KHÁI QUÁT NHỮNG TIỀN ĐỀ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC
PHẬT GIÁO VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN LƯ-TRẦN
Th.S. Đỗ Ngây
(Thích Thông Thức)
Học viện Phật giáo Việt Nam tại Tp. Hồ Chí Minh
Trong khoảng
1000 năm tồn tại và phát triển, Phật giáo dung hợp văn hoá bản địa,
góp phần vào sự phát triển chung của dân tộc. Từ nền tảng này, đă
tạo ra một bước chuyển h́nh thành triều đại Lư - Trần thịnh vượng
phú cường kéo dài khoảng 400 năm. Đó cũng là thời hoàng kim của Phật
giáo Việt Nam.
Trước hết,
chúng tôi khái quát về phân kỳ Phật giáo. Phân kỳ lịch sử có ư nghĩa
rất quan trọng trong phương pháp luận sử quan. Bởi v́, nó mang tính
logích nội tại cần thiết cũng như ư nghĩa của h́nh thái ư thức xă
hội trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định. Bằng phương pháp luận và
thế giới quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng và dựa theo cách phân
kỳ của các tác giả đi trước, chúng tôi nh́n lịch sử Phật giáo Việt
Nam không đứng trên góc độ triều đại hay theo các ḍng thiền. Theo
chúng tôi, chính h́nh thái kinh tế - xă hội là cơ sở của phân kỳ
Phật giáo, xét đến cùng th́ Phật giáo với tư cách là kiến trúc
thượng tầng, luôn phản ánh và chịu sự chi phối của cơ sở hạ tầng
trong một h́nh thái kinh tế - xă hội cụ thể. Từ trước đến nay, phân
kỳ lịch sử Phật giáo Việt Nam có mấy xu hướng như sau:
Một là,
cách phân kỳ lịch sử Phật giáo Việt Nam sắp xếp theo triều đại, xem
Phật giáo như một bộ phận của triều đại. Cách phân kỳ này, tác giả
Mật Thể viết Việt Nam Phật giáo sử lược, vào năm 1943, gồm 10 chương:
1. Thời
đại Phật giáo du nhập: Phật giáo đời Bắc thuộc.
2. Phật giáo
Hậu Lư Nam Đế và Bắc thuộc thứ ba.
3. Phật giáo
đời nhà Đinh và đời Tiền Lê.
4. Phật giáo
đời nhà Lư.
5. Phật giáo
đời nhà Trần.
6. Phật giáo
đời nhà Hồ đến đời thuộc Minh
7. Phật giáo
đời Hậu Lê
8. Phật giáo
thời đại Nam Bắc phân tranh
9. Phật giáo
trong thời kỳ cận đại (Triều Nguyễn)
10. Phật giáo
hiện đại [xem: 48].
Theo quan
điểm trên, tác giả tŕnh bày Phật giáo như một bộ phận của triều
đại, lấy triều đại làm chính, nghĩa là tác giả đă gắn Phật giáo theo
sự thịnh suy của mỗi triều đại. Xét về mặt lịch sử, cách phân kỳ này
nêu rơ được vai tṛ Phật giáo trong từng triều đại cụ thể. Trong khi
đó, Phật giáo Việt Nam luôn thể hiện rơ nét vị trí của ḿnh trong
suốt chiều dài lịch sử hơn hai ngh́n năm từ khi du nhập vào Việt
Nam, Phật giáo vẫn tồn tại và không ngừng phát triển trong ḷng dân
tộc, chứ không phải theo sự thịnh suy của triều đại. Bởi v́, mỗi
triều đại chỉ có vai tṛ và sứ mệnh trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất
định. Nói cách khác, một triều đại chỉ có thể tồn tại khi nó đáp ứng
được nhiệm vụ lịch sử mà dân tộc đặt ra; nếu ngược lại, tất sẽ có
một thể chế mới lên thay thế để thực thi nhiệm vụ đó.
Cách nh́n
nhận Phật giáo như vậy, đó chỉ là một bộ phận của mỗi triều đại chứ
không nêu rơ sự đóng góp của Phật giáo cho dân tộc, mà là cho chính
triều đại đó. Sự thịnh suy của Phật giáo theo sự hưng vong của từng
triều đại cụ thể là có thật nhưng nó chỉ mang tính nhất thời. Chúng
ta biết rằng, lịch sử là quá tŕnh sự vận động, là kết quả hoạt động
thực tiển của con người th́ ư thức là sự phản ánh hoạt động thực
tiển đó. Nhưng đối với trào lưu tư tưởng văn hoá như Phật giáo th́
lịch sử như một quá tŕnh vận hành có ư thức thể hiện rơ nét hơn.
Trong mỗi h́nh thái kinh tế xă hội có sự tác động qua lại của kiến
trúc thượng tầng, cơ sở hạ tầng, tồn tại xă hội và ư thức xă hội….
Từ cách tiếp cận đó, quan điểm của chúng tôi là nh́n lịch sử Phật
giáo như là bộ phận trong quá tŕnh vận động chung của dân tộc. Nh́n
nhận một cách tổng thể, Phật giáo không phát triển theo triều đại,
mà gắn liền với sự vận động chung của dân tộc. Sự minh chứng hùng
hồn cho luận cứ trên chính là h́nh ảnh các vị Thiền sư Vạn Hạnh,
Pháp Thuận, trưởng lăo La Quí An v.v... với những đóng góp to lớn
cho dân tộc, nhưng họ không lệ thuộc vào một triều nhất định, mà qua
trải các triều đại Đinh - Lê - Lư... như lịch sử ghi nhận cho đến
ngày nay. Trên nền tảng “từ bi - vô ngă - vị tha”, Phật giáo tùy
thuộc vào những biến cố lịch sử mà uyển chuyển thích nghi phục vụ
dân tộc. Cho nên, Phật giáo phục vụ dân tộc chứ không phục vụ triều
đại, dù rằng có nhiều giai đoạn, sự liên hệ giữa triều đại và Phật
giáo là rất khắng khít. Triều đại nào thực sự đem lại lợi ích cho
nhân dân và phục vụ sứ mệnh dân tộc th́ Phật giáo pḥ tá để góp phần
cùng chung xây dựng dân tộc; nếu một triều đại nào đó không đặt lợi
ích và quyền lợi của dân tộc, của quốc gia lên trên, th́ Phật giáo
không phục vụ mà c̣n đấu tranh v́ quyền lợi dân tộc và Phật giáo. Có
thể thấy điều này qua sự sụp đổ của triều đại tiền Lê dưới thời vua
Lê Long Đĩnh hay gần đây hơn là sự diệt vong của chế độ độc tài gia
đ́nh trị Ngô Đ́nh Diệm vào năm 1963. Như thế, việc lấy triều đại làm
chuẩn để phân kỳ và nghiên cứu Phật giáo là không hợp lư. Chúng ta
thấy phương pháp tŕnh bày Phật giáo gắn kết với triều đại không thể
làm sáng tỏ được chức năng của Phật giáo.
Hai là,
cách phân kỳ Phật giáo theo ḍng thiền, như tác giả Trần Văn Giáp
với công tŕnh Phật giáo Việt Nam, từ khởi nguyên đến thế kỷ XIII,
(vào thời kỳ Pháp thuộc, Tuệ Sỹ dịch từ bản tiếng Pháp năm 1967, do
Tu thư đại học Vạn Hạnh ấn hành) [xem:3]. Theo quan điểm Trần Văn
Giáp là tŕnh bày Phật giáo theo tŕnh tự của các ḍng thiền: Tỳ Ni
Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường và Trúc Lâm Yên Tử v.v... Cách
tŕnh bày này đă nêu rơ lịch sử Phật giáo qua quá tŕnh du nhập,
h́nh thành và phát triển. Tuy nhiên, nó không cho thấy đạo Phật đă
thể nhập vào sự vận động chung của dân tộc như thế nào. Trong khi
đó, đạo Phật đóng góp không chỉ cho nền văn hóa dân tộc mà c̣n cho
những cuộc vận động cách mạng giành độc lập trong suốt chiều dài
lịch sử, tiêu biểu là các triều đại Đinh - Lê - Lư - Trần. V́ vậy,
theo chúng tôi phương pháp này không cho thấy sự tương quan giữa
Phật giáo với dân tộc.
Giáo sư
Trần Văn Giàu trong tác phẩm Hệ ư thức phong kiến, (tập I, vào năm
1973, tái bản năm 1992). Ông chia Phật giáo Việt Nam thành 5 giai
đoạn:
1. Thời kỳ
Bắc thuộc.
2. Trong thời
đầu của nền độc lập
3. Phật giáo
Việt Nam dưới thời Lư - Trần
4. Trong thời
Lê
5. Đến thời
Nguyễn [xem:5, tr. 506 - 530].
Cách phân
kỳ này ông chỉ giới thiệu và nêu ra ư nghĩa Phật giáo đồng hành với
dân tộc, nhưng do tư liệu dẫn chứng c̣n hạn chế nên luận cứ chưa
thực sự thuyết phục.
Trong tác
phẩm Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang (Nxb. Lá Bối, Sài
G̣n, năm1973) [xem:14, 15] đă nh́n ra những khiếm khuyết trên. Ông
đă kết hợp vừa tŕnh bày theo ḍng thiền, vừa tŕnh bày theo triều
đại bằng phương pháp sử quan tổng hợp và đan xen, phù hợp với góc độ
sử luận, vừa mang phương pháp sử, vừa mang tính luận lư để làm nổi
bật tinh thần đạo Phật hoà nhập vào sự vận động chung của dân tộc.
Tuy nhiên, cách tiếp cận đó vẫn chưa cho thấy được Phật giáo phục vụ
cho dân tộc một cách cụ thể như thế nào.
Từ các
phân kỳ trên, sau này Lê Mạnh Thát viết Lịch sử Phật giáo Việt Nam
(gồm tập I, II, III, Nxb. Tp. HCM, năm 1999, 2001, 2002) gồm nhiều
nguồn tài liệu gốc, phong phú và rơ ràng. Qua đó, tác giả tŕnh bày
Phật giáo là một bộ phận trong sự vận động chung của dân tộc trong
suốt chiều dài lịch sử. Theo tác giả Phật giáo Việt Nam từ khởi
nguyên đến thời hiện đại được chia làm năm giai đoạn. Trong từng
giai đoạn Phật giáo và dân tộc đều có sự tương quan mật thiết với
nhau. Chúng tôi kế thừa mà không hoàn toàn theo kết cấu của công
tŕnh này. Đồng thời, phần nào chúng tôi cũng dựa trên cơ sở phân kỳ
Phật giáo của giáo sư Trần Văn Giàu như đă nêu trên. Từ đó, chúng
tôi t́m hiểu, nghiên cứu khái quát đến giai đoạn nhà Lư, để xây dựng
tiền đề tư tưởng triết học Phật giáo thời Lư.
1./ Giai đoạn
thứ nhất, Phật giáo từ những năm đầu Công nguyên đến khoảng thế kỷ
VI :
Phật giáo
bước đầu du nhập và phát triển tại trung tâm Luy Lâu, một trung tâm
kinh tế, chính trị lớn nhất nước ta, theo Nguyễn Lang: “những vị
tăng sĩ đi theo thương thuyền này lập nên trung tâm Phật giáo Luy
Lâu tại Giao Chỉ” [14,I,tr.23].Vào khoảng thế kỷ II Tây lịch, một
nhân vật Phật giáo nổi tiếng xuất thân tại trung tâm Luy Lâu là Mâu
Tử với tác phẩm Lư Hoặc Luận rất có giá trị về mặt lịch sử và tư
tưởng trong sự thích nghi của Phật giáo với văn hóa bản địa. Tác
phẩm này, không những mang tinh thần đoàn kết dân tộc mà c̣n phát
huy được triết lư nhà Phật.
Khoảng thế
kỷ thứ III, thời kỳ Ngô Tôn Quyền, người đại diện truyền bá tư tưởng
Phật giáo là Khương Tăng Hội. Ông là người gốc Trung Á, gia đ́nh
nhiều thế hệ ở Ấn Độ, cha ông làm nghề buôn bán, trao đổi hàng hóa
qua lại nhiều lần ở đất Giao Chỉ. Về năm sinh của ông chưa có tài
liệu sử nào đề cập đến, nhưng ông mất năm 280. Theo Trần Văn Giáp:
“Sau khi song thân mất, lúc vừa 10 tuổi ông đă xuất gia tại Giao
Chỉ, tu học tại đây và làu thông Tam tạng thánh điển” [3,tr.54]. Sau
khi xuất gia, Khương Tăng Hội đă tiếp thu nền giáo dục rất phong phú
và trở thành người hiền tài: “Ngài giảng nghĩa Tam tạng kinh điển
thật rơ ràng, khảo sát lục thư với tinh thần vô cùng khoáng đạt, đọc
nhiều sách thiên văn và cả những sách không thuộc nội điển (Đồ vỹ là
thông hiểu về bói toán), có tài về hành chánh (có tài về biện ư xu
cơ chỉ cho quan chức trọng yếu Trung Ương) và là một thiên tài văn
chương” [3,tr.53]. Qua đó, chúng ta nhận thấy Khương Tăng Hội không
chỉ học Tam tạng kinh điển, mà c̣n tinh thông cả thiên văn, đồ vỹ
v.v... Theo Lê Mạnh Thát: “Nội dung giáo dục Phật giáo Việt Nam vào
thời Khương Tăng Hội, như thế không phải là nền giáo dục thuần túy
Phật giáo hay tôn giáo, mà là một nền giáo dục tổng hợp toàn diện,
có thể nói đại diện cho nền giáo dục Việt Nam thế kỷ thứ III”
[41,I,tr.317]. Chính nền giáo dục này tạo ra một bước phát triển xây
dựng ư chí tự cường của dân tộc, chống lại sự đồng hóa văn hóa Trung
Quốc: “nền giáo dục này không chỉ giới hạn trong chức năng truyền
giáo, đào tạo ra những con người Phật giáo, mà trên hết là đào tạo
ra những trí thức dân tộc toàn diện… rồi trở lại đóng góp bằng những
thành quả của ḿnh cho kho tàng hiểu biết của loài người”
[41,I,tr.317].
Ngoài ra,
chính người Việt chủ động tiếp thu tín ngưỡng Phật giáo phù hợp tín
ngưỡng đa thần của dân tộc, v́ Phật giáo thời kỳ đầu du nhập mang
tính tín ngưỡng b́nh dân mộc mạc và mang tính siêu nhiên, phù hợp
tâm linh tín ngưỡng trong lối sống của người Việt được nhân dân cảm
t́nh đón nhận. Từ đó, Phật giáo dung hợp với tín ngưỡng bản địa tạo
ra sắc thái riêng, đó là Phật giáo quyền năng. Tại sao không gọi
Phật giáo thời kỳ mới du nhập là Phật giáo nhận thức mà lại gọi là
Phật giáo Quyền năng? .
Lúc bấy
giờ, Giao Châu là một vùng đất mang tín ngưỡng đa thần, nghĩa là
thần linh phổ biến khắp nơi như: Thần Sấm, thần Sét, thần Mưa, thần
Núi... Người dân bản địa quan niệm về sống và chết là linh hồn không
những tồn tại măi măi sau khi thân xác mất mà c̣n sẽ phù hộ người
đang sống được an lành và hạnh phúc, theo Lĩnh Nam chích quái: “Con
người là một thực thể bất diệt nên sẽ trở về nơi trường sinh, xác
thịt có thể tàn tạ nhưng linh hồn th́ bất diệt”[22,tr.27]. Tín
ngưỡng bản địa h́nh thành triết lư siêu linh trong dân gian, nhưng
chưa thỏa măn nhu cầu tâm linh của cộng đồng. Phật giáo từ Ấn Độ đem
lại một sinh khí mới, đáp ứng nhu cầu tâm linh và được quần chúng
đón nhận, nó tác động chi phối trong đời sống tinh thần tâm linh
người Việt thông qua phép thuật, bùa, chú v.v... Trong truyện Man
Nương xuất hiện Phật Tứ Pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp
Điện), như là sự thể nhập vào tín ngưỡng đa thần của bản địa
[xem:22,tr.76], thời kỳ này gọi là“Thần Phật tập hợp”. Sự dung hợp
Phật giáo với tín ngưỡng bản địa được thể hiện thông qua: thuyết
nhân quả-nghiệp báo phù hợp với quan niệm ông Trời trừng trị kẻ làm
điều ác, ban thưởng, cứu giúp người hiền. Điều này được chứng minh
qua kho tàng truyện Cổ tích Việt Nam có chứa chất liệu văn hoá Ấn
Độ. Truyện Tấm Cám quan niệm về nhân quả - nghiệp báo, trong đó Bụt
(Phật) đóng vai là ông Trời, ngài từ bi cứu giúp người hiền lành,
trừng trị kẻ ác. Học thuyết luân hồi được thể hiện qua nhiều lần hóa
kiếp của cô Tấm. Theo nhận xét GS Trần Quốc Vượng: “Thuyết nhân quả
- nghiệp báo Phật giáo phù hợp với tín ngưỡng dân gian Việt Nam về
việc ông Trời trừng phạt kẻ ác, cứu giúp ban thưởng người lành.
Thuyết luân hồi cũng phù hợp với quan niệm linh hồn tồn tại sau khi
xác thân tiêu hoại...” [68, I,tr.96]. Cho nên, Phật giáo thời kỳ
này gọi là Phật giáo quyền năng “để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng Thần
Linh bản địa của một xă hội nông nghiệp và điều quan trọng hơn là để
bảo vệ tổ quốc, đặc biệt là bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc đang
trong thời kỳ bị cai trị” [70,tr.77]. Quan điểm này xuất hiện trong
Lư Hoặc Luận ở điều 14 của Mâu Tử với câu: “Kinh Phật giảng dạy,
trên dưới trùm khắp, loại vật hàm huyết đều thuộc về Phật”
[41,I,tr.189]. Đức Phật được quan niệm như một đấng toàn năng, huyền
bí siêu nhiên. Thời bấy giờ, con người đă có chỗ đặt niềm tin trong
cuộc sống, người theo Phật phải qui y Tam bảo (Phật - Pháp - Tăng),
giữ ǵn năm giới và thực hành mười điều lành nhằm nâng cao giá trị
đạo đức phẩm chất của con người .
Quan niệm
về Phật thời bấy giờ là một đấng sáng tạo có mọi quyền năng chi phối
toàn vũ trụ, có thể làm chấn động thiên địa, có thần thông biến hóa
khắp nơi và làm quỷ thần khiếp sợ. Chính đức tin này là cơ sở của
niềm tin vào khả năng chống giặc. Dân tộc ta không những đă thẩm
thấu sức mạnh quyền năng siêu việt ấy mà c̣n biến nó thành chỗ dựa
tinh thần cho ḿnh, trong khi đang đánh mất niềm tin vào năng lực
bản thân. Đồng thời, đây cũng là một bước chuyển trong nhận thức. Nó
không chỉ tạo ra niềm tin vào giá trị truyền thống vốn có của dân
tộc mà c̣n có cả sự chuyển hóa trong quá tŕnh tự ư thức của mỗi
người. Nó đă biến sức mạnh tiềm năng thành sức mạnh bản thân:“đây là
nội dung cốt tủy của ư thức mới làm cơ sở cho vận động và xưng đế
của Lư Bôn sau này” [41,I,tr. 568-569]. Chính sức mạnh của Phật
giáo quyền năng đă ảnh hưởng đến tinh thần và đời sống của cả dân
tộc trong giai đoạn này. “Nền Phật giáo do Mâu Tử và Khương Tăng Hội
truyền đạt vẫn mang tính Việt Nam, v́ nó do người Việt Nam nhận
thức, tiếp thu và truyền thụ, v́ thế mang sắc thái văn hóa Việt Nam”
[45,II,tr.254]. Khương Tăng Hội đă dịch và chú giải các kinh điển
của Phật giáo, tiêu biểu nhất là Lục độ tập kinh.
Xét về góc
độ lịch sử: “Khương Tăng Hội thông qua Lục độ tập kinh là người bảo
lưu đầu tiên hiểu biết của truyền thuyết trăm trứng của dân tộc ta,
truyền thuyết chắc hẳn đă lưu hành rộng răi vào thời lục độ tập kinh
trong nhân dân người Việt để giải thích cho nguồn gốc Bách Việt của
họ. Rồi trong quá tŕnh Việt hóa Phật giáo, những trí thức Phật giáo
đă dựa vào để cải biên” [41,I,tr.361]. Do đó, sự tương quan giữa
Phật giáo và văn hóa bản địa đă t́m ra một lư thuyết làm nền tảng
cho quá tŕnh chống lại sự nô dịch của phương Bắc.
Xét về mặt
tư tưởng: “Những phạm trù và quan hệ xă hội cơ bản đă được thiết
định theo nhăn quan người Việt và Phật giáo một cách minh nhiên
trong Lục độ tập kinh, đồng thời tiến hành phê phán hệ tư tưởng
người Hán, mà đại biểu cụ thể ở nước ta bấy giờ là các tay Nho cổ
như Lưu Hy, Hứa Tỉnh, Tiết Tôn, Ngu Phiên v.v... các phạm trù nhân
nghĩa, trung hiếu, thành tín v.v... những quan hệ vua tôi, cha con,
vợ chồng, thầy tṛ được thổi vào một nội dung mới, dựa trên cơ sở
những thành tựu của nền văn hóa Việt Nam và tiếp thu những đóng góp
của hệ tư tưởng Phật giáo. Chính xuất phát từ những lư luận mới được
thiết định này, dân tộc ta phản công lại các luận điệu vu vơ cho các
tay ấy tung ra với ư đồ nô dịch lâu dài, nếu không là đồng hóa vĩnh
viễn dân tộc” [41,I,tr.362]. Nhằm chống lại sự đồng hóa một cách
trắng trợn của nhà Hán, người Việt đă chủ động gởi gắm một số yếu tố
Việt vào kinh sách Phật giáo:
Nền Phật giáo
những thế kỷ đầu tại nước ta, dù có một đức Phật mang tính quyền
năng, vẫn không để vuột mất sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử Phật giáo,
đó là trí tuệ và việc nhấn mạnh đến vai tṛ của trí tuệ. Cho nên,
bên cạnh công tŕnh tôn thờ “Tứ Pháp” của Lĩnh Nam chích quái, ta
vẫn có những tác phẩm mang đầy tính trí tuệ như Lư Hoặc Luận của Mâu
Tử, tŕnh bày hết sức khúc chiết, minh bạch quan điểm của người Phật
giáo Việt Nam trước những vấn nạn đưa tới cho họ. [41,I,tr.122]
Đồng thời,
để khẳng định tư tưởng chủ đạo trong Lục Độ tập kinh là: “Mất nước
chứ không mất hạnh hay mất thân chứ không mất hạnh” [44,I,tr.521],
đó là bản sắc văn hoá dân tộc, điều này theo nhận xét của Trần Văn
Giàu là: “Phật giáo quyền năng có những cái mạnh của nó và cũng có
thể xem đó như là một nhu cầu xă hội trong thời kỳ lịch sử xă hội
nào đó”[4,tr.52]. Như vậy, dân tộc ta đă khẳng định được trí tuệ và
sự chủ động việc tiếp thu, bảo tồn những giá trị văn hóa truyền
thống.
Cuối thế
kỷ thứ V, Phật giáo đối diện với một thách thức mới v́ Phật giáo
quyền năng không c̣n đáp ứng được yêu cầu sự vận động chung của lịch
sử dân tộc. Để tồn tại và phát triển, Phật giáo phải mang một h́nh
thái mới, đó là sự xuất hiện ḍng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Phật giáo
quyền năng và ḍng thiền này là sự hội tụ của hai ư thức hệ tự do:
Phật giáo quyền năng là giá đỡ cho niềm tin vào sức mạnh thiêng
liêng; hệ tư tưởng Tỳ Ni Đa Lưu Chi ở một cấp tư duy cao hơn là giúp
con người làm chủ chính ḿnh cũng như làm chủ vận mệnh dân tộc.
2./ Giai đoạn
thứ hai, Phật giáo từ Lư Nam Đế (Lư Bôn) đến Lư Thánh Tông (544
-1279) :
Lư Bôn (Lư
Bí) lănh đạo quần chúng nhân dân khởi binh tấn công đánh quân Lương
giành thắng lợi vào tháng 1 năm 542, đến tháng 2 năm (544), Lư Bôn
xưng Nam Việt Đế Vương hiệu là Thiên Đức, đặt tên nước là Vạn Xuân,
đóng đô ở Long Biên (nay là Thuận Thành, Bắc Ninh), từ đó, dân tộc
ta bước sang thời kỳ mới. Việc Lư Bôn xưng Nam Đế thành công không
những nhằm đối kháng với Bắc Đế mà c̣n phủ nhận sự lệ thuộc vào
phương Bắc. Từ khi Lư Nam Đế làm nền tảng cho việc xưng đế cho đến
thời Lư Thánh Tông về cơ bản mới hoàn chỉnh và khẳng định vai tṛ
chủ quyền độc lập dân tộc.
Sau khi
xưng đế, Lư Nam Đế khẳng định nền văn hóa dân tộc, đồng thời cho xây
dựng chùa Khai Quốc (nay là chùa Trấn Quốc) với hàm nghĩa là mở
nước, dựng nước, khai sáng một đất nước đă có chủ quyền. Điều đó cho
chúng ta thấy Phật giáo đă góp phần chống lạisự đồng hóa của phương
Bắc nhằm ổn định chính trị, củng cố chủ quyền quốc gia, độc lập dân
tộc, theo Lê Mạnh Thát: “Phật giáo từ thời Hai Bà Trưng đến Lư Nam
Đế, nét nổi bật là tập trung chống lại nền văn hóa nô dịch của
phương Bắc và khẳng định bản lĩnh văn hoá Việt Nam” [43,III
,tr.260-261], đến Lư Thái Tông xây dựng chùa Diên Hựu (nay là chùa
Một Cột) (1049) với ư nghĩa là độc lập dân tộc và tồn tại lâu dài.
Như vậy, trong khoảng 500 năm ấy, Phật giáo đă đồng hành với dân tộc
trong quá tŕnh xây dựng đất nước.
Khi Lư
Phật Tử lên ngôi năm 571, khoảng 9 năm sau tức là vào khoảng năm
(580), Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci) - người miền Nam Thiên
Trúc (Ấn Độ), đắc pháp với tam tổ Tăng Xán ở Trung Hoa - qua Việt
Nam truyền đạo. Ngài ở chùa Pháp Vân thuộc làng Cổ Châu, Long Biên,
thành lập ra Thiền phái đầu tiên ở nước ta, đó là ḍng thiền Tỳ Ni
Đa Lưu Chi. Ḍng thiền này tồn tại và phát triển từ năm 580 đến năm
1216 được truyền thừa qua 19 thế hệ. “Đây là một thiền phái rất có
tính cách dân tộc Việt Nam, vừa biểu lộ được sinh hoạt tâm linh siêu
việt của Phật giáo vừa biểu lộ được đời sống thực tế và đơn giản của
quần chúng nghèo khổ”[14, tr.164]. Những vị Thiền sư nhập thế giúp
đời tích cực như: Định Không (730 - 808), Trưởng Lăo La Quí An (852
- 936), Pháp Thuận (914-991), Pháp Bảo, Sùng Phạm, Vạn Hạnh, Sùng
Nghiêm, Huệ Sinh, Minh Không, Bảo Tịnh, Khánh Hỷ, Viên Thông v.v...
Ḍng thiền này không chỉ trực tiếp tham gia vào việc đấu tranh, xây
dựng và bảo vệ nền độc lập mà c̣n sản sinh ra nhiều “nhân tài - trú
xuất” đóng góp tích cực vào sự nghiệp chung cho cả dân tộc. Về mặt
tư tưởng có hai cách tiếp cận:
Cách tiếp
cận thứ nhất, theo quan điểm về Phật giáo Mật tông, những vị Thiền
sư như: Định Không, La Quí An, Pháp Thuận v.v... với phương pháp cơ
bản là chuyên về tŕ chú, sấm vỹ v.v... mục đích là nương nhờ tha
lực hỗ trợ để đi đến giác ngộ, và dùng công năng của ḿnh để giúp
đời, góp phần xây dựng nền độc lập. Như các Thiền sư của ḍng thiền
Tỳ Ni Đa Lưu Chi đă thể hiện:“… gần với tín ngưỡng phong thủy, sấm
kư, cầu đảo, điều phục tà ma, bốc thuốc chữa bệnh rất thịnh hành ở
Trung Quốc và Việt Nam” [8,tr.63]. Trong đó, trưởng lăo Định Không
vận dụng Mật tông hoà quyện vào tín ngưỡng dân tộc, h́nh thành chủ
nghĩa Địa Linh: Theo Thiền uyển tập anh tờ 47a10-48a 4 ghi lại:
Thiền sư Định
Không chùa Thiền Chúng, hương Dịch Bảng, Phủ Thiên Đức, người Cổ
Pháp, họ Nguyễn, mấy đời là vọng tộc. Con người sư sâu rơ thế số,
hành động đúng phép. Người Làng tôn thờ, đều gọi là trưởng lăo. Tuổi
già bèn đến pháp hội của Nam Dương ở Long Tuyền nghe giảng, hiểu
được ư chỉ. Do đó, Sư trở ḷng về với đạo Phật. Trong khoảng Đường
Lâm ở làng ḿnh. Khi mới đào đất đắp nền, gặp một lư hương và mười
cái khánh. Sư sai người đem xuống sông rửa. Một cái lặn mất, đến đáy
mới dừng. Sư giải thích rằng: Thập và khẩu là chữ Cổ, thuỷ và khứ
thành chữ Pháp. Thổ là bản thổ, chỉ nơi ta ở. Nhân đó đổi tên làng
là Cổ Pháp (tên cũ là Diên Uẩn). Lại làm bài tụng:
Đất
tŕnh pháp khí
Một món
đồng ṛng
Để Phật
pháp được hưng long
Đặt tên
làng là Cổ Pháp.
(Địa tŕnh
pháp khí
Nhất phẩm
tinh đồng
Trí Phật
pháp chi hưng long
Lập hương
danh chi Cổ Pháp).
Sư lại nói:
Hiện ra
pháp khí
Mười khẩu
chuông đồng
Họ Lư hưng
long
Ba phẩm
thành công
(Pháp khí
xuất hiện
Thập khẩu
đồng chung
[Tính] Lư
hưng long
Tam phẩm
thành công)
Sư lại
nói:
Mười khẩu
xuống nước đất
Cổ Pháp
ấy tên làng
Gà sau
tháng chuột ở
Chính lúc
Tam Bảo hưng
(Thập khẩu
thủy thổ khứ
Cổ Pháp
danh hương hiệu
Kê cư loan
nguyệt hậu
Chính thị
hưng Tam Bảo)
Khi sắp tịch,
sư gọi đệ tử Thông Thiện dạy rằng: ‘Ta muốn mở rộng làng xóm, nhưng
e nửa chừng gặp họa nạn. Chắc có kẻ lạ đến phá hoại đất nước ta.
(Sau Cao Biền của nhà Đường đến trấn, quả đúng). Sau khi ta mất, con
khéo giữ pháp này, gặp người họ Đinh th́ truyền, nguyện ta măn vậy’.
Nói xong,
sư cáo biệt mà mất, thọ 79 tuổi. Lúc ấy là năm Mậu Tư Đường Nguyên
Hoà thứ 3 (808). Thông Thiện dựng tháp thờ ở phía tây chùa Lục Tổ,
vừa ghi lời phú chúc của sư mà chôn giấu đi. [Dẫn lại:
42,II,tr.242-243].
Quan điểm
trên chứng minh Định Không đă dự đoán sự việc xảy ra trong tương lai
thông qua hiểu biết về Kinh dịch cũng như thể nghiệm vào đời sống
Mật tông. V́ vậy, Định Không được người đời tôn kính, tôn xưng là
trưởng lăo Định Không. Ông đă tiên đoán được Lư Công Uẩn lên làm vua
th́ đất nước thịnh vượng. Định Không là người đặt nền tảng xây dựng
nên chủ nghĩa Địa Linh, với mục đích là “mở rộng làng xóm” và đề
pḥng giặc phương Bắc đến xâm lược nước ta. Sự kiện trên cho chúng
ta thấy Phật giáo thiền tông Việt Nam đă góp phần xây dựng đất nước,
trong bối cảnh hiện thực của dân tộc. Điều này, được chứng minh qua
truyện Định Không và La Quí An, cũng như truyện Khuông Việt, Pháp
Thuận và Vạn Hạnh đă: “diễn ra một cách khá rơ rệt tính chất dân tộc
của những cuộc chiến tranh chống ngoại xâm do dân ta thực hiện trong
những ngày tháng đầu của thuở mới lập quốc gia qua sự tham dự tích
cực và trực tiếp của hầu hết mọi tầng lớp người”.[39,tr.11], đồng
thời, bảo tồn một vùng đất gọi là “địa linh nhân kiệt” ở Việt Nam.
Cách tiếp
cận thứ hai, Sau khi Lư Nam Đế mất, Lư Phật Tử và Triệu Quang Phục
tranh nhau ngôi vị Đế Vương. Cuối cùng, Lư Phật Tử thành công trong
việc xưng đế và duy tŕ nền độc lập trong một thời gian. Trong giai
đoạn này, t́nh h́nh xă hội có những biến động sâu sắc, cùng lúc đó,
Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi sang truyền đạo và dịch nhiều bộ kinh,
trong đó có kinh Đại phương quảng tổng tŕ. Hệ tư tưởng mới này đă
làm thay đổi quan niệm đức Phật quyền năng trước đó. Từ “Đức Phật
Cho Ta” đến “Đức Phật Tự Ta” - Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật
tánh - nghĩa là trong mỗi con người đều có một đức Phật. Ngoài ra bộ
kinh này, góp phần củng cố lư luận, xây dựng đoàn kết nội bộ để giữ
ǵn và bảo vệ quốc gia. Đến thời Thanh Biện (khoảng thế kỷ thứ VII )
th́ kinh Kim Cương xuất hiện ở nước ta với hai quan điểm nhập thế:
Một là, tư
tưởng chủ đạo - kinh Kim Cương là “Hết thảy các pháp đều là Phật
pháp”. Những người kế thừa Thiền sư Thanh Biện thực hiện tư tưởng
kinh Kim Cương là Thiền sư Định Không(730-808), La Quí An, Pháp
Thuận và trội nhất là Thiền sư Vạn Hạnh đă thành công trong việc vận
dụng tư tưởng này theo yêu cầu lịch sử đặt ra. Các vị Thiền sư trên
là những người:“đă tích cực tham gia vào phong trào vận động cho chủ
quyền và độc lập của đất nước qua những phương thức sấm vĩ, phong
thủy. Phải nói, đây là những nét mới không những của lịch sử Phật
giáo Việt Nam nói riêng, mà dân tộc Việt Nam nói chung. Chính những
nét mới này đă thể hiện cho ta thấy thế nào là những đóng góp của
Thanh Biện đối với ḍng thiền Pháp Vân qua kinh Kim Cương với chủ
trương‘hết thảy các pháp đều là Phật pháp’” [Dẫn lại:
42,II,tr.134-135].
Hai là,
quan điểm về tư tưởng vô trụ được bắt nguồn từ: “ưng vô sở trụ nhi
sinh kỳ tâm”. Vô tru là trạng thái không bám víu vào các sự vật hiện
tượng, dù đó là vô h́nh hay hữu h́nh. Khi người tu tập đạt đến tŕnh
độ này, hành động và suy nghĩ đă đạt đến giải thoát, tự tại trong
cuộc sống, không c̣n chấp ngă-pháp. Bởi v́, giá trị triết lư vô tru
không có chỗ cho người chấp ngă-pháp, cũng chẳng co, cũng chẳng
không và cũng chẳng phải không có. Đó là là tinh thần vô tru, vô tru
nghĩa là thật tướng, thật tướng là tánh không, chỉ khác tên gọi để
truyền tải triết lư mà các vị Thiền sư thể nghiệm thành công. Trên
tinh thần ấy, các vị Thiền sư tích cực nhập thế phục vụ cho lợi ích
quần chúng mà không có sự vụ lợi cho bản thân.
Như vậy,
với triết lư kinh Kim Cương được các vị Thiền sư áp dụng vào đời
sống tâm linh và vận dụng linh hoạt vào thực tế xă hội để phục vụ
cho dân tộc.
Khoảng 300
năm sau, vào thế kỷIX, Việt Nam lại xuất hiện ḍng thiền theo hướng
Trung Quốc truyền qua - ḍng thiền Vô Ngôn Thông. Thiền sư Vô Ngôn
Thông đắc pháp với ngài Bách Trượng Hoài Hải (ở Trung Hoa). Năm 820
Ngài qua Việt Nam ở chùa Kiến Sơ (nay thuộc Gia Lâm, Hà Nội), và
truyền pháp cho người Việt Nam đầu tiên là Thiền sư Cảm Thành (? -
860). Thiền sư Cảm Thành xây dựng Đền thờ Phù Đổng Thiên Vương bên
cạnh chùa Kiến Sơ vào khoảng thế kỷ IX. Lê Mạnh Thát nhận xét Phật
giáo giai đoạn này:“Sự xuất hiện của Phù Đổng Thiên Vương từ chùa
Kiến Sơ một lần nữa làm chứng cho sự trưởng thành của một tư duy và
nhận thức mới về vai tṛ Phật giáo trong cuộc sống cộng đồng của dân
tộc Việt Nam. Nó báo hiệu cho sự có mặt của Phật giáo trên vũ đài
chính trị sắp tới theo một cung cách mới từ một nền Phật giáo quyền
năng qua một nền Phật giáo chính trị xă hội” [42,II,tr.347]. Ḍng
thiền này được truyền thừa qua 15 thế hệ, gồm tất cả 40 vị kế thừa,
Thiền sư Cảm Thành làm sơ Tổ, đây là ḍng thiền thứ hai truyền vào
Việt Nam.
Ḍng thiền
Vô Ngôn Thông với những vị tiêu biểu như: Định Hương; Khuông Việt
(1101) Viên Chiếu, Cữu Chỉ, Thông Biện, Măn Giác, Ngộ Ấn, Không Lộ,
Quảng Nhiên, Thường Chiếu v.v... là những người đă hiến trọn cuộc
đời phục vụ cho đạo pháp và dân tộc.
Trên cơ sở
kế thừa và phát huy tinh thần nhập thế của Phật giáo trước đó, ḍng
thiền Vô Ngôn Thông đă khẳng định ḿnh trong bối cảnh xă hội bấy
giờ. Chủ đề “biết để làm ǵ?” [39,tr.253] của Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu
Chi đă được Thiền sư Vô Ngôn Thông cụ thể hóa. Bởi v́, người học đạo
tiếp thu tri thức là để phục vụ cho đối tượng cụ thể. Từ biết để làm
ǵ?, đến phải phục vụ cho ai?, nghĩa là tất cả việc đời là việc đạo,
theo kinh Kim Cương “Nhất thiết pháp giai thị Phật pháp”. Từ cơ sở
này h́nh thành lên các quan điểm:
Một là,
Phật giáo muốn tồn tại phải đứng trên cơ sở một quốc gia độc lập,
th́ phải tham gia vào mọi hoạt động góp phần xây dựng và bảo vệ nền
độc lập dân tộc. Cho nên, các vị Thiền sư giai đoạn này đă thể nhập
vào đời một cách tích cực.
Hai là,
khẳng định sự khác biệt rơ nét giữa Phật giáo Việt Nam và Phật giáo
Trung Quốc. Câu hỏi đặt ra là: tại sao Phật giáo Việt Nam không theo
Phật giáo Trung Quốc?. Để trả lời, Thiền sư Vô Ngôn Thông - vốn
người Trung Quốc - đă thừa nhận về ư thức tự chủ thông qua công án
Thiền với người học tṛ là Cảm Thành như sau:
Ta nhờ ở
Bách Trượng mà được tâm pháp đó... nên ta xuôi Nam để t́m thiện tri
thức. May gặp được ngươi, ấy là duyên xưa. Hăy lắng nghe ta nói kệ:
Các nơi
đồn đăi
Dối tự rao
truyền
Rằng thủy tổ
ta
Gốc tự Tây
thiên
Truyền pháp
nhăn tạng
Gọi đấy là
Thiền
Một hoa năm
lá
Hạt giống
liên miên
Ngầm hợp mật
ngữ
Muôn ngàn có
duyên
Tâm tông đều
gọi
Thanh tịnh
bản nguyên
Tây thiên cơi
này
Cơi này Tây
thiên
Xưa nay nhật
nguyệt
Xưa nay sơn
xuyên
Đụng đâu cũng
vướng
Phật tổ thành
oan
Sai một mảy
may
Đi mất trăm
ngàn
Ngươi khéo
quán sát
Chớ lừa cháu
con
Dẫu có hỏi ta
Ta vốn Vô
Ngôn
Nghe xong
lời đó, Sư liền tỉnh ngộ [39,tr.174-175]. Đây chính là sự thừa nhận
mang tính sử quan Phật giáo Việt Nam. Theo Lê Mạnh Thát: “Vô Ngôn
Thông nêu lên cho Cảm Thành, nhưng thực tế đă đáp ứng lại yêu cầu,
mà lịch sử của dân tộc ta lúc bấy giờ đ̣i hỏi. Về phía Phật giáo,
với sự ra đời chủ nghĩa địa linh của Định Không và chủ trương ‘hết
thảy các pháp đều là Phật pháp’, tất nhiên cần có sự xác nhận về một
chủ nghĩa và chủ trương như thế” [42,II,tr.339-340]. Vô Ngôn Thông
đă khẳng định nước Việt Nam là “Tây thiên cơi này, cơi này Tây
thiên”, về sau Cảm Thành h́nh thành quan niệm mới đó là“ Phật ở khắp
mọi nơi ”. Phật th́ ở mọi nơi nhưng lịch sử dân tộc luôn diễn tiến
theo những sự kiện cụ thể không mang tính ngẫu nhiên. Chúng ta không
nên cho rằng ư thức tự chủ của Phật giáo Việt Nam trong giai đoạn
này mang tính “ ngẫu nhiên”. Bởi v́, Tổ tiên chúng ta không ngây ngô
đến độ không ư thức được tự chủ dân tộc là ǵ. Vô Ngôn Thông đă xoá
bỏ sử quan Phật giáo Trung Quốc của ḿnh, để chấp nhận quan điểm tập
quán sử quan Phật giáo trên lănh thổ Việt Nam. Chủ trương của Vô
Ngôn Thông khẳng định về nguồn gốc của Thiền, là về đất Phật. Lư
thuyết này, khẳng định dân tộc Việt Nam là một đất nước Phật, “Việt
Nam trở thành một đất thiêng, có khả năng tự làm chủ lấy nó”
[42,II,tr.340]. Xét về mặt dân tộc, đây là cơ sở lư luận của ư thức
tự chủ, dân tộc Việt Nam khẳng định về khả năng làm chủ vận mệnh của
ḿnh. Vấn đề làm chủ vận mệnh dân tộc không chỉ là trách nhiệm của
nhân dân, mà c̣n là việc của Phật giáo Việt Nam“chủ quyền qua chủ
nghĩa địa linh của Định Không nói trên, đặc biệt là trong các ḍng
thiền. Sự hiện diện của bức xúc ấy đă thúc đẩy phong trào vận động
độc lập ngày càng mạnh mẽ. Nó thể hiện qua các hành động chống đối
liên tục của những người kế thừa Định Không như Thông Thiên, La Quí
An để cuối cùng kết thúc với sự xuất hiện của các nhà nước Họ Khúc,
họ Dương, họ Ngô với đỉnh cao là chiến thắng Bạch Đằng lịch sử năm
939” [42, II,tr.340]. Đây là giai đoạn kết thúc thời kỳ Bắc thuộc,
mở ra kỷ nguyên độc lập tự chủ của dân tộc.
Năm 970,
Đinh Tiên Hoàng xưng Đế Vương, lấy niên hiệu là Thái B́nh nguyên
niên. Nhà vua phân định lại triều chính, triệu những bậc hiền tài
giúp triều đ́nh. Đồng thời, vua cũng triệu tập tăng sĩ lỗi lạc vào
tham gia xây dựng đất nước. Vua đă tấn phong Thiền sư Khuông Việt
tức là (Ngô Chân Lưu, 930 - 1011) làm Thái sư, Tăng thống. Giáo hội
Phật giáo nước ta được thành lập và các nhà sư được các vương triều
tham vấn về những việc trọng đại. Đây là lần đầu tiên Phật giáo Việt
Nam có chức danh Tăng thống, cũng như hệ thống tổ chức giáo hội trên
b́nh diện quốc gia. Người đứng đầu giáo hội là Tăng thống Khuông
Việt. Nhiệm vụ Phật giáo bấy giờ là kế thừa từ Thiền sư Định Không
và La Quí An, đi đến hoàn thiện về mặt tổ chức với hai nhiệm vụ:
“Giữ vững chủ quyền quốc gia và làm cho Phật giáo hưng thịnh”
[42,II,tr.437].
Phật giáo
giai đoạn này đă phân định rơ ràng về chức vị giáo phẩm trong tăng
đoàn, cũng là thời kỳ Phật giáo phát triển đến hưng thịnh. Sau khi
nhà Đinh mất, nhà tiền Lê (Lê Đại Hành) lên chống giặc ngoại xâm
phương Bắc (980), tăng sĩ cũng được trọng vọng, như Lê Đại Hành cũng
triệu thỉnh các vị tăng sĩ lỗi lạc vào triều chính tham vấn việc
quốc gia. Phật giáo đă h́nh thành về cơ sở lư thuyết và đào tạo ra
những nhà tư tưởng góp phần xây dựng, bảo vệ nền độc lập. Tóm lại,
hai ḍng thiền song song tồn tại, mỗi ḍng Thiền đều phát huy tính
ưu việt của ḿnh, làm cho Phật giáo hưng thịnh và đáp ứng được yêu
cầu lịch sử dân tộc.
3./ Giai đoạn
thứ ba,Phật giáo từ thời Lư Thánh Tông đến Trần Nhân Tông
(1054-1279):
Khi Lư
Thánh Tông lên ngôi đă thực hiện các nhiệm vụ sau:
Một là,
đặt tên nước là Đại Việt, Lư Thánh Tông xác định dân tộc ta thành
công về xưng Đế, Quốc hiệu này đă được tiếp nối đến các triều đại
sau. Triều Lư mở ra một kỷ nguyên phát triển bền vững: “Đây là một
triều đại đă thực hiện một đại quy mô quốc gia cho dân tộc độc lập,
hùng cường đầu tiên ở cơi Đông Nam Á” [56,III,tr.307]. Dân tộc ta đă
khôi phục lại những giá trị truyền thống của ḿnh; một mặt, hồi sinh
tiềm năng tự chủ vốn có của dân tộc, làm thay đổi bộ mặt đất nước;
mặt khác, bằng trí tuệ người Việt, dân tộc ta tự chủ tiếp thu có
chọn lọc văn hoá nhân loại h́nh thành nền văn hóa mang bản sắc phong
phú và đa dạng.
Hai là,
khi Lư Thánh Tông xưng Quốc hiệu rồi, ông đă khẳng định phát triển
đất nước bằng cách mở mang bờ cơi, về phía Nam gọi là Nam tiến, Lư
Thánh Tông đă sát nhập ba châu Đại lư, Ma Linh và Bố Chính, từ bắc
Quảng Trị đến bắc Hà Tĩnh vào lănh thổ nước Đại Việt năm 1069. Từ
đó, bản đồ Việt Nam kéo dài thêm một trăm rưỡi cây số.
Ba là, do
biến động của xă hội, Lư Thánh Tông đă lấy ba Châu mới, lập nên
thiền phái Thảo Đường. Chủ trương của phái Thảo Đường là “quan gia,
vua chúa đều giác ngộ”. Việc giác ngộ không c̣n là việc riêng của
các nhà Sư, mà là việc chung của cả Cư sĩ. Ngọn cờ giác ngộ từ tay
nhà Sư qua tay Cư sĩ th́ mới có thể phát huy được trên vùng đất mới.
Với quan niệm“Nhất tu chợ, nhị tu nhà, ba tu chùa”. Nếu so với hai
ḍng thiền trên th́ người giác ngộ của ḍng Thiền Thảo Đường là cư
sĩ chiếm hơn 50% như :
Đem so sánh
với tỷ lệ của hai ḍng thiền Pháp Vân và Kiến Sơ, ta thấy ḍng thiền
Thảo Đường đă chiếm ưu thế tuyệt đối cho thành phần cư sĩ tại gia
của Phật giáo, tức là 50%. Thật vậy, 29 thiền sư có tên tuổi của
ḍng thiền Pháp Vân c̣n chép lại trong Thiền uyển tập anh th́ toàn
bộ đều là những người xuất gia, nghĩa là không có phần trăm nào cả.
Trong khi đó, ḍng thiền Kiến Sơ có 39 vị th́ cũng có ba vị là cư
sĩ, đó là vua Lư Thái Tông, cư sĩ Thông Thiền và cư sĩ Ứng Thuận. Tỷ
lệ cư sĩ như vậy chỉ chiếm 13%. [43,III,tr.92].
Cho nên,
quan niệm việc có vợ sinh con không ảnh hưởng đến sự giác ngộ. Đây
là nguyên nhân Phật giáo thay đổi hoàn toàn về chất, cũng là tiền đề
“ Cư trần lạc đạo” thời Trần sau này. Các Thiền sư dù không mặc áo
quyền lực hay giữ chức vị nhưng vẫn có sự đóng góp quan trọng, đưa
ra đường hướng, sách lược và các quyết định trị nước:“Pháp Bảo
(1040?-1120? ) đă phục vụ dưới trướng của danh tướng Lư Thường Kiệt,
Đạo Hạnh (?-1117) khai sáng ra nghệ thuật múa rối và hát chèo của
Việt Nam. Minh Không (1066-1141) đă chữa thành công bệnh nan y của
Lư Thần Tông v.v...và ấy là chưa kể về việc các Thiền sư đă công
khai bàn luận chính trị, đề xuất nguyên lư trị quốc kiểu Quốc sư
Viên Thông (1080-1151) [43,III,tr.93]. Đó gọi là Phật giáo thế sự.
Nói chung, Phật giáo thời kỳ này là người xuất gia không thể vào
sống một đời sống tu hành khép kín mà phải thực hiện tinh thần Bồ
Tát Đạo để đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ dân tộc.
Từ những
tiền đề trên l nền tảng h́nh thnh dịng thiền Trc Lm Yn Tử sau ny,
chính dịng thiền ny đ kế thừa v tiếp thu tinh hoa văn hóa bản địa
cũng như các hệ tư tưởng trước đó xây dựng nên bản sắc văn hóa Phật
giáo Việt Nam mang nét đặc thù riêng của ḿnh. Từ đó, dịng thiền ny
hịa quyện vo dịng chảy của lịch sử dn tộc; nĩ khơng những giữ vai
trị quan trọng vo việc gĩp phần xy dựng v bảo vệ dân tộc Việt Nam
một thời kỳ thịnh vượng – phú cường trong lịch sử dn tộc m Phật gio
Việt Nam mang tinh thần nhập thế tích cực. Điều này, cụ thể qua hệ
tư tưởng “ Cư Trần Lạc Đạo”. Trong đó, người thể nghiệm tích cực
nhất là Phật Hoàng - Trần Nhn Tơng. Nhân dịp kỷ niệm 700 năm ngày
mất, chúng tôi khái quát vạch ra những tiền đề tư tưởng triết học
Phật gio thời kỳ Lư – Trần (khoảng thế kỷ XI – XIV) dựa trn ba dịng
thiền Tỳ Ni Đa Lưu; Vô Ngôn Thông và Thảo Đường là tiền đề h́nh thnh
nn dịng thiền Trc Lm Yn Tử. Bn cạnh, nhằm gĩp phần thực hiện nghị
quyết hội nghị TW5 (khĩa VIII) về việc, “ xy dựng và bảo tồn nền văn
hóa Việt Nam tiên tiến và đậm đà văn hóa sắc dân tộc” v t́m hiểu sự
ảnh hưởng của nó đến việc xây dựng và bảo vệ nền độc lập dân tộc;
đồng thời ôn lại những nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc Việt
Nam. Sự dụng hợp Phật giáo vào văn hóa dân tộc đ trở thnh một bộ
phận hữu cơ của đời sống tinh thần người Việt như là một trong những
đặc trưng của Việt Nam từ xưa đến nay. Qua đó, chúng tôi góp phần
khơi dậy một chẳng đường vẻ vang trong lịch sử dân tộc Việt Nam, bảo
tồn những giá trị truyền thống tốt đẹp của ông cha.
Tóm lại,
Phật giáo đă ăn sâu vào tâm thức cộng đồng, nó biểu hiện sự sinh
động tiếp thu văn hóa khác biến thành bản sắc riêng của văn hóa dân
tộc. Đó là hệ quả việc bảo vệ giá trị bản sắc văn hóa của ḿnh, như
GS Đặng Nghiêm Vạn viết:“Không phải súng đạn làm cho một dân tộc bị
diệt chủng mà chính là văn hoá. Bảo vệ văn hoá chính là bảo vệ dân
tộc” [61,tr.198]. Trong quá tŕnh lịch sử tư tưởng Phật giáo Việt
Nam đă theo hướng phát triển chung của dân tộc. Phật giáo chỉ biến
đổi để thích nghi phù hợp với điều kiện lịch sử. V́ vậy, dân tộc
Việt Nam và Phật giáo Việt Nam đă trải qua các giai đoạn thực hiện
tinh thần Đạo Pháp - Dân Tộc luôn hỗ tương nhau trong việc thiết lập
và vận hành đất nước theo mô típ lịch sử tiến hóa.
THƯ MỤC
THAM KHẢO
[1]. Minh
Chi (2003), Truyền thống Văn hóa & Phật giáo Việt Nam, Nxb. Tôn
giáo, Hà Nội.
[2]. Phạm văn
Đồng, Văn hóa và đổi mới, Tác phẩm và b́nh luận. Nxb. Bộ văn hóa
thông tin.
[3]. Trần Văn
Giáp, (1968), Phật giáo Việt Nam từ khỏi nguyên đến thế kỷ 13, Tu
thư Vạn Hạnh (Tuệ Sỹ dịch).
[4]. Trần Văn
Giàu (1983), Ḍng chủ lưu của văn học Việt Nam-tư tưởng yêu nước,
Nxb. Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh.
[5]. Trần Văn
Giàu (1993), Hệ ư thức phong kiến và sự thất bại của nó trước nhiệm
vụ lịch sử, (tập I), Nxb. Tp. Hồ Chí Minh.
[6]. Nhất
Hạnh (1998), Thiền sư Tăng Hội (Sơ tổ của thiền tông Việt Nam Thiền
tập tại Giao Châu đến thế kỷ thứ ba, Nxb. Lá Bối giữ bản quyền.
[7]. Hoàng
Xuân Hăn (1995), Lư Thường Kiệt, Nxb. Văn học.
[8]. Nguyễn
Hùng Hậu (Minh Không), (2002), Đại cương triết học Phật giáo Việt
Nam, Nxb. KHXH, Hà Nội.
[9]. Nguyễn
Duy Hinh (1999),Tư tưởng Phật giáo Việt Nam, Nxb. KHXH, HàNội.
[10]. Thích
Huệ Hưng (dịch giả), (1951, pl 2509) Kinh Duy Ma Cật, nhà in Phan
Thanh Giản, đường Vơ Tánh, Sài G̣n.
[11]. (2004),
Hưởng ứng kỷ niệm ngàn năm Thăng Long, Lư triều vọng măi ngàn sau
kim co, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội.
[12]. Trần
Trọng Kim (1999), Việt Nam sử lược, Nxb. Văn hóa thông tin.
[13]. Vũ
Khiêu (1997), Nho giáo và phát triển ở Việt Nam, Nxb. KHXH, Hà Nội.
[14]. Nguyễn
Lang (1992 ), Việt Nam Phật giáo sử luận, (tập một & hai), Nxb. Văn
Học-CTy Phát hành sách Hà Nội.
[15]. Nguyễn
Lang (1977), Việt Nam Phật giáo sử luận tập Ba, Nxb. Lá Bối in lần
thứ hai, tại Paris.
[16]. Hoàng
Văn Lâu (dịch và chú thích). GS Hà Văn Tấn (hiệu đính) (2000), Đại
Việt sử kư toàn thư, tập I & II, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội.
[17]. Nguyễn
Công Lư (2003), Văn học Phật giáo thời Lư diện mạo và đặc điểm, Nxb.
Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh.
[18]. C. Mác,
Ăgghen Ph (2002), Biện chứng tự nhiên, Toàn tập, Tập 20, Nxb. Chính
trị quốc gia.
[19]. Nguyễn
Tôn Nhan (2005), Nho giáo Trung Quốc, Nxb. Văn hóa thông tin.
[20]. Nhiều
tác giả (2004), Trần Nhân Tông vị vua Phật Việt Nam, Nxb. Tổng hợp
Tp. Hồ Chí Minh.
[21]. Đào
Phan (1991), Hồ Chí Minh danh nhân văn hóa, Nxb. Văn hóa, Hà Nội.
[22]. Trần
Thế Pháp (1960), Lĩnh nam chích quái, (bản dịch, Lê Hữu Mục), Nxb.
Khai trí, 62 Đại lộ Lê Lợi, Sài G̣n.
[23]. Trương
Hữu Quưnh (chủ biên) (2004), Đại cương lịch sử Việt Nam, tập I, Nxb.
Giáo dục.
[24]. TS.
Trần Đăng Sinh ( 2002), Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng
thờ cúng Tổ tiên của người Việt ở đồng bằng Bắc bộ hiện nay, (sách
tham khảo), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
[25]. Trung
tướng, GS Phạm Hồng Sơn (2004), Nghệ thuật đánh giặc giữ nước của
dân tộc Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội.
[26]. D.T
Suzuki, (1999), Nghiên cứu kinh Lăng Già, Tỳ kheo:Thích Chơn Thiện.
cư sĩ: Trần Tuấn Mẫn (dịch từ nguyên tác Anh ngữ), Nxb. Thuận Hóa.
[27]. Thích
Thanh Từ, (PL: 2534-1990), Thiền sư Trung Hoa (tập I), Thành hội
Phật giáo Tp. Hồ Chí Minh, ấn hành.
[28]. Thích
Thanh Từ, (PL: 2534-1990), Thiền sư Trung Hoa (tập II), Thành hội
Phật giáo Tp. Hồ Chí Minh, ấn hành.
[29]. Thích
Thanh Từ, (PL: 2536-1992), Pháp Bảo Đàn, Nxb. Thành hội Phật giáo
Tp. Hồ Chí Minh, ấn hành.
[30]. Thích
Thanh Từ, (PL. 2535-1992), Thiền sư Việt Nam, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh.
[31]. Thích
Thanh Từ, (PL: 2539 - 1995), Bích Nham Lục, Nxb. Tp. Hố Chí Minh.
[32]. Thích
Thanh Từ, (PL:2540-1996),Trần Nhân Tông Khóa hư lục giảng giải,
Thiền viện Thường Chiếu.
[33]. Thích
Thanh Từ, (PL2541- 1997), Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục giảng giải,
Thiền viện Thường Chiếu.
[34]. Thích
Thanh Từ (PL: 2541-1997), Tham đồ hiển quyết và thi tụng các Thiền
sư đời Lư, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh.
[35]. Thích
Thanh Từ, (PL 2541-1997), Tam tổ Trúc Lâm giảng giải, Nxb. Thiền
viện Thường Chiếu.
[36]. Thích
Thanh Từ, (1998), Thiền tông Việt Nam cuối thế kỷ 20, Nxb. Tp. Hồ
Chí Minh.
[37]. Lê
Mạnh Thát (1975), Khương Tăng Hội toàn tập. T1.Tu thư đại học Vạn
Hạnh.
[38]. Lê Mạnh
Thát (1982), Nghiên cứu về Mâu Tử. Tu thư đại học Vạn Hạnh.
[39]. Lê Mạnh
Thát (1999), Nghiên cứu về Thiền uyển tập anh, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh.
[40]. Lê Mạnh
Thát (2000), Toàn tập Trần Nhân Tông, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh .
[41]. Lê Mạnh
Thát (1999), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập1, từ khởi nguyên đến
thời Lư Nam Đế, Nxb. Thuận Hóa-Huế.
[42]. Lê Mạnh
Thát ( 2001), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 2, từ Lư Nam Đế (544)
Đến Lư Thái Tông (1054), Nxb. Tp. Hồ Chí Minh .
[43]. Lê Mạnh
Thát (2002), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập III, từ Lư Thánh Tông
(1054) đến Trần Thánh Tông (1278), Nxb. Tp. Hồ Chí Minh.
[44]. Lê Mạnh
Thát ( 2001 ), Tổng tập văn học Phật giáo Việt Nam, tập I, Nxb. Tp.
Hồ Chí Minh.
[45]. Lê Mạnh
Thát ( 2001 ),Tổng tập văn học Phật giáo Việt Nam, tập II, Nxb. Tp.
Hồ Chí Minh
[46]. Lê Mạnh
Thát (2002), Tổng tập văn học Phật giáo Việt Nam, tập III, Nxb. TP.
Hồ Chí Minh .
[47]. Lê Mạnh
Thát (chủ biên), (2005), Bồ tát Quảng Đức, Ngọn lửa và Trái tim,
Nxb. Tổng hợp Tp. HCM.
[48]. Mật Thể
(1943), Việt Nam Phật giáo sử lược.
[49]. Trần
Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb. Giáo dục.
[50]. Thích
Chơn Thiện ( 1999 ), Tư tưởng kinh Kim cương, Nxb. Tôn giáo, Hà
Nội.
[51]. Nguyễn
Khắc Thuần (2002)Nước Đại Việt thời Lư - Trần, Nxb. Thanh niên.
[52]. Nguyễn
Khắc Thuần ( 2004),Việt sử giai thoại, tập 1, 40 giai thoại từ thời
Hùng Vương đến hết thế kỉ X, Nxb. Giáo dục.
[53]. Nguyễn
Khắc Thuần (2004 ),Việt sử giai thoại, tập 2, 51 giai thoại thời Lư,
Nxb. Giáo dục.
[54]. Nguyễn
Đăng Thục (1974), Phật giáo Việt Nam, Nxb. Mặt đất.
[55]. Nguyễn
Đăng Thục (1996), Thiền học Trần Thái Tông. Nxb. Văn hóa thông tin.
[56]. Nguyễn
Đăng Thục (1998), Lịch sử tư tưởng Việt Nam, (Trọn Bộ) Nxb. Tp. Hồ
Chí Minh.
[57]. Nguyễn
Tài Thư: (chủ biên) (1991), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nxb. Khoa
học xă hội, Hà Nội.
[58]. Nnguyễn
Tài Thư ( 1993), Lịch tư tưởng Việt Nam, Nxb. KHXH, Hà Nội.
[59]. Chu
Mạnh Trứ, Mỹ thuật Phật giáo là tiêu biểu của mỹ thuật của dân tộc
thời Lư và Trần, (Tập văn Thành Đạo, số 17, Ban văn hóa Trung ương
-GHPGVN), xuất bản.
[60].
UBKHXHVN (1976), Lịch sử Việt Nam, (tập 1), Nxb. KHXH, Hà Nội.
[61]. Đặng
Nghiêm Vạn (chủ biên), (1998), Dân tộc học đại cương, Nxb. Giáo dục.
[62]. GS.
Đặng Nghiêm Vạn, (2001), Lư luận về tôn giáo và t́nh h́nh tôn giáo ở
Việt Nam, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.
[63]. Viện
Triết học (2002), Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Văn tuyển tập I (Tư
tưởng Việt Nam từ đầu công nguyên đến cuối thời Lư), Nxb. Chính trị
quố gia, Hà Nội.
[64]. Viện
Triết học (2004), Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Văn tuyển, tập II (Tư
tưởng Việt Nam thời Trần - Hồ), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
[65]. Viện Sử
học (1980), T́m hiểu xă hội Việt Nam thời kỳ Lư-Trần, Nxb. Khoa học
xă hội, Hà Nội.
[66]. Viện Sử
học (1971), Lịch sử Việt Nam (tập1), Nxb. KHXH -H.
[67]. VKHXHVN
(1993), Đại Việt sử kư toàn thư, tập I, Nxb. Khoa học xă hội, Hà
Nội.
[68]. Trần
Quốc Vượng (1983), Lịch sử Việt Nam (tập 1), Nxb. Đại học và Trung
học chuyên nghiệp, H.
[69]. Trần
Quốc Vượng (chủ biên), (1999), Cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb. Giáo
dục.
[70]. Giác
Dũng (2003), Phật Việt Nam dân tộc Việt Nam, Nxb, Tôn giáo, Hà Nội.