège de France, và hiện ông cũng giữ
chức Chủ tịch Ủy ban nghiên cứu của Trung tâm Phật giáo Tây tạng
Dagpo Rimpoché. Để khởi đầu cho buổi phát sóng hôm nay, chúng tôi
xin ông vui ḷng giải thích cho chúng tôi các thuật ngữ liên quan
đến mười hai mối dây tương liên dùng để giải thích về chuỗi liên kết
chính và các chuỗi liên kết phụ thuộc, cũng như toàn thể chu kỳ luân
hồi (trong phần thảo luận dưới đây
không thấy giải thích chi tiết về các chuỗi liên kết phụ, có lẽ v́
thời gian tŕnh bày có giới hạn?).
Ông Pierre
Arène: Đối với chuỗi dài liên kết chính th́ hiện tượng tương liên
kết nối mười hai mối dây với nhau tương đối cũng dễ hiểu, mỗi mối
dây đều phải lệ thuộc vào một mối dây khác xảy ra trước đó, và phần
nó th́ sẽ làm phát sinh ra mối dây tiếp theo sau. Hiện tượng nối kết
như thế cũng xảy ra trong các chuỗi liên kết phụ thuộc, và riêng các
chuỗi liên kết phụ thuộc th́ cũng tương kết với nhau thật chặt chẽ.
Đối với bánh xe luân hồi hay c̣n gọi là chu kỳ hiện hữu th́ có đôi
chút khác biệt, mười hai mối dây tương liên biểu thị cho một sự vận
hành toàn diện đưa đến sự tái sinh trong cơi ta bà. Và ư nghĩa của
ta bà là quay trở lại với sự sống này ngoài ư muốn của ta, hết kiếp
này đến kiếp khác, tiếp tục như thế và sẽ c̣n tiếp tục như thế. Sức
mạnh của nghiệp và các yếu tố bấn loạn là các động cơ thúc đẩy sự
tái sinh đó.
Cô
A.G.: Có đúng đấy là những ǵ được tŕnh bày trong tấm tranh gọi
là bánh xe hiện hữu hay không?
Bánh xe hiện
hữu c̣n gọi là bánh xe luân hồi.
[Thật ra sơ
đồ trên đây rất phức tạp và phong phú về ư nghĩa, gần như là một
quyển kinh thu gọn, nếu muốn giải thích đầy đủ phải cần thật nhiều
th́ giờ]
Ông P.
Arène: Bánh xe hiện hữu hay luân hồi được chia thành sáu khu vực
phân bố chung quanh một trung tâm, đại khái giống như h́nh ảnh một
cái cối xay. Sáu khu vực tượng trưng cho sáu thể dạng hiện hữu: đó
là cơi thiên, cơi bán-thiên hay thánh nhân - tùy theo sách dịch -,
cơi người, cơi súc sinh, cơi ngạ quỷ và cơi địa ngục. Trục của bánh
xe tượng trưng cho h́nh ảnh quay tṛn của sự hiện hữu, khu vực của
trục thường được biểu thị bởi ba con vật là: con heo, con rắn và con
gà trống.
Cô A.G.: Ba con vật ấy là biểu tượng của ba thứ nọc độc (tam
độc: tham, sân, si) có đúng thế không,
thưa ông?
Ông P. Arène: Đúng, đấy là ba thứ nọc độc. Nhưng tại sao lại gọi
là nọc độc? Bởi v́ chúng sẽ mang lại những hậu quả tiêu cực. Con heo
tượng trưng cho vô minh và vô minh là nguyên nhân tạo ra thù ghét và
bám víu, thù ghét và bám víu th́ được tượng trưng bởi con rắn và con
gà (trên biểu đồ, ba con vật cắn đuôi
nhau và quay tṛn). Vô minh cũng là
nguyên nhân tiên khởi làm phát sinh ra toàn bộ mười hai mối dây
tương liên. Chính v́ vô minh mà chúng ta phải tái sinh vào cơi ta
bà, dầu cho tái sinh trong một hoàn cảnh tốt đẹp hay tệ hại cũng
vậy.
Cô A.G.:
Xin ông vui ḷng giải thích toàn bộ mười hai mối dây tương liên
trước khi phân tích chi tiết từng mối dây một.
Ông P. Arène: Nếu thế th́ phải bắt đầu từ phần bên trên của bánh
xe: phần này tượng trưng cho vô minh (mối
dây 1: vô minh, avidya). Kế đó là
nghiệp khai mào hay là nghiệp phát khởi - tùy theo cách dịch từ
tiếng Phạn hay tiếng Tây tạng (mối dây
2: hành, tức là sự tạo nghiệp, samskara).
Tiếp theo đó là tri thức (mối dây 3:
thức, vijnana), tri thức lại làm phát
sinh ra mối dây kế tiếp gọi là danh xưng và h́nh tướng (mối
dây 4: danh sắc, namarupa). Tiếp theo
là sáu cơ sở hay sáu lănh vực hiểu biết (mối dây 5: lục căn, tức các
khả năng giác cảm, ayatana), sáu lănh vực hiểu biết tạo ra sự tiếp
xúc (mối dây 6: xúc, sparsa),
tiếp xúc tạo ra sự cảm nhận (mối dây 7:
thụ, sự cảm biết, vedana), cảm nhận hay
cảm biết kéo theo sự thèm khát (mối dây
8: ái, trsna), sự thèm khát sinh ra bám
víu (mối dây 9: thủ, chiếm giữ, upadana), bám víu làm phát sinh sự
hiện hữu (mối dây 10: hữu, sinh khởi,
bhava), và chính sự hiện hữu sẽ đưa đến
sự sinh (mối dây 11: sinh, jati),
và sau sự sinh th́ nhất định phải già và chết (mối
dây 12: lăo tử), toàn bộ chuỗi dài níu
kéo đó gọi là mười hai mối dây tương liên.
Cô A.G.:
Đến đây chúng ta trở lại t́m hiểu từng mối dây một và bắt đầu bằng
mối dây thứ nhất tượng trưng cho vô minh nguyên thủy. Tại sao lại
gọi là nguyên thủy?
Ông P.
Arène: Có ít nhất hai lư do để gọi sự vô minh ấy là nguyên thủy.
Lư do thứ nhất là nó khơi mào và làm phát sinh ra toàn bộ mười hai
mối dây liên kết.
Cô A.G.:
Vô minh được tượng trưng như thế nào trên bánh xe luân hồi?
Ông P.
Arène:
Vô minh được tượng trưng bởi một bà già mù ḷa chống gậy đang ṃ mẫm
đi. H́nh ảnh bà cụ được tŕnh bày trên phần cao nhất của bánh xe.
Cô A.G.:
H́nh ảnh đó muốn nói lên điều ǵ?
Ông P.
Arène: Sự mù ḷa của bà cụ già tượng trưng cho sự u tối, tức là
đặc tính của vô minh. Chiếc gậy của bà cụ tượng trưng cho sự cảm
nhận sai lầm về hiện thực. Sai lầm, bởi v́ cây gậy chỉ giúp cho bà
cụ nhận biết được đường đi, nhưng sự nhận biết đó rất giới hạn và
phiến diện.
Cô
A.G.: Có hai thứ vô minh. Vậy xin ông tŕnh bày chi tiết hơn.
Ông P. Arène: Vô minh thứ nhất gọi là vô minh nguyên nhân, loại
vô ḿnh này cũng khá dễ hiểu. Dầu sao th́ vô minh nguyên nhân cũng
chỉ giữ tầm quan trọng thứ yếu, chỉ cần tŕnh bày sơ lược cũng đủ.
Đó là loại vô minh liên quan đến sự kiện không phân biệt được một
nguyên nhận nào hay một hành động nào sẽ mang lại hậu quả tốt, cũng
không phân biệt được một hành động nào hay một nguyên nhân nào sẽ
mang lại một hậu quả xấu. (câu trả lời
thật đơn giản nhưng hết sức cao siêu và cô đọng, đây là định nghĩa
về nghiệp mà chúng ta thường hiểu và thường được nghe giảng: hành
động tốt sinh ra quả tốt, hành động xấu sinh ra quả xấu. Tuy nhiên
trên thực tế th́ ta hành động nhưng không hề ư thức được hậu quả sẽ
phát sinh từ hành động ấy sẽ ra sao, chẳng hạn như những người hung
dữ không ư thức được hành động của ḿnh, những người đồ tể vừa làm
việc vừa vui đùa hay trong đầu đang nghĩ đến một chuyện khác. Đó là
một cách tạo nghiệp tiêu cực mà không biết là minh đang tạo nghiệp
tiêu cực)
Cô
A.G.: C̣n loại vô minh thứ hai là ǵ?
Ông P. Arène: Loại vô minh thứ hai rất quan trọng, bởi v́ nó giữ
vai tṛ chủ động đưa ta tái sinh trở lại trong cơi ta bà dưới một
thể dạng thuận lợi hay bất thuận lợi. Loại vô minh đó gọi là vô
minh về sự nhận biết sai lầm về cái tôi, cái ngă, về cái chủ thể gọi
là tôi. Có thể kể ra rất nhiều thí dụ trong đời sống hằng ngày. Thí
dụ như ta đang đứng trên miệng một hố sâu, hay trên mép mái nhà và
ta sợ sẽ bị trượt chân, ta có cảm giác như sắp ngă đến nơi. Hoặc một
thí dụ khác, trong một t́nh huống nào đó ta bị vu khống trước đám
đông là đă phạm vào một hành động không tốt. Trong hoàn cảnh đó ta
sẽ cảm nhận được một cái tôi thật mạnh (giận
dữ), sự cảm nhận đó xâm chiếm toàn bộ
tâm thức ta, tất cả mọi suy tư và khả năng cảm nhận của ta đều bị
tràn ngập và ta không c̣n để ư đến bất cứ thứ ǵ khác nữa, kể cả
thân xác và tâm thức của chính ḿnh. Các thí dụ vừa kể cho thấy sự
nhận biết sai lầm về cái tôi, sự nhận biết ấy mang tính cách bẩm
sinh và sâu kín, thông thường nó chỉ phát hiện trong các t́nh huống
như vừa kể trên. Tuy thế sự nhận biết về cái tôi theo cách đó lại
đứng ra điều khiển mọi hành động của chính ḿnh, (đây
là loại vô minh dính liền với bản năng. Thí dụ thứ nhất mà ông P.
Arène nêu lên liên quan đến bản năng sợ chết khi đứng trên mái nhà
và thí dụ thứ hai liên quan đến bản năng tự vệ tức là bảo vệ cái tôi
hay cái ngă của ḿnh. Nếu một cá thể sinh ra làm người th́ mang bản
năng của con người, nếu sinh ra làm súc vật th́ mang ban năng của
một con thú, đó là những ǵ liên quan đến vô minh từ kiếp trước tức
là vô minh nguyên thủy. Vô minh nguyên thủy bị chi phối bởi bản năng
đứng ra điều khiển mọi hành động của ta để tạo nghiệp buộc chặt ta
vào thế giới luân hồi).
Cô A.G.:
Đúng vậy, chính đó là nguyên nhân làm phát sinh ra mối dây tương
liên thứ hai mà người ta gọi là nghiệp khai mào hay là nghiệp phát
khởi. Vậy loại nghiệp đó là ǵ?
Ông P. Arène: Tôi muốn được tŕnh bày thêm những ǵ đă nêu lên
trên đây liên quan đến sự nhận biết sai lầm về cái tôi. Nếu ta xem
cái ngă hay cái tôi hiện hữu một cách tuyệt đối th́ ta thường có xu
hướng gán cho nó một vai tṛ quá lớn. Ta sẽ rơi vào t́nh trạng trân
quư cái tôi ấy quá đáng, và như thế sẽ có thể làm tổn hại đến người
khác. Cái Tôi làm phát sinh ra Kẻ khác, (tức
không phải là tôi). Sự cảm nhận ấy sẽ
chi phối mọi hành động của ta trong mục đích bảo vệ lấy cái ngă của
chính ta, nói một cách khác là ta cố gắng tạo ra những hoàn cảnh ưu
thế và thuận lợi nhất cho cái tôi của riêng ḿnh, không cần biết là
cách xử thế đó có gây ra thiệt tḥi cho người khác hay không.
Cô
A.G.: Có nghĩa là các phản ứng đó sẽ phát lộ qua các hành động
của chính ḿnh?
Ông P. Arène: Đúng như thế, đấy là cách thúc đẩy ta hành động.
Những ǵ vừa tŕnh bày có lẽ đủ để trả lời cho câu hỏi mà cô vừa nêu
lên liên quan đến mối dây tương liên thứ hai, gọi là nghiệp khơi mào
hay phát khởi, (có nghĩa là cái tôi
bàng bạc và sâu kín trong mỗi cá thể thúc đẩy và chi phối mọi hành
động của cá thể ấy để tạo ra nghiệp, và nghiệp đó gọi là nghiệp khơi
mào và chúng sẽ phát khởi để đưa đến cái chết và sự tái sinh)
.
Cô A.G.:
Các loại nghiệp đó được tượng trưng như thế nào trên sơ đồ bánh xe
luân hồi?
Ông P.
Arène: Nghiệp khơi mào hay phát khởi được tŕnh bày tiếp theo
sau h́nh ảnh mù ḷa của bà cụ già. Nghiệp phát khởi được tượng trưng
bởi một người thợ đồ gốm đang nắn một cái b́nh trên một bàn quay.
H́nh ảnh đó tượng trưng cho nghiệp mà chính ḿnh đang uốn nắn để đưa
đến sự hiện hữu của chính ḿnh trong tương lai.
Cô A.G.:
Vậy nghiệp phát khởi sẽ tạo ra những vết hằn in đậm trong tri thức
của ta, và tri thức là mối dây thứ ba trong mười hai mối dây tương
liên. Vậy vai tṛ của tri thức là ǵ?
Ông P. Arène: Mối dây thứ ba là kết quả phát sinh từ hai mối dây
thứ nhất. Người ta gọi mối dây này là tri thức và tượng trưng nó
bằng h́nh ảnh một con khỉ trên biểu đồ bánh xe luân hồi. Tại sao lại
tượng trưng bằng một con khỉ? Bời v́ tâm thức ta chưa buông vật này
đă nắm bắt vật khác, giống như con khỉ nhảy hết cành này sang cành
khác. Cái tri thức lạ lùng đó thật sự là cái ǵ? Chẳng qua đấy chỉ
là những khoảnh khắc liên tục trên ḍng tiếp nối của tâm thức ta và
trong những khoảnh khắc liên tục ấy nghiệp tác động để lưu lại những
vết hằn. Vậy chúng ta đă thấy rơ là mối dây ấy
(tức mối dây thứ 3: tri thức)
sinh ra từ tác ư
(tức mối dây thứ 2: hành, sự tạo nghiệp)
và vai tṛ của nó là lưu giữ lại các vết hằn do nghiệp tạo ra. Có
thể nêu lên thí dụ như sau, chẳng hạn như ta đi câu cá, đây chỉ là
một thí dụ thôi, sẽ có hai trường hợp xảy ra, một là sau khi câu
được cá ta sẽ thả con cá xuống nước trở lại v́ ta không muốn tạo ra
đau khổ cho nó, (cũng xin nói thêm là
trong các nước Âu châu có nhiều người thích câu cá, nhưng khi câu
được cá th́ lại thả chúng xuống nước trở lại. Câu cá đối với họ chỉ
là thú vui hay "thề thao" mà thôi).
Hoặc ngược lại ta rất thích ăn cá chiên và điều đó sẽ xui khiến ta
cứ giữ con cá lại. Trong trường hợp này th́ nhất định vào một thời
điểm nào đó trong tâm thức ta sẽ xảy ra ư định để cho con cá chết.
Ư định đó là một tác ư: có nghĩa là tâm thức ta cố t́nh giữ lại con
cá để giết nó, tác động do tác tác ư ấy gây ra sẽ lưu lại một vết
hằn của nghiệp trên ḍng tri thức của ta, và nhất định đấy là một
vết hằn mang tính cách tiêu cực.
Cô A.G.: Và đó cũng là những ǵ sẽ làm phát sinh ra danh xưng và
h́nh tướng (tức mối dây thứ 4: danh sắc),
mối dây này được tượng trưng trên biểu đồ bánh xe luân hồi bằng hai
người đang ngồi trên một chiếc thuyền. Vậy biểu tượng đó có ư nghĩa
ra sao?
Ông P.
Arène: Trước hết là có hai người: một người tượng trưng cho danh
xưng, một người cho h́nh tướng. Tiếp theo là h́nh ảnh con thuyền
tượng trưng cho sự chuyên chở ta từ sự hiện hữu này sang sự hiện hữu
khác, biến thân xác này của ta thành thân xác của một cá thể mà ta
sẽ trở thành trong tương lai, từ khi sinh cho đến lúc chết.
Cô A.G.:
Vậy vai tṛ của mối dây ấy là ǵ?
Ông P. Arène: Có thể xem mối dây ấy
(danh xưng và h́nh tướng)
là điểm khởi đầu cho một sự hiện hữu mới, một con người mới vừa được
sinh trở lại. Vậy phải định nghĩa mối dây ấy như thế nào? H́nh tướng
th́ rất dễ hiểu. Danh xưng và h́nh tướng nói chung th́ đại khái có
thể hiểu như là năm thứ cấu hợp (ngũ uẩn). Một trong năm cấu hợp
liên quan đến h́nh tướng tức là thân xác, thân xác đó h́nh thành từ
sự kết hợp giữa hai tế bào của cha và của mẹ. Bốn cấu hợp c̣n lại
liên quan đến tâm thức: đó là các cấu hợp thuộc giác cảm, tác ư, sự
nhận biết và tri thức, nói một cách tổng quát th́ đấy là tâm thức
của ta. Và đó chính là thành phần tâm linh bám sâu vào các tế bào
của cha và mẹ thuộc mối dây sinh (thụ thai). Một cách đơn giản người
ta có thể phân biệt thành hai thành phần khác nhau là h́nh tướng và
tâm thức, cả hai tạo ra thể dạng phôi khi mới được h́nh thành. Đó là
điểm khởi đầu đánh dấu sự hiện hữu của một cá thể.
Cô A.G.: Mối dây sau cùng mà chúng ta sẽ tŕnh bày trước khi
chấm dứt buổi thảo luận hôm nay là mối dây thuộc lănh vực tri thức
(mối dây thứ 5: lục căn, tức sáu giác
cảm hay sáu khả năng hiểu biết). Xin
ông hăy giải thích mối dây này liên quan đến mối dây danh xưng và
h́nh tướng như thế nào.
Ông P.
Arène: Cũng dễ hiểu thôi v́ mối dây liên quan đến sự hiểu biết
chỉ là quá tŕnh phát triển liên tục và tuần tự của một cá thể tái
sinh bắt đầu từ thể dạng phôi. Mối dây này được tượng trưng bằng một
căn nhà trong biểu đồ của bánh xe hiện hữu, căn nhà có sáu cửa sổ
tượng trưng cho sáu cơ sở hiểu biết, hay sáu khả năng giác cảm, gồm
có thính giác, thị giác, khứu giác, vị giác, xúc giác và tri thức.
Sáu khả năng giác cảm đó bắt đầu phát tiển từ tuần lễ thứ chín sau
khi thụ thai và kéo dài cho đến khi đầy đủ khả năng ghi nhận được
những biến đổi phát sinh từ sự tiếp xúc với ngoại cảnh, chẳng hạn
như sự va chạm với một vật thể nào đó.
Cô A.G.:
Xin cám ơn ông thật nhiều.
Buổi phát
sóng ngày 12 tháng 8 năm 2007
Cô A.G.:
Xin ông có thể nào tóm lược lại thật ngắn gọn năm mối dây tương liên
đă được tŕnh bày trong buổi phát sóng trước đây.
Ông P. Arène: Mối dây thứ nhất là vô minh, mối dây này đương
nhiên có nghĩa là sự cảm nhận hay nắm bắt sai lầm về cái tôi. Mối
dây thứ hai là nghiệp khai mào hay phát khởi, sở dĩ gọi là khai mào
hay phát khởi là v́ nghiệp này sẽ mang lại một kiếp sống mới. Mối
dây thứ ba gọi là tri thức, gồm có hai thành phần: thành phần thứ
nhất là tri thức thuộc vào giây phút xảy ra nguyên nhân (tức là giây
phút chi phối bởi xung động của nghiệp có sẵn trong kiếp trước) và
phần thứ hai là tri thức liên quan đến hậu quả (tức
là tri thức thuộc vào giai đoạn tái sinh. Tóm lại tri thức giữ vai
tṛ nối liền hai kiếp sống, là một động lực phát sinh từ xung năng
của nghiệp để thúc đẩy sự tái sinh, hết kiếp này đến kiếp khác).
Tri thức thuộc vào kiếp tái sinh h́nh thành ngay khi xảy ra sự thụ
thai. Điều đó cho thấy nếu muốn cho chuỗi liên kết của mười hai mối
dây được diễn tiến đầy đủ th́ phải cần có hai kiếp sống nối tiếp
nhau. Sau khi phần tri thức liên quan đến hậu quả phát sinh th́ cũng
sẽ phát sinh danh xưng và h́nh tướng tức là thể dạng phôi, đó là
giai đoạn đầu tiên của một cá thể sẽ được sinh ra sau này. Sau khi
đă trở thành danh xưng và h́nh tướng th́ các khả năng giác cảm của
một cá thể cũng sẽ theo đó mà phát triển, bắt đầu từ tuần lễ thứ
chín sau khi thụ thai cho đến lúc mối dây kế tiếp bắt đầu h́nh thành
(mối dây thứ 6: xúc),
tức là lúc xảy ra một sự tiếp xúc của các khả năng giác cảm với một
vật thể nào đó, sự tiếp xúc ấy tạo ra một sự biến đổi mà giác cảm có
thể ghi nhận được.
Cô A.G.:
Điều đó làm phát sinh ra mối dây thứ sáu tức là mối dây liên quan
đến sự tiếp xúc. Xin ông cho biết mối dây này được tượng trưng như
thế nào trên sơ đồ của bánh xe luân hồi?
Ông P. Arène: Mối dây thứ sáu được tượng trưng bởi một người đàn
ông và một người đàn bà đang ôm nhau. Sự tiếp xúc thể xác đó tuợng
trưng cho sự kết hợp giữa một vật thể và một cơ quan giác cảm liên
quan trực tiếp với khả năng tri thức liên hệ (vật
thể, xúc giác và tri thức về xúc giác),
sau khi hội đủ ba thành phần như vừa kể th́ sự tiếp xúc sẽ diễn đạt
vật thể ấy theo các dạng thức khác nhau (tức
là mối dây thứ bảy: thụ, hay là sự cảm biết)
như thích thú, khó chịu hay trung ḥa.
Cô A.G.:
Tuy nhiên ngay trong lúc đó người ta chưa có thể diễn đạt được
(trong giai đoạn ghi nhận của mối dây thứ sáu), bởi v́ sự cảm biết
chưa phát sinh?
Ông P.
Arène: Đúng là như thế. Phân biệt được hai thể dạng này cũng
không phải là dễ, bởi v́ trên thực tế mối dây tiếp xúc chỉ là một
thứ chất liệu để tiếp nhận một vết hằn in lên đó mà thôi, sau đấy
th́ vết hằn mới được diễn đạt thành thích thú, khó chịu hay trung
ḥa.
Cô A.G.: Sự cảm nhận (hay cảm biết)
sẽ xảy ra trong thời điểm này, và đó là mối dây thứ bảy, vậy mối dây
này sẽ được tượng trưng như thế nào trên biểu đồ bánh xe luân hồi?
Ông P.
Arène: Sự cảm nhận hay cảm biết được tượng trưng bởi một người
bị một mũi tên đâm vào mắt. Đó là một cảm giác thật mạnh và nhất
định sẽ gây ra khó chịu, điều đó cũng ngụ ư nêu lên ba loại giác cảm
khác nhau: thích thú, khó chịu và trung ḥa. Đến đây xin trở lại yếu
tố liên quan trực tiếp đến sự cảm nhận. Thật ra th́ sự cảm nhận vừa
là một yếu tố tâm thần lại vừa là một thể dạng có tính cách cấu hợp,
tuy nhiên để đơn giản hóa sự phức tạp này chúng ta sẽ thu hẹp ư
nghĩa của sự cảm nhận trong lănh vực tâm thần mà thôi, vậy chức năng
của nó là nhận biết một vật thể theo ba dạng thức cảm nhận trên đây
(thích thú, khó chịu, trung ḥa). Vậy có thể hiểu là nghiệp khi đă
chín sẽ liên đới tạo ra những dạng thức cảm nhận khác nhau, có nghĩa
là mỗi dạng thức cảm nhận là kết quả mang lại từ một thứ nghiệp nào
đó đă được tích lũy từ trước. Dạng thức cảm nhận thích thú liên đới
với nghiệp tích cực, dạng thức cảm nhận khó chịu liên đới với nghiệp
tiêu cực và đối với dạng thức cảm nhận trung ḥa th́ vết hằn của
nghiệp cũng mang tính cách trung ḥa.
Cô A.G.: Đến đây th́ chúng ta sẽ chuyển sang lănh vực của mối
dây thứ tám là sự thèm khát (ái),
thèm khát không c̣n là một yếu tố tâm thần nữa mà đă chuyển sang một
thứ ǵ khác, có phải thế không thưa ông?
Ông P.
Arène: Thèm khát là một h́nh thức của bám víu và bám víu vẫn c̣n
là một yếu tố tâm thần, tuy nhiên thuộc vào một cấp bậc khác hơn,
nếu có thể nói như thế.
Cô A.G.:
Vậy yếu tố này được tượng trưng như thế nào?
Ông P.
Arène: Sự thèm khát được tượng trưng bằng một người đang uống
nước, có một số b́nh luận gia cho là đang uống rượu. Tại sao lại là
rượu? Bởi v́ rượu không làm hết khát mà chỉ làm cơn khát sẵn có trở
nên gay gắt thêm.
Cô A.G.:
Chẳng qua đấy chỉ là những ǵ đặc thù của thế giới ta bà, tức là dục
vọng này làm phát sinh ra dục vọng khác?
Ông P.
Arène: Đúng như thế. Sự thèm khát quái lạ đó thật ra chỉ là một
h́nh thức bám víu, có thể nói đấy là một cách tập trung và tác động.
Thi dụ đối với một giác cảm tích cực th́ sẽ sinh ra sự ham muốn được
kéo dài thêm giác cảm ấy, đối với một giác cảm tiêu cực th́ mong
muốn làm sao có thể tránh được nó, đối với một giác cảm trung ḥa
th́ mong muốn nó đừng hóa thành tệ hại. Sự thèm khát giữ một vai tṛ
thật quan trọng mà chúng ta đă nêu lên phớt qua trong phần trên đây
khi đề cập đến sự chuyển tải các vết hằn của nghiệp, mang lại sự tái
sinh và sự h́nh thành của tri thức hậu quả. Tại sao lại như thế?
Bởi v́ như chúng ta đă biết, sự thèm khát và tham lam quá độ là
những ǵ đă tiếp tay nuôi dưỡng cho vết hằn của nghiệp.
Cô A.G.: Vậy căn cứ vào sự kiện đó chúng ta cũng có thể bảo rằng
mối dây tiếp theo là sự chiếm giữ (mối
dây thứ 9: thủ), sẽ liên kết với mối
dây thèm khát (mối dây thứ 8: ái),
tuy nhiên vẫn có một sự khác biệt khá lớn giữa hai mối dây đó, có
phải như thế không, thưa ông?
Ông P. Arène: Vâng, đúng là một sự tiếp nối của mối dây thèm
khát mà người ta gọi là tham lam (dục
vọng), mối dây của sự chiếm giữ được
tượng trưng bằng một người đàn bà hay đàn ông, hoặc một con khỉ đang
cướp đoạt một trái cây. Cướp đoạt có nghĩa là chiếm giữ và trong
trường hợp đó chủ thể chiếm giữ hoàn toàn bị thu hút bởi đối tượng,
chính đó là điểm khác biệt so với sự thèm khát đơn thuần, bởi v́ sự
thèm khát đơn thuần trong mối dây trước chỉ là một h́nh thức mong
muốn kéo dài sự cảm nhận thích thú, tức là c̣n thuộc trong lănh vực
của giác cảm (không cần đ̣i hỏi đối
tượng phải là sở hữu của ḿnh).
Cô A.G.:
Trong khi đó th́ tham lam là một h́nh thức thúc đẩy muốn chiếm đoạt
đối tượng tức là những giác cảm đó, có phải thế không thưa ông?
Ông P.
Arène: Đúng là như thế. Tham lam có nghĩa là bám víu vào vật thể
tạo ra giác cảm, có nghĩa là nhắm thẳng vào vật thể bám víu mà quên
đi không c̣n trực tiếp chú ư đến các giác cảm nữa.
Cô A.G.:
Vậy khi các vết hằn của nghịệp đă chín muồi th́ sẽ chuyển sang mối
dây tương liên của sự h́nh thành (mối dây thứ 10: hữu, sinh khởi).
Tại sao mối dây này là một mối dây có tầm quan trọng lớn lao, và
người ta đă tượng trưng nó như thế nào?
Ông P. Arène: Sự h́nh thành là giai đoạn cuối cùng của quá tŕnh
níu kéo, có nghĩa là trong giai đoạn này nghiệp khơi mào dưới dạng
thể một vết hằn đă chín muồi sau khi được nuôi dưỡng bởi sự thèm
khát và sự tham lam như vừa được đề cập trên đây, nó sẽ đạt được đầy
đủ khả năng để tạo ra một sự sinh mới tức là tái sinh, và khả năng
tạo ra một sự sinh mới gọi là mối dây h́nh thành (mối
dây thứ 10: hữu), một số học giả c̣n
dịch mối dây h́nh thành (devenir)
là mối dây hiện hữu (existence).
Sự h́nh thành được tượng trưng bởi một người phụ nữ mang thai. Quả
thật không có cách tượng trưng nào hay hơn, bởi v́ h́nh ảnh đó cho
thấy một cá thể đang được h́nh thành.
Cô A.G.:
Vậy tiếp theo đó là mối dây gọi là sinh, tức là người phụ nữ sẽ hạ
sinh ?
Ông A.G.: Mối dây gọi là sinh có một đặc điểm riêng: nó khởi sự
từ lúc tri thức thâm nhập vào các tế bào của cha mẹ (tinh
trùng và noăn cầu). Sự sinh sẽ khởi sự
cùng lúc với sự h́nh thành của danh xưng và h́nh tướng (tức
là thụ thai). Thật ra th́ đấy chỉ là sự
kết hợp của các cấu thể sẵn có (tri
thức, tinh trùng và noăn cầu). Những ǵ
đặc thù trong mối dây tương liên này là sự diễn biến liên tục từ khi
bắt đầu xảy ra biến cố sinh (thụ thai)
kéo dài cho đến biến cố chết.
Cô A.G.:
Vậy có phải vẫn c̣n nằm trong lănh vực của mối dây thứ 11?
Ông P.
Arène: Đúng như thế, tất cả mọi người trong chúng ta đều đang bị
vướng mằc trong mối dây thứ 11, kể cả cô và cả tôi trong lúc này.
Cô A.G.:
Vậy tất cả rồi sẽ phải chuyển sang mối dây tương liên thứ mười hai:
tức là sự già nua, cái chết và khổ đau. Tại sao mối dây này lại được
xem là khoen cuối cùng trong toàn bộ sợi dây xích tương liên?
Ông P.
Arène: Thật hết sức hiển nhiên, có sinh tất có tử. Vậy già nua
và cái chết thật sự là ǵ? Trên thực tế th́ sự già nua bắt đầu ngay
sau khi thụ thai, sự già nua đó không giống với sự già nua mà chúng
ta thường hiểu, v́ thông thường chúng ta cho rằng sự già nua chỉ có
thể xảy ra sau giai đoạn trưởng thành. Đối với Phật giáo th́ sự già
nua khởi sự ngay từ khoảnh khắc thứ hai sau khoảnh khắc thứ nhất là
sự thụ thai. Tế bào của cha và mẹ kết hợp để tạo ra h́nh tướng và có
thể gọi đấy là thân xác, trong quá tŕnh phát triển của cấu hợp h́nh
tướng các biến dạng sẽ phát sinh theo và cứ thế mà tiếp tục cho đến
giai đoạn chót gọi là sự già nua. C̣n cái chết th́ có nghĩa là sự
hủy hoại của cấu hợp h́nh tướng hay thân xác.
Cô A.G.:
Cần phải có bao nhiêu kiếp sống để hoàn tất toàn bộ một chu kỳ như
thế?
Ông P. Arène: Cần phải có ít nhất hai kiếp sống, điều này đă
được nói đến trước đây. Tri thức thuộc giai đoạn hậu quả (tái
sinh) chỉ có thể h́nh thành khi bắt đầu
một kiếp sống tiếp theo sau. Cũng cần phải hiểu là giữa hai giai
đoạn tri thức nguyên nhân (tạo nghiệp)
và tri thức hậu quả (tái sinh)
cũng có thể xảy ra nhiều kiếp sống (trung
gian). Khi nói đến hai kiếp sống th́
đấy là hai kiếp sống trong cùng một chu kỳ. Có nghĩa là tri thức của
ta sẽ gồm có hai phần: tri thức của giai đoạn nguyên nhân và tri
thức của giai đoạn hậu quả. Giữa hai giai đoạn tri thức đó, nếu như
vết hằn của nghiệp khơi mào không hội đủ cơ duyên hay điều kiện để
trở thành chín muồi th́ cũng có thể xảy ra nhiều kiếp sống khác (có
nghĩa là vô minh nguyên thủy sinh ra nghiệp khơi mào, nếu nghiệp
khơi mào không hội đủ cơ duyên để để trở thành chín muồi "giúp" cho
một cá thể đạt được thể dạng già nua th́ cá thể ấy sẽ phải chết non
v́ tác động của một thứ nghiệp khác mạnh hơn, chẳng hạn như các
trường hợp chết ở thể dạng phôi, thai nhi, ấu nhi, hay chết trẻ v́
bệnh tật, tai nạn, bị xử tử..., chu kỳ luân hồi sẽ quay ngược lại
mối dây sinh trước khi xảy ra mối dây cuối cùng là già nua, bệnh tật
và cái chết). Tuy nhiên th́ dầu sao
trong trường hợp này ít ra cũng phải cần có thêm một kiếp sống mới
nữa th́ toàn bộ chu kỳ mới có thể hoàn tất được. Nếu muốn cho mười
hai mối dây tương liên diễn biến trở lại đầy đủ th́ phải cần ít nhất
là ba kiếp sống là như thế.
Cô A.G.:
Vậy ông có thể nào giải thích toàn bộ diễn tiến đó theo chiều ngược
lại để theo dơi xem sự lôi kéo liên tục sẽ xảy ra như thế nào ?
Ông P.
Arène: Người ta có thể h́nh dung theo chiều ngược lại giống như
tháo gỡ tuần tự từng quân bài được xếp chống lên nhau để tạo thành
một cái nhà. Nếu không có sinh th́ không có tử, nếu không có h́nh
thành th́ sẽ không có sinh. Nếu không có thèm khát và tham lam th́
sẽ không có các thứ khác xảy ra tiếp theo sau. Cứ như thế người ta
có thể đi ngược trở về nguyên nhân đầu tiên tức là vô minh, nếu có
thể nói như thế.
Cô A.G.:
Vậy, người ta có thể tự giải thoát ra khỏi chu kỳ tái sinh để khỏi
quay trở lại lại thế giới ta bà hay không? Có phương pháp nào giúp
thực hiện được điều đó hay chăng?
Ông P.
Arène: Nhất định là phải có một phương pháp để thực hiện điều
đó, nếu không th́ Phật giáo không có một lư do nào để tồn tại, v́
vai tṛ của Phật giáo không phải chỉ để mô tả các hiện tượng mà
thôi. Vô minh tác động vào sự sống của chúng ta từ những thời gian
không khởi thủy và nó không phải là một thành phần nội tại thuộc bản
thể tự nhiên của tâm thức. V́ lư do vô minh không phải là thành phần
tự nhiên của tâm thức nên ta có thể loại bỏ được nó. Nhưng phải làm
thế nào? Phải dựa vào những ǵ trực tiếp đối nghịch với nó tức là
đối nghịch với sự nhận biết sai lầm về cái tôi, sự đối nghịch ấy
chính là trí tuệ tối thượng giúp nh́n thấy cái tôi, cái ngă đúng với
thực thể của nó, tức là tính cách lệ thuộc của cái tôi.
Cô A.G.:
Có phải đấy là cách giúp chúng ta tái sinh trong một thể dạng tự do
không c̣n bị trói buộc?
Ông P.
Arène: Khi mà ta không c̣n vướng mắc vào sự nắm bắt sai lầm ấy
nữa, th́ lúc đó ta sẽ không c̣n nh́n thấy tính cách tuyệt đối của
cái tôi nữa, và ta chỉ xem nó là một thứ ǵ mang tính cách lệ thuộc,
hoàn toàn trống không về sự hiện hữu. Chính đấy là chủ thuyết về
Tánh không, tức là sự trống không của mọi sự hiện hữu. Khi đă quán
nhận được điều đó ta sẽ cảm thấy ḿnh không c̣n liên hệ với cái tôi
giống như trước kia nữa. Ta sẽ không c̣n phải tái sinh ngoài sự mong
muốn của ḿnh trong trong bất cứ một cơi nào thuộc vào thế giới luân
hồi. Tuy nhiên ta vẫn có thể tự hỏi nếu như không tái sinh trở lại
trong thế giới ta bà th́ ta sẽ trở thành cái ǵ đây?
Cô A.G.:
Đúng thế, điều đó cũng không có nghĩa là sẽ rơi vào cơi hư không?
Ông P.
Arène: Đúng như thế. Tự ḿnh nhận thấy đă thoát ra khỏi thế giới
ta bà, tuy nhiên ta vẫn có thể tự nguyện quay trở lại với cái thế
giới khổ đau ấy, và nếu chọn giải pháp đó th́ ta sẽ phải tiếp tục
lang thang trong thế giới ta bà, nhưng tuyệt nhiên sẽ không c̣n khồ
đau như trước nữa. Thật ra khi đă thoát ra khỏi thế giới ta bà th́
ta sẽ có hai cách tái sinh khác nhau để chọn lựa: cách thứ nhất là
tái sinh vào cơi Tịnh độ của chư Phật, cách thứ hai là quay về với
thế giới hiện hữu như vừa tŕnh bày trên đây. Nếu như ta quay lại
làm người th́ đương nhiên ta sẽ phải chấp nhận sự sinh và cái chết,
nhưng thay v́ phải gánh chịu khổ đau như những người b́nh thường th́
ta sẽ không c̣n cảm thấy khổ đau trong sự sinh, sự h́nh thành và cái
chết nữa.
Cô A.G.:
Thưa ông Pierre Arène, xin cám ơn ông về những lời giải thích thật
minh bạch của ông.
http://www.bouddhisme-france.org (1)
http://www.bouddhisme-france.org (2)
Bures-Sur-Yvette, 10.01.10
Hoang
Phong