
Bát Nhă Là Một Công Án Thiền
Thứ ba, 19
Tháng 1 2010 07:12

Đừng đi t́m cái anh muốn thấy. Việc làm đó vô ích.
Không đi t́m, nhưng cho phép cái thấy tự đến, cái thấy ấy sẽ
giải phóng được cho anh.
- nhất hạnh-
Bát Nhă đây là
Tu Viện Bát Nhă ở Bảo Lộc, là Tăng thân Bát Nhă đang
gặp khó khăn và đang là một mối băn khoăn cho chính quyền, là Pháp nạn
của Phật giáo Việt Nam trong những thập niên đầu của thế kỷ thứ hăm mốt. Công án
là một vấn nạn cần phải giải quyết bằng niệm, định và tuệ chứ không thể
chỉ bằng trí năng của ta. Nếu chưa giải quyết được th́ ḿnh chưa có hướng đi,
chưa có an lạc và hạnh phúc. Công án này có thể được tham cứu chung, nhưng cũng
có thể được tham cứu riêng. Công án là một mũi tên cắm vào thân thể ta, chưa rút
được mũi tên ra th́ chưa có an lạc. Mũi tên này không phải từ bên ngoài bay tới.
Nó không phải là một tai nạn mà là một cơ hội để ta quán chiếu và vượt thoát
được những băn khoăn trăn trở của ta lâu nay về ư nghĩa cuộc đời, về tương lai
đất nước, về hạnh phúc chân thật của ta.
Vua Trần Thái
Tông ngày xưa đă từng tu Thiền, đă từng tham khảo công án và vua cũng đă đưa ra
bốn mươi công án Thiền với các bài Niêm, Tụng và Kệ để mời các bạn tu cùng tham
khảo tại chùa Chân Giáo. Những công án này c̣n được ghi lại trong sách
Khóa Hư Lục do vua sáng tác. Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Tung, anh ruột của
tướng Trần Hưng Đạo, cũng đă từng tham khảo công án, và cũng đă đề ra mười ba
công án, những công án này cũng c̣n được ghi lại trong sách Tuệ Trung
Thượng Sĩ Ngữ Lục.
Sách Bích Nham Lục do thiền sư Viên Ngộ biên soạn vào thế kỷ mười
hai có cả thảy 100 công án thiền với những lời Thùy thị, B́nh xướng và Trước ngữ,
là một tác phẩm cổ điển được sử dụng trong nhiều trăm năm ở chốn thiền môn.
Trong số các công án phổ thông nhất có các công án “Cây tùng trước sân”, “Cái
tất cả đi về cái một, cái một đi về đâu?”, “Con chó có Phật tính không?” và “Ai
đang niệm Phật?”. Công án hào hùng nhất mà Tuệ Trung Thượng Sĩ đưa ra là “ Tất
cả đều vô thường, đều là pháp sinh diệt. Cái ǵ sinh diệt?”
Công án không thể được giải quyết bằng lư luận, bằng biện chứng pháp, dù là biện
chứng pháp duy tâm hay duy vật, mà phải được giải quyết bằng niệm lực và định
lực, nghĩa là bằng năng lượng của chánh niệm và chánh định. Giải được công án
th́ ta thấy khỏe, không c̣n lo sợ thắc mắc ǵ nữa, là thấy được con đường đi, là
đạt được sự an tâm.
Nếu nghĩ rằng con chó có Phật tính hay không là một vấn đề của riêng con chó,
hoặc nghĩ đó là một vấn đề triết học cần phải giải quyết, th́ đó chưa phải là
một công án. Nếu nghĩ rằng cái một đi về đâu là một vấn đề chỉ liên hệ tới sự
vận hành của thế giới khách quan bên ngoài th́ đó cũng không phải là một công án.
Nếu nghĩ rằng Bát Nhă là vấn đề của 400 tu sinh đang gặp khó khăn, đang cần một
giải pháp “hợp t́nh hợp lư” th́ đó cũng không phải là một công án.
Chỉ khi nào thấy rằng Bát Nhă là vấn đề chính của bản
thân ta, nó có liên hệ trực tiếp đến hạnh phúc, đau khổ của ta, của tương lai ta
và tương lai đất nước dân tộc ta, và chừng nào chưa giải quyết được công án Bát
Nhă th́ ta c̣n ngủ không yên, ăn không yên, làm việc không yên, th́ lúc ấy Bát
Nhă mới thực sự là một công án. Niệm có nghĩa là nhớ tưởng,
là canh cánh bên ḷng, là nâng công án lên từng giây từng phút trong đời sống
hàng ngày của ḿnh để quán chiếu, không phút giây nào xao lăng. Niệm
phải liên tục không được gián đoạn. Khi ăn cơm, khi mặc áo, khi tiểu tiện
hoặc đại tiện, khi uống trà, khi tắm gội, hành giả phải đưa công án lên để mà
quán chiếu. Công án có khi c̣n gọi là thoại đầu. Phật là ai mà ta phải niệm, và
người đang niệm Phật, người ấy là ai? Ta là ai? Phải t́m cho ra. Chưa t́m ra là
chưa vỡ vạc, chưa chứng ngộ, chưa thông suốt.
***
Những vị
xuất gia trong Tăng thân Bát Nhă
chắc hẳn là những
người có cơ hội nâng công án Bát Nhă lên cứu xét nhiều nhất trong đời sống hàng
ngày. Ngày nào họ cũng ngồi thiền nhiều lần, đi thiền hành nhiều lần, và trong
khi nấu cơm, giặt áo, lặt rau, quét tước, v.v., lúc nào họ cũng có cơ hội tham
cứu về công án Bát Nhă. Họ có niệm và họ có định dễ dàng hơn, v́ đó là vấn đề
sống chết, vấn đề lư tưởng, vấn đề tương lai của họ. Và có người đă quán chiếu
thành công, v́ vậy ở trong một t́nh trạng bị đàn áp và khủng bố thường xuyên như
thế mà có những người trong số họ vẫn cười ḍn được, vẫn tươi như hoa, vẫn chế
tác được b́nh an và t́nh thương, vẫn không bị lo lắng sợ hăi và hận thù lôi kéo;
trong khi đó th́ những vị khác c̣n mang nặng chấn thương và những thống khổ gây
nên trong những ngày Bát Nhă và Phước Huệ bị đánh phá. Một sư cô đă làm được bài
kiến giải để tŕnh lên thầy của ḿnh. Cô viết: “Bát Nhă ngày xưa, nay đă thành
mưa, rơi xuống mặt đất, nẩy hạt Bồ đề.” Sư cô này chỉ khoảng 18 tuổi, và mới tu
chưa đầy hai năm, nhưng đă quán chiếu thành công.
Tại sao ḿnh chỉ muốn tu thôi mà người ta không cho
ḿnh tu? Tại sao các bậc tôn túc muốn che chở bảo lănh cho ḿnh tu mà nhà nước
lại không cho bảo lănh? Ḿnh có biết chính trị là cái ǵ đâu và chẳng
tha thiết ǵ tới chuyện chính trị, tại sao người ta cứ nói là ḿnh làm chính trị
và tại sao cứ nói Bát Nhă là một mối đe dọa cho an ninh quốc gia?
Tại
sao phải giải tán cho được Bát Nhă dù phải áp dụng những biện pháp như thuê côn
đồ, vu khống, lừa gạt, đánh đập, đe dọa? Tại sao họ là những người đáng bậc cha
chú ḿnh mà họ nỡ làm như thế đối với ḿnh? Nếu nhà nước không cho ḿnh tu chung
như một Tăng thân nữa mà bắt ḿnh phải mỗi người đi một ngả th́ làm sao trong
tương lai ḿnh có thể có lại một Tăng thân? Tại sao ở các nước khác người ta có
tự do để thực tập pháp môn, c̣n ở đây th́ không? Những câu hỏi như thế dồn dập
đi tới. Ngồi thiền, đi thiền hành, nghe pháp thoại, thực tập chánh niệm trong
khi nấu cơm, làm vườn, chấp tác, người hành giả nuôi niệm lực và định lực. Niệm
và định lực ấy như sức nóng của lửa làm tan ră tất cả những dấu hỏi, những vấn
nạn. Bát Nhă ngày xưa là hạnh phúc. Ḿnh đă được sống rất thật với chính ḿnh,
với cách sống mà ḿnh muốn sống. Ḿnh có thể nói ra những cảm nghĩ của ḿnh cho
các anh chị em đồng tu mà không e ngại sợ sệt. Ḿnh đă t́m ra được t́nh huynh đệ.
Ḿnh có cơ hội đem tuổi trẻ của ḿnh để giúp đời.
Đó là hạnh phúc lớn nhất. Bát Nhă trong những ngày qua cũng đă từng
là một cơn ác mộng, nhưng ta đă có cơ duyên t́m thấy ta rồi, ta đă t́m được con
đường rồi, th́ dù có Bát Nhă hay không có Bát Nhă ta vẫn không cần lo sợ. Bát
Nhă đă trở thành một cơn mưa, đă mưa xuống làm cho hạt giống kim cương nẩy mầm
trong ta. Ngày mai dù không có Bát Nhă, dù bị đuổi ra khỏi Phước Huệ, nhưng hạt
giống Bồ đề trong ta vẫn không bao giờ mất. Thầy đă dạy
mỗi đứa con thầy phải trở thành một Bát Nhă, một Phương Bối. Ḿnh là
sự tiếp nối của thầy, chắc chắn ḿnh sẽ tạo dựng được trong tương lai những Bát
Nhă mới, những Phương Bối mới. Đă có hạt giống rồi, đă có đường đi rồi, ḿnh
không c̣n lo sợ cho tương lai, tương lai của ḿnh và của đất nước. Những người
cấm cản ḿnh tu học hôm nay, ngày mai ḿnh sẽ có cơ hội độ cho họ. Họ chưa có
cái thấy bây giờ, nhưng sau này họ sẽ có cái thấy ấy. Một số trong
những người đă từng đàn áp, đă từng làm khổ ḿnh, bây giờ cũng đă hé thấy được
sự thật rồi. Thành kiến và tri giác sai lầm như bức
tường Bá Linh đang ră ra từ từ và sẽ sụp đổ. Ḿnh không lo ngại,
không tuyệt vọng. Ḿnh có thể cười vang như nắng sớm.
***
Ḿnh là một
vị đại úy công an.
Ban đầu ḿnh tin rằng nếu cấp trên đă có chính sách giải tán Bát Nhă th́ chắc
chắn là chủ trương này phù hợp với nhu cầu an ninh của đất nước. Ḿnh có niềm
tin nơi lănh đạo. Nhưng trong quá tŕnh thực hiện chính sách, ḿnh đă khám phá
ra nhiều việc đau ḷng. Bát Nhă đă trở thành công án của đời ḿnh. Ḿnh mất ăn,
mất ngủ. Giữa đêm ḿnh thức dậy. Ḿnh tự hỏi nhóm người này đă làm ǵ để ḿnh
phải nh́n họ như là những phần tử phản động, có hại cho an ninh. Họ có vẻ rất
b́nh an; chính ḿnh mới không có đủ b́nh an trong ḷng. Không có b́nh an trong
ḷng, ḿnh làm sao giữ ǵn và thiết lập được sự b́nh an trong xă hội? Trên
phương diện luật pháp, họ không có tội t́nh ǵ cả. Sự thực là ḿnh đă đứng về
phía những người muốn chiếm hữu tài sản của họ, buộc họ phải rời nơi mà họ đă cư
trú trong nhiều năm, nơi mà cơ sở đă do chính họ góp phần tạo dựng. Ḿnh đă làm
đủ mọi cách để cho họ đi, nhưng họ đă nhất định không chịu đi. Họ có vẻ thương
yêu nhau, đoàn kết với nhau. Họ sống một đời sống lành mạnh. Tuy họ trẻ tuổi,
nhưng không ai rơi vào ṿng ma túy, hút xách, đĩ điếm. Họ sống đơn giản, ăn chay,
ngồi thiền, nghe kinh, pháp đàm, hoàn toàn bất bạo động. Họ không có vẻ ǵ là
nguy hiểm. Họ không hề có một lời nói hoặc hành động nào chống báng nhà nước.
Ḿnh không thể nói là họ phản động, là họ làm chính trị được. Vậy mà cuối cùng
ḿnh phải nói họ là phản động, là làm chính trị. Ḿnh đă t́m mọi cách để cho họ
bỏ đi: dụ dỗ, dọa nạt, cúp điện nước, kiểm soát hộ khẩu mỗi ngày, và trong suốt
nhiều tháng lúc nào cũng tới chùa vào ban đêm để sách nhiễu họ, để họ nản ḷng.
Họ đă không trách móc, họ lại c̣n mời ḿnh ngồi lại, hát cho ḿnh nghe và đ̣i
chụp ảnh với ḿnh nữa. Cuối cùng ḿnh phải thuê côn đồ tới để phá phách, để đánh
đập, để buộc họ ra đi. Và ḿnh cũng phải mặc thường phục đến để chỉ huy, để chỉ
cho người ḿnh thuê biết ai là những người dẫn đầu để mà thanh toán. Họ không
chống trả. Vũ khí của họ chỉ là niệm Phật, ngồi thiền, và nắm lấy tay nhau, để
ḿnh không thể gỡ họ ra từng người mà tống lên xe được.
Có cả một vị thiếu tướng từ trung ương vào để chỉ huy
trận đánh. Tại sao phải huy động một lực lượng hùng hậu như thế, từ
trung ương đến địa phương, để đánh dẹp một nhóm người tay không hiền lành như
thế?
Tại
sao hơn một năm trời mà không dẹp được họ? Họ có ǵ để phải bám víu vào cái chùa
này? Chỉ có ngày hai bữa cơm chay, chỉ có ngày ba
buổi ngồi thiền, một buổi pháp thoại, một buổi thiền hành? Tại sao
đông như thế, trẻ như thế mà họ sống chung với nhau an lành được như thế? Trong
bọn họ có những đứa tốt nghiệp đại học, con của cán bộ cấp cao, có việc làm, có
lương cao, nhưng đă bỏ tất cả để đến sống đời đạm bạc tu hành. Phải có một cái
ǵ hay ho lắm mới hấp dẫn được họ như thế chứ? Đâu có thể nói là chỉ v́ họ nghe
lời đường mật của một người nào đó sống ở nước ngoài, để chống lại nhà nước ta?
Bởi v́ lệnh trên đă đưa ra, ḿnh phải thừa hành thôi, nhưng ḿnh rất hổ thẹn với
lương tâm ḿnh. Trước kia, ḿnh đă nghĩ là những thủ đoạn ấy chỉ để sử dụng tạm
thời v́ nước v́ dân, v́ sự nghiệp đại đoàn kết. Nhưng bây giờ ḿnh đă thấy những
thủ đoạn ấy là gian trá, là thấp hèn, là trái với lương tâm con người. Ḿnh bắt
buộc phải giữ những cảm nghĩ này cho riêng ḿnh. Ḿnh không dám nói cảm nghĩ ấy
ra dù với những người trong cùng đơn vị, huống hồ là nói với cấp trên. Ḿnh đi
tới cũng không được, mà t́m cách thoát khỏi guồng máy cũng không xong. Phải làm
thế nào đây để ḿnh có thể sống thật được với chính ḿnh?
***
Ḿnh thuộc
hàng giáo phẩm của Giáo Hội.
Bát Nhă đă trở thành một trăn trở lớn. Những người tu trẻ ấy, ḿnh biết là họ
có tu thật. Ai đă từng thăm viếng và tiếp xúc với họ đều thấy như thế. Nhưng tại
sao ḿnh bất lực không che chở được cho họ? Tại sao ḿnh phải sống và hành xử
như một nhân viên của chính quyền? Tách rời chính trị khỏi tôn giáo, giấc mơ này
đến bao giờ mới thực hiện được? Trong thời Thực dân, trong thời ông Diệm và ông
Thiệu, tuy hành đạo có khó khăn thật đấy, nhưng người tu cũng không bị kiểm soát
gắt gao quá đáng như trong hiện tại. Người ta chỉ muốn có một đạo Phật của tín
mộ, của thờ cúng, người ta không muốn có một đạo Phật có khả năng lănh đạo tinh
thần và văn hóa đạo đức cho quốc dân. Một đạo Phật thật sự có uy quyền lănh đạo
tinh thần, người ta rất sợ. Người ta chỉ chấp nhận được một tổ chức Giáo Hội mà
người ta có thể kiểm soát được, sai sử được. Ngày xưa đức Thế Tôn cũng đă không
chịu khuất phục trước bạo quyền, kể cả bạo quyền của vua A Xà Thế. Trong thời
Pháp thuộc, trong thời ông Diệm, ông Kỳ và ông Thiệu, các bậc cha anh của ḿnh
cũng đă tranh đấu. Tại sao bây giờ ḿnh không tiếp nối được công hạnh ấy, tại
sao ḿnh phải chấp nhận vai tṛ làm công cụ cho một đường lối chính trị không
muốn cho phép ḿnh vươn dậy trên con đường lư tưởng, thực hiện hoài băo cao cả
của bồ đề tâm?
Ban đầu ḿnh nghĩ rằng bó thân theo nhà nước th́ c̣n có cơ hội làm được một ít
“Phật sự”, c̣n nếu chống nhà nước th́ hoàn toàn là sẽ không làm được ǵ, do đó
ḿnh đă phải ẩn nhẫn chịu đựng mọi chê trách của các bạn đồng liêu để đi vào
guồng máy. Nhưng sau đó ḿnh lại thấy rất rơ ràng rằng chính nhờ các vị ở ngoài
Giáo Hội có can đảm nói lên tiếng nói phản kháng cho nên người ta mới để cho
ḿnh làm được một ít công việc Phật sự. Ḿnh sẽ trả lời như thế nào với lịch sử?
Ư nguyện của ḿnh là vực dậy một nền Phật giáo sinh động có công năng phục vụ
dân tộc và đất nước, không phải là chiếm giữ một chức vụ trong guồng máy kiểm
soát Phật tử.
Vị thượng tọa kia bị áp lực không cho phép được tiếp tục bảo lănh cho các tăng
sinh tiếp tục tu học tại chùa, không đủ sức kháng cự, phải buộc ḷng phản thầy,
phản bạn, đi ngược lại lời nguyền và sự cam kết long trọng của ḿnh cách đây chỉ
có mấy năm. Tội nghiệp cho vị ấy. Nhưng vị ấy là ai? Vị ấy có mặt ngoài ḿnh hay
có mặt ngay trong tự thân ḿnh ? Ḿnh cũng đang bị áp lực, không dám nói và làm
những ǵ ḿnh nghĩ để có thể bảo hộ cho con em của chính ḿnh. Có phải hoài băo
sâu sắc của ḿnh là “Tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân
đức”? Vậy mà v́ cớ ǵ ḿnh đành phải bất lực nh́n các học tăng, học
ni con em của ḿnh bị đàn áp, nhục mạ và chà đạp? Ḿnh sẽ nh́n con cháu ḿnh
bằng mặt mũi nào? Chân diện mục của ḿnh là ǵ? Ḿnh là ai?
Ḿnh là huynh đệ với nhau, cùng là đệ tử của đức Thế Tôn, nhưng có phải v́ công
phu thực tập xây dựng t́nh huynh đệ của ḿnh chưa đủ vững chắc, cho nên ḿnh mới
bị người ta chia rẽ và kết quả là ḿnh đă giận hờn nhau, trách móc nhau? Theo
nguyên lư thị hiện của dạy th́ đáng lư dù theo Giáo Hội này hay Giáo Hội kia,
ḿnh cũng vẫn là anh em của nhau, bên nào làm việc bên ấy mà không cần phải
chống đối nhau và xem nhau như thù nghịch. Đó phải chăng là v́ sự thực tập của
ḿnh c̣n yếu kém? Đó phải chăng là v́ đạo lực của ḿnh chưa đủ cao cường? Nhưng
ḿnh đă học được bài học: nếu ngay tự bây giờ ḿnh biết nh́n nhận nhau, ḥa giải
với nhau th́ ḿnh vẫn có thể vực dậy t́nh huynh đệ ngày xưa, gây niềm tin cho
quốc dân và làm gương cho bốn chúng. Dù có trễ nhưng vẫn c̣n kịp thời. Chỉ cần
một giây phút giác ngộ là t́nh trạng đạo pháp sẽ thay đổi. H́nh như Bát Nhă ngày
nay đă học được bài học ấy: những vị xuất gia tu học ở đây, số lượng có cả đến
400 vị, nhưng khi bị đánh đuổi họ đă không bao giờ tỏ vẻ thù hận vị thượng tọa
đă từng cưu mang họ trong bao nhiêu năm. Họ biết rằng vị thượng tọa ấy v́ chịu
áp lực rất nặng nên đă bị bắt buộc phải mời họ ra khỏi chùa. Ḿnh bị dồn vào
phía phải phản bội huynh đệ ḿnh, đó là v́ pháp lực của ḿnh chưa tới mức cao
cường. Ḿnh phải quyết tâm hạ thủ công phu thế nào để đạt cho được mức đạo lực
ấy? Có hiểu mới có thương. Mà đă thương th́ sẽ không c̣n xem nhau như là thù
nghịch. Xem nhau như là thù nghịch tức là c̣n làm nạn nhân cho những âm mưu chia
rẽ.
Người Phật tử Việt Nam, từ hai ngàn năm nay, thời nào cũng thuần kính tôn ngưỡng
Tam Bảo, một ḷng quy ngưỡng Phật, Pháp và Tăng. Vậy mà bây giờ có những nhóm
người được thuê mướn, mang guốc dép đi vào Phật điện giăng biểu ngữ, chửi bới,
ném phân thối vào chư vị tôn túc, đập phá chùa, hành hung, đánh đuổi các thầy và
các sư cô ra khỏi chùa. Các viên chức chính quyền đă thuê mướn họ, nói họ là
Phật tử. Đó là một hành động vu cáo Phật giáo, bôi bẩn lịch sử. Hành động này
làm cho ḿnh muốn nôn mửa, nhưng tại sao ḿnh không dám nói lên ? Giáo hội Phật
giáo có khả năng minh oan cho người Phật tử khi người Phật tử bị bôi xấu và bị
vu oan giá họa không ?
Bát Nhă không phải là một vấn đề mà ban Thường Trực Giáo Hội phải giải quyết cho
xong. Bát Nhă là một công án, một vấn nạn của đời ḿnh. Ḿnh sẽ phải giải quyết
như thế nào để đừng hổ thẹn với chư vị tổ sư, với những bậc tiền bối? Tại sao
ḿnh không nói được cảm nghĩ chân thành của ḿnh với các vị đồng liêu trong
guồng máy Giáo Hội? Tại sao ḿnh không được phép thực tập phép Kiến ḥa đồng
giải, mà phải che dấu tư tưởng và cảm nghĩ của ḿnh?
***
Ḿnh là
một thành phần của Ban Tuyên Giáo Trung Ương, một ủy viên Bộ Chính Trị hay một
ủy viên Trung Ương Đảng.
Bát Nhă là cơ hội
để ḿnh quán chiếu sự thật và t́m ra được b́nh an trong tâm ḿnh. Không có b́nh
an th́ làm sao có hạnh phúc. Mà làm sao để có b́nh an khi ḿnh chưa thực sự tin
vào con đường mà ḿnh đang đi, và nhất là không có niềm tin nơi những người được
xem như là bạn đồng hành? Có phải là ḿnh đang cùng ngủ chung trên một chiếc
giường, nhưng mỗi người đều có riêng một giấc mộng? Tại sao ḿnh không chia sẻ
những cái ưu tư và cái cảm nghĩ của ḿnh với những người mà ḿnh gọi là đồng chí,
có phải v́ ḿnh sợ bị lên án là đánh mất lập trường? Tại sao tất cả mọi người
đều cùng nói như nhau về cái ấy, trong khi không một ai thật sự tin vào cái ấy,
cũng giống như trong một câu chuyện cổ tích của Hans Christian Andersen, tất cả
các quan trong triều đều khen là vua đang mặc một cái áo rất đẹp, trong khi đó
thật sự vua đang ở trần?

Giấc mộng đẹp
nhất là hạnh phúc của ḿnh được ḥa làm một với hạnh phúc của quê hương.
Cây có cội, nước có nguồn, quê hương có cội nguồn tuệ
giác và tâm linh của nó. Đời Lư là một đời thuần từ nhất trong lịch
sử đất nước. Đời Trần dân tộc hùng mạnh, đoàn kết, dư sức đẩy lùi những cuộc xâm
chiếm của phương Bắc. Đó là nhờ công tŕnh giáo hóa của đạo Phật, một con đường
tâm linh có đặc tính khoan dung, có thể chấp nhận và đi song hành với các tư
trào tâm linh và đạo đức khác như Lăo học và Khổng học để cùng xây dựng đất nước
mà không có nhu yếu phải loại trừ ai.
Ḿnh có duyên học hỏi, ḿnh biết rằng đạo Phật không phải là một tôn giáo thần
quyền, mà là một chủ nghĩa nhân bản rất là vững chăi.
Đạo Phật có tinh thần cởi mở và phá chấp, nghĩa là tinh thần khoa học, và trong
thế kỷ mới, đạo Phật có thể đi song hành thoải mái với khoa học. Khoa học đây là
tinh thần khoa học, thái độ sẵn sàng buông bỏ cái thấy cũ để có cơ hội đạt tới
cái thấy mới. Khoa học mới đă vượt xa khoa học cũ, nhất là trong lĩnh vực
vật lư vi mô. Cái mà ta cho là khoa học ngày xưa bây giờ có c̣n là khoa học nữa
không? Tâm và vật chỉ là hai mặt biểu hiện của cùng một thực tại: cái này ôm lấy
cái kia, cái này dựa trên cái kia mà biểu hiện. Khoa học hiện đại đang nỗ lực
vượt thoát lối tư duy nhị nguyên như tâm và vật, trong và ngoài, chủ thể và đối
tượng, thời gian và không gian, vật thể và tốc độ, v.v.. Khi c̣n vướng bận những
phiền năo như giận hờn, lo lắng, đam mê và kỳ thị th́ tâm chưa thể nào có đủ
niệm và định để phát kiến được sự thực dù ta đang có những dụng cụ máy móc tinh
vi nhất. Bởi v́ đằng sau máy móc c̣n có tâm quan sát.
H́nh như ta đă biết sở dĩ toàn dân kiên tŕ yểm trợ cho cách mạng đó là v́ ḷng
yêu nước chứ không phải là v́ một chủ nghĩa. Nếu không dựa vào ḷng yêu nước của
nhân dân mà chỉ biết thờ phụng một chủ nghĩa th́ chắc chắn ta đă thất bại. Đọc
lại lịch sử, ta đă thấy rằng v́ thái độ vồ vập và cuồng tín vào chủ nghĩa, nên
đă có những thanh toán lẫn nhau trong đoàn ngũ kháng chiến ; những vết thương ấy
của dân tộc măi cho đến bây giờ vẫn chưa được chữa lành.
Ta thử hỏi : đứng về phương diện đấu tranh giai cấp mà nói, th́ hiện thời giai
cấp nào đang thực sự nắm quyền cai trị ? Giai cấp vô sản hay giai cấp tư bản ?
Ta có đang tin rằng, tư bản nhân dân là một chuyện có thật, hay đó chỉ là một
diễm từ ?
Ta biết nếu muốn thành công, ư Đảng phải đi theo với ḷng Dân. Ḷng dân là muốn
cho người tu được phép tu tập và giúp đời theo cách họ muốn, trong khuôn
khổ của pháp luật. Ḷng dân là muốn cho mọi người công dân ai cũng có cơ hội
được nói lên cái thấy cái nghĩ của ḿnh mà không sợ bị trừng phạt, đe dọa và tù
tội. Ḷng dân là muốn tách rời tôn giáo ra khỏi chính trị và chính trị ra khỏi
tôn giáo. Ḷng dân mà được thỏa th́ tự nhiên có sự đoàn kết và Đảng sẽ được ủng
hộ. Đảng không cần phải hô hào đoàn kết và kêu gọi sự yểm trợ nữa, một khi Đảng
đă có được ḷng dân. Ḷng Dân như thế, ư Đảng thế nào?
Ta biết tinh thần khoan dung của đạo Phật đời Lư và đời Trần đă đem lại sự đoàn
kết đích thực của toàn dân, v́ theo tinh thần ấy tất cả mọi người yêu nước đều
có cơ hội góp phần vào công tŕnh xây dựng và bảo vệ đất nước mà không ai bị
loại bỏ ra ngoài. Tinh thần dung hợp không kỳ thị ấy trong đạo Phật gọi là xả,
một trong bốn đứcVô Lượng Tâm là từ, bi, hỷ và xả. Đó là một di sản tinh thần
quư báu trong kho tàng văn hóa dân tộc. Ta biết được rằng trong các đời Lư và
đời Trần, những người làm chính trị đều tu tập theo đạo Phật cùng với dân chúng,
vua cũng giữ giới, ăn chay, làm việc thiện, v́ vậy đă được dân chúng trong nước
tin cậy.
Làm sao bài trừ được những tệ nạn xă hội như ma túy, đĩ điếm, cờ bạc, bạo hành,
tham nhũng, lạm quyền, v.v. khi chính những viên chức nhà nước có phận sự bài
trừ tệ nạn cũng đang bị vướng vào những tệ nạn ấy? Quốc sách thôn ấp văn hóa,
khu phố văn hóa làm sao thành công được chỉ với sự kiểm soát và trừng phạt
suông? Ai là người cần được kiểm soát và trừng phạt trước hết?
Ta biết rằng gia đ́nh nào có tu tập có giữ giới là gia đ́nh ấy có an vui và có
hạnh phúc. Đạo Phật trong hai ngàn năm qua đă giáo hóa dân chúng giữ ǵn phong
hóa bằng cách thực tập ăn chay giữ giới. Ăn chay tượng trưng cho sự tiết dục,
nghĩa là giảm bớt dục vọng. Người Phật tử tự nguyện ăn chay, giữ giới và làm
việc nhân đức chứ không bị ai bắt ép làm việc ấy, cũng như không ai bị trừng
phạt v́ không làm việc ấy. Bây giờ đây những người tu trẻ đang có chí hướng vực
dậy nếp sống phong hóa ấy và họ đang có triển vọng thành công, thế th́ tại sao
ta lại đánh dẹp họ? Ta sợ họ có quần chúng th́ ta mất quần chúng hay sao? Tại
sao ta không phát tâm tu học như họ, đồng nhất với họ, để có được sự hưởng ứng
và yểm trợ của họ? Tại sao ta không làm được như các vua đời Lư và đời Trần? Hay
tại v́ ta là người Mác-xít, ta không có quyền quy y, ăn chay và giữ giới?
Ta biết trong Đảng và trong chính quyền hiện giờ nhiều người đă nói rằng họ đang
có một cái nh́n thông thoáng hơn về các vấn đề tôn giáo và tâm linh. Sự thực là
các ông lớn bây giờ ai cũng có tin vào phong thủy, vào vận mạng, vào ngoại cảm,
vào đổi mạng. Điều này chứng tỏ từ một thái cực này người ta đă đi sang thái cực
khác. Trong khi đó người ta vẫn cố gắng giữ để cho bề ngoài ḿnh không có vẻ mê
tín dị đoan.
Các vua Lư và vua Trần đă thực sự tin tưởng ở con đường đạo đức tâm linh, do đó
nhiều vị đă sống được nếp sống đạo đức gương mẫu, và có thể v́ vậy cho nên dân
mới làm theo. Một ông vua giữ giới, ăn chay, gửi chăn chiếu vào các nhà tù để
cho tù nhân bớt khổ v́ cái lạnh, đi vi hành để thấy được nếp sống thực sự và
nguyện vọng của người dân, một ông vua biết ngồi thiền, tham cứu công án, thực
tập sám hối một ngày sáu thời, dịch kinh, biết nương vào đức độ và lời khuyên
dạy của một vị thiền sư mà ḿnh tôn quư như một vị quốc sư, một ông vua nhường
ngôi cho con để xuất gia tu hành khổ hạnh trên núi Yên Tử, một ông vua như thế
có thể làm gương đạo đức cho cả nước. Ngày nay, ta hô hào vận động cán bộ và
quần chúng “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, nhưng có được
mấy ai trong tổ chức ta đang sống được như một người gương mẫu cho các đồng chí
của ḿnh? Đạo Phật Đại Thừa dạy: “Anh phải là con người ấy. Anh phải làm gương
mẫu. Anh phải sống như thế th́ anh mới gây cảm hứng cho người khác sống như thế.”
Ta biết tham nhũng và lạm quyền đă trở thành một quốc nạn. Ta biết ta đă hô hào
bao nhiêu năm nhưng chẳng có kết quả ǵ và t́nh trạng càng ngày càng trở nên
trầm trọng. Tại sao? Có phải tại v́ ta chỉ biết dựa vào hào quang của tiền nhân
để tự hào, để khoe khoang là ta có một quá khứ vẻ vang, nhưng trong hiện tại, ta
không làm được những ǵ mà cha ông ta đă làm được trong quá khứ? Rồi ngày nay
nếu có những người trẻ tuổi đang t́m cách làm việc ấy cho ta th́ ta lại ngăn cản
và đàn áp họ?

Vụ Bát Nhă
có thể đă bắt đầu bằng chuyện làm ăn của một công ty du lịch do những người công
an chủ trương, liên hệ tới khách sạn và thị thực nhập cảnh, rồi sau đó thêm vào
sự lạm quyền và thù oán để cuối cùng trở thành một chủ trương mà nhà nước phải
đi theo. Có thể ta không có th́ giờ xem xét mà chỉ tin vội vào những báo cáo đặt
điều. Rồi ta để cho nhân viên dưới quyền sử dụng những biện pháp lừa dối, gạt
gẫm, đàn áp những người dân hiền lành chưa từng gây ra một rối loạn nào cho xă
hội. Và cuối cùng ta bị đặt vào cái thế phải xem là kẻ thù những ǵ theo nguyên
tắc ta đă từng muốn tôn quư. Kẻ thù của ta có đích thực là những “thế lực thù
nghịch” bên ngoài hay không? Kẻ thù ta nằm ngay nội bộ: những con ong mà ta nuôi
trong tay áo của ta. Liệu ta có đủ can đảm và thông minh để đối trị với những
yếu kém của chính ta không, đó là câu tham vấn căn bản.
Pháp môn
Làng Mai có thể là cơ hội hiếm có để hiện đại hóa đạo Phật ở Việt Nam, và bốn
năm hành tŕ ở Việt Nam h́nh như đă chứng tỏ được khả năng của pháp môn ấy. Vậy
th́ tại sao ta lại chịu áp lực của Trung Quốc để đàn áp và tiêu hủy ngay một
nguồn sinh lực quư báu của ta ? Ta nhận được cái ǵ quư giá của người khác trong
khi ta bị tước đoạt cái quư giá mà ta đang có?
Cách thức
ăn mừng Một Ngàn Năm Thăng Long hay nhất có thể là cùng nhau nỗ lực tu tập, làm
được và sống được như Lư Công Uẩn, như Trần Thái Tông, như Trần Thánh Tông, như
Trúc Lâm Đại Sĩ, như Tuệ Trung Thượng Sĩ. Các vị ấy là những nhà chính trị nhưng
đồng thời cũng là những người sống thật sự nếp sống tâm linh mà họ tin tưởng. Ta
có cái ǵ để tự hào, ngoài cái quá khứ hào hùng của cha ông? Ta đă đánh mất lư
tưởng cách mạng, đă làm tàn rụi ngọn lửa thiêng cách mạng, và những người đồng
chí của ta không thật sự c̣n là những người đồng chí, bởi v́ trong họ ngọn lửa
thiêng cách mạng đă tắt. Lư do họ có mặt trong hàng ngũ là quyền lợi, danh vọng
và chỗ đứng của họ. Pháp môn thực tập Làng Mai là một phần trong di sản văn hóa
đất nước, hiện thời đang có khả năng đóng góp đáng kể cho một nền văn minh đạo
đức toàn cầu, không phải chỉ trên mặt lư luận mà quan yếu nhất là trên mặt thực
tế. Biết bao nhiêu người trên thế giới đă biết đến và đă thừa hưởng được sự giáo
hóa này. Ta đă biết hănh diện về nó, tại sao ta lại để cho xảy ra chuyện đánh
phá và triệt tiêu nó ngay trong mảnh đất sinh thành ra nó? Đó là những câu hỏi
mà nếu ta để cho chúng tác động trong phần sâu thẳm của tâm thức ta th́ chúng sẽ
có thể làm bật lên cái tuệ giác mà ta cần có để thấy được con đường và cách hành
xử mà ta đang trông đợi.
***
Ḿnh là một
vị nguyên thủ quốc gia hoặc một vị bộ trưởng, nước ḿnh có hay không có chân
trong Hội Đồng Bảo An hay Ủy Ban Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc.
Ḿnh biết các vụ như Bát Nhă, Tam Ṭa, cũng như những vụ Thiên An Môn, Tây Tạng
v.v.. đều là những vụ vi phạm trầm trọng về nhân quyền; nhưng v́ quyền lợi quốc
gia, v́ muốn bán vũ khí, máy bay, xe lửa cao tốc, nhà máy điện lực nguyên tử, và
những kỹ thuật mới khác, v́ muốn hợp tác thương măi đầu tư, muốn có thị trường
tiêu thụ các hàng hóa khác mà ḿnh sản xuất, cho nên ḿnh đă không dám mạnh dạn
lên tiếng và đi tới những quyết định có thể gây sức ép trên quốc gia liên hệ để
họ sớm chấm dứt việc vi phạm nhân quyền trong nước họ. Ḿnh cảm thấy hổ thẹn,
lương tâm ḿnh không an ổn. Nhưng v́ muốn đảng và chính quyền ḿnh thành công
nên ḿnh đành cam chịu nói rằng những vi phạm nhân quyền của các nước ấy cũng
chưa đến nỗi nào. Ḿnh cũng đang ở trong một guồng máy, ḿnh chưa thật sự được
là ḿnh, v́ ḿnh đang không nói được cảm nghĩ và cái thấy chân thật của ḿnh về
t́nh trạng. Ḿnh làm sao để có sự an tâm và không hổ thẹn với chính ḿnh? Bát
Nhă là một vấn đề nhân quyền ở Việt Nam nhưng cũng là một công án cho một nhà
lănh đạo chính trị cao cấp như ḿnh. Làm sao để ḿnh không bị lương tâm cắn rứt
và thực sự có hạnh phúc ?
***
Công án Bát Nhă
là của mọi người, là của mỗi cá nhân và cũng là của từng tập thể. Công án ấy có
thể được tham cứu bởi một vị tu sinh Bát Nhă, một học tăng đang theo học tại một
trường Trung Cấp Phật Học trong nước, một vị Thượng Tọa trong Giáo Hội, một chú
Công an, một ông Bộ trưởng, một vị Linh mục Công giáo, một vị Mục sư Tin lành,
một ủy viên Bộ Chính Trị, một vị chủ tịch Hội Đồng Nhân Dân Thành Phố, một bí
thư Tỉnh Ủy, một ủy viên Trung Ương Đảng, một nguyên thủ quốc gia, một chủ bút
nhật báo hay tạp chí, một nhà trí thức, một nhà nghệ sĩ, một nhà doanh thương,
một giáo chức, một kư giả, một vị trú tŕ, một vị đại sứ. Bát Nhă là một cơ hội,
v́ Bát Nhă có thể giúp ta thấy được rơ ràng những ǵ mà lâu nay ta chưa thấy
hoặc chưa muốn thấy.
Trong truyền thống Thiền, có những khóa tu bảy ngày, hăm mốt ngày, bốn chín
ngày, v.v.. trong đó vị thiền giả để hết tâm ư vào công án. Giờ phút nào trong
đời sống hàng ngày cũng là giây phút tham cứu : khi ngồi (thiền tọa), khi đi
(thiền hành), khi thở, khi ăn, khi chải răng, khi giặt áo, v.v.. lúc nào tâm ư
cũng tập trung vào công án, nghĩa là vào đối tượng tham cứu. Khóa thiền phổ
thông nhất là khóa bảy ngày, gọi là thiền thất. Thất đây có nghĩa là bảy. Mỗi
ngày, tất cả các hành giả đều được tiếp xúc với vị thiền sư trong giờ khai thị.
Vị thiền sư có thể đưa ra những chỉ dẫn giúp cho thiền giả tập trung tâm ư vào
đúng chỗ. Khai nghĩa là mở ra, thị có nghĩa là chỉ
cho thấy. Mở vấn đề ra, chỉ cho ta thấy rơ vấn đề hơn. Khai thị không có nghĩa
là trao truyền sự thật. Sự thật, hành giả phải tự chứng nghiệm. Vị thiền sư có
thể nói những lời khai thị trong ṿng mười phút, rồi các thiền giả trở về chỗ
ngồi của ḿnh để tham cứu. Có khi hàng trăm vị thiền giả cùng ngồi tham cứu ở
thiền đường, ngồi xoay mặt vào vách. Sau một thời ngồi thiền, lại có một thời đi
thiền. Các hành giả đi chậm, mỗi bước chân đưa ḿnh về với công án. Đến giờ ăn,
có thể được ăn ngay trên chỗ ngồi thiền của ḿnh, vừa ăn vừa quán chiếu. Đi đại
tiện, tiểu tiện cũng là cơ hội quán chiếu. Im lặng hùng tráng rất cần thiết cho
sự tham cứu thiền, cho nên ở bên ngoài thiền đường luôn luôn có bảng treo ‘chỉ
tịnh’.
Ngày xưa, vua Trần Thái Tông ngộ đạo nhờ tham cứu công án “bốn núi” và công án
“con người thật không có vị trí (vô vị chân nhân) ”. Thiền sư Liễu Quán ở Phú
Yên ngộ đạo nhờ tham cứu công án “tất cả đi về một, một đi về đâu? ” và đă đệ
tŕnh kiến giải tại chùa Ấn Tôn (Từ Đàm), Huế.
Muốn thành công trong sự tham cứu công án, phải có khả năng buông bỏ mọi kiến
thức, mọi ư niệm và mọi lập trường ḿnh đang có. Vướng vào một tư kiến, một lập
trường hay một ư thức hệ th́ ḿnh không c̣n có đủ tự do để cho công án có thể
bung ra trong tâm thức của ḿnh. Phải buông bỏ tất cả những cái gọi là sở tri,
nghĩa là những cái ḿnh đă tiếp nhận trước kia, những cái mà ḿnh từng xem là sự
thật. Nếu ḿnh tin là ḿnh đang nắm trong tay sự thật rồi th́ cánh cửa của ḿnh
đă đóng lại, và dù bây giờ sự thật có tới gơ cửa, ḿnh cũng không chịu mở cửa.
V́ vậy cho nên sở tri là một chướng ngại, gọi là sở tri chướng.
Đạo Phật đ̣i hỏi tự do. Tự do tư tưởng là nền tảng căn bản của tiến bộ. Đó đích
thực là tinh thần khoa học. Chính trong không gian thênh thang ấy mà đóa hoa tuệ
giác có một cơ hội nở ra.
Trong truyền thống thiền, tăng thân là một yếu tố rất tích cực. Khi cả mấy trăm
hành giả cùng yên lặng tham cứu với nhau, th́ năng lượng tập thể của niệm
(ư thức) và của định (tập trung) rất hùng hậu. Năng lượng tập trung của
ḿnh nhờ vậy được nuôi dưỡng trong từng giây phút và công án có rất nhiều cơ hội
để bung ra. Môi trường này rất khác môi trường của một hội nghị, một tọa đàm hay
một buổi họp. V́ kỷ luật của thiền môn rất nghiêm túc và v́ khung cảnh của thiền
môn rất thuận lợi cho sự tập trung, thêm vào đó có sự hướng dẫn của vị thiền sư
và sự yểm trợ yên lặng của các bạn thiền giả, nên ta có nhiều cơ hội để thành
công.
Những điều đề nghị ở phần trước có thể được xem là những lời khai thị có công
năng giúp một phần nào cho công tŕnh tham cứu. Phải xem đó là dụng cụ, đừng cho
đó là chân lư. Đó là chiếc bè qua sông để tới bờ bên kia, mà không phải là bờ
bên kia. Qua tới bờ bên kia th́ phải vứt bỏ chiếc bè. Nếu quư vị quán chiếu
thành công, có tự do, thấy được con đường rồi th́ quư vị có thể đem đốt những
lời khai thị ấy, hoặc liệng nó vào sọt rác.
Xin chúc tất cả liệt vị thành công trong việc tham cứu công án Bát Nhă.
Nhất Hạnh
Nguồn:
www.langmai. org |