VẠN HẠNH
THIỀN SƯ
CON NGƯỜI
ĐỘC DỊ CỦA NGÀN NĂM TRƯỚC VÀ SAU
Như Hùng
I. CON NGƯỜI VẠN HẠNH VÀ CÔNG CUỘC
CÁCH MẠNG
Vua
Lê Đại Hành mất vào năm 1005, các hoàng tử tranh giành ngôi vua tạo
nên cảnh khổ đau tràn ngập cho Dân Tộc, bên trong bị nội loạn, bên
ngoài bị ngoại xâm đe dọa. Trước những thảm trạng đen tối u ám và
đầy dẫy những thống hận đó, Vạn Hạnh thiền sư xuất hiện như một thứ
ánh sáng phi thường quét sạch vùng trời giông tố để đưa vận nước
bước vào thời đại huy hoàng thịnh trị.
Trong
Thuyền Uyển Tập Anh ghi lại con người Vạn Hạnh như sau: “Sư họ
Nguyễn quê ở làng Cổ Pháp, gia đ́nh đời đời thờ Phật. Thuở nhỏ Sư đă
thông minh khác thường, học khắp Tam Giáo và nghiên cứu Bách Luận,
mà vẫn xem thường công danh phú quí. Năm 21 tuổi Sư theo Thiền Sư
Định Tuệ xuất gia và thọ học với Thiền ông Đạo Giả ở chùa Lục Tổ
làng Dịch Bảng phủ Thiên Đức. Khi việc chùa rỗi rảnh, Sư chăm chỉ
học tập quên cả mỏi mệt. Sau khi Thiền ông tịch, Sư kế tiếp trụ tŕ
chùa nầy và chuyên tập pháp “Tổng Tŕ Tam Ma Địa” lấy đó làm sự
nghiệp. Bấy giờ Sư có nói ra lời ǵ dân chúng đều cho là lời sấm kư.
Vua Lê Đại Hành rất tôn kính Sư.”
Qua những
nét ghi lại con người Vạn Hạnh ta thấy có những điểm quan trọng,
trong tiến tŕnh tâm linh mà đă tạo dựng nên một Vạn Hạnh siêu việt,
độc đáo phi thường trong lịch sử. Trước hết, là điểm thông minh khác
thường mà Thuyền Uyển Tập Anh muốn đề cập tới, có phải chăng đó là ư
thức về khả năng siêu hoạt siêu thức trong một tâm linh, và biến
những tác động hưng khởi ở nội và ngoại tại không nghịch lư trong
việc tạo nên tương quan thiết dụng cho con người? Dung ḥa những
phức tạp xuất hiện trong ư thức để hoán chuyển thành nguồn thực dụng
nuôi dưỡng tâm linh siêu thể? Có phải chăng đó là điều mà sau này
Vạn Hạnh đă phát huy cho cả cuộc đời của ḿnh? Đồng thời Vạn Hạnh
c̣n thông suốt tường tận ba luồng tư tưởng phổ thông của thời bấy
giờ. Ba tư tưởng đó là: Nho học, Đạo học, và Phật học. Dĩ nhiên ba
luồng tư tưởng nầy vốn có những nét dung hợp và đồng thời có những
điểm khác biệt trong vài khía cạnh. Về Khổng Học, chỉ dùng suy tư và
học tập “có học lại những kinh nghiệm của người xưa mà không phê
phán suy nghĩ th́ mơ hồ, suy nghĩ phê phán mà không có tài liệu học
tập th́ nguy hại” Cái học nầy là giáo điều không uyển chuyển nên lắm
lúc tạo những tôn thờ phi lư không dám đối nghịch lại một vài dữ
kiện không thích hợp với bối cảnh và trạng huống trái ngược. Dung
ḥa cả ba tư tưởng ấy trong con người của Ngài hẳn chắc phải sinh ra
những tương phản và mâu thuẫn, xung đột trong quan niệm, và nếu có
tổng hợp th́ điều này cũng trá h́nh của những sinh khắc, v́ vậy Vạn
Hạnh chưa t́m ra được tổng thể bất phân ly trong những luồng tư
tưởng ấy.
Muốn truy
t́m và giải quyết những nguyên lư phức tạp mâu thuẫn đổ vỡ nầy Vạn
Hạnh đă phải nghiên cứu đến Bách Luận của Long Thọ Bồ Tát – dùng
biện chứng trực giác về hiện tượng và phủ định sự có mặt giữa giả
hợp danh sắc, quật khai thực tại tuyệt đối không bị lệ thuộc bởi
những chi phối giả hợp của thời không. Cũng chính nhờ sự quật khai
của Tam Luận Tông nầy Vạn Hạnh đă quân b́nh nội tại và để từ đó nổ
tung ra trên hành tŕnh giải phóng tâm linh và mang lại ánh sáng
siêu việt cho Dân Tộc. Và cũng nhờ vào những kinh nghiệm tri thức mà
Vạn Hạnh trải qua mới tạo nên luồng Văn Hóa đặc thù cho Dân Tộc mà
ta có thể t́m thấy trong những phần ở sau.
Giới trí
thức Việt lúc bấy giờ là những thiền sư uyên thâm bác học, tu tưởng
và nội tâm sâu rộng siêu việt, có những thiền sư nổi tiếng lỗi lạc
trong nước và gây chấn động đến ngoài nước. Song song trong việc
nghiên cứu tu tập về Thiền để đạt được thức giác trong đời sống tâm
linh, giải phóng ra khỏi triền phược hệ lụy đang đè nặng trong mỗi
người. C̣n có khuynh hướng nghiên cứu những Dịch lư, tướng số pháp
thuật, lương dược nhằm để khai ngộ và đi vào cuộc đời để dựng xây
nền thịnh vượng cho quốc gia. Khuynh hướng nầy rất mạnh trong Thiền
Phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi mà Thiền Sư Định Không là người đầu tiên ứng
dụng điều đó.
“Năm Trinh
Nguyên đời Đường (785) ông dựng ngôi chùa Quỳnh Lâm ở quê nhà. Khi
bắt đầu đào móng xây nền, đào được một chiếc hương đề, mười chiếc
khánh, sai người đem xuống nước rửa, một chiếc bị ch́m xuống nước
tới đất mới thôi. Nhân thế mới đổi tên làng ra Cổ Pháp. Và làm một
bài tụng rằng:
Đất
tŕnh pháp khí
Phẩm chất
tinh đồng
Đưa Phật
giáo đến chỗ hưng long
Đặt tên
làng là Cổ Pháp
Mười
chiếc chuông đồng
Pháp khí
xuất hiện
Mười
chiếc chuông đồng
Nhà lư
hưng vương
Tám phẩm
thành công
Khi sắp
tịch, Sư nói với đệ tử Thông Thiện rằng: “Ta muốn mở rộng làng nhà,
nhưng giao thời sợ có tai vạ sắp đến, ắt có kẻ lạ lại phá hoại cảnh
thổ ta (sau Cao Biền nhà Đường đến trấn yểm) Sau khi ta mất, con nên
khéo giữ lấy đạo pháp truyền cho người họ Đinh ấy là ḷng ta mong
mỏi.” Những điều tiên đoán của Định Không sau nầy quả đúng như vậy.
Khoảng 200 năm sau xuất hiện bởi nhân vật phi thường ở làng Cổ Pháp
đó là Thiền Sư Vạn Hạnh, người dựng nên nhà Lư, cũng có thể Vạn Hạnh
là hiện thân nào đó của Định Không? Một con người cưu mang hoài băo
hưng phục cho Dân Tộc mà niềm mơ ước nầy chưa thành, th́ cũng có thể
v́ đại nguyện cao cả ngài trở lại để làm một Vạn Hạnh độc dị, siêu
nhân trong cả ngàn năm trước và sau chưa có một nhân vật tài ba nào
có thể đương đầu nổi. “Trụ tích trấn vương kỳ”.
Ngoài công
cuộc cách mạng nội tại để đạt đến sự quân b́nh giữa những dị biệt
của 3 luồng tư tưởng mà Vạn Hạnh đă thống hợp làm một, đó là nghiên
cứu một cách nghiêm mật về Tam Luận Tông, đả phá và không trụ vào
giả tướng. Từ đó Vạn Hạnh đi vào con đường Thiền Tông qua chặng
đường của Bách Luận và Tam Ma Địa. Thiền được kể như một môn học
thực nghiệm siêu việt nhất trong việc hướng tri thức thoát ra ngoài
những kiềm tỏa phi lư của ư thức hệ.
Qua vài
nét đơn giản của Thiền Uyển Tập Anh ghi lại cuộc đời của Ngài, ta
thấy không có một điểm nào kể lại là Vạn Hạnh đạt được thực chứng ở
Bách Luận hay Thiền hay Tam Ma Địa? Có một điểm nhấn mạnh ở đó là
Vạn Hạnh chuyên tu tập pháp “Tổng Tŕ Tam Ma Địa” đây là cánh tay
phải chứ không hẳn là mấu chốt mà Ngài đă thành tựu. Truy t́m lại
Thiền Phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi ta thấy có bóng dáng của Mật Tông ở đó.
Mà Vạn Hạnh thuộc hệ thứ 12 của Thiền Phái nầy. “Tam Ma Địa” theo
Trí Độ Luận c̣n gọi là Tam Muội và Thiền Định cũng gọi là Tam Muội.
Đây có thể là diệu dụng nào đó của việc đạt được thực ngộ Thiền. Chứ
không hẳn Tam Ma Địa là thực thể có từ bên ngoài.
Như vậy
hẳn nhiên Vạn Hạnh chứng ngộ là nhờ khai quật nội tâm bằng phương
pháp Thiền định qua cửa ngơ và phương pháp hành tŕ của “Tam Ma Địa”
Và cuộc
cách mạng mà Vạn Hạnh thực hiện là xoay chuyển vận nước và Dân tộc
bước vào thời huy hoàng, và tạo dựng nền Triết lư thực dụng cho
giống ṇi.
II.
SỰ NGHIỆP CHÍNH TRỊ TRONG CON NGƯỜI VẠN HẠNH
Ngoài sự
nghiệp thực chứng Vạn Hạnh có được, ngài c̣n là một nhân vật mang
ánh sáng tâm linh đi vào cuộc đời cứu giúp dân xây dựng một nước
Việt huy hoàng rực rỡ. Nguyên tố để chuyển hoán được xă hội, không
hẳn do một ḿnh Vạn Hạnh mà thành tựu trọn vẹn được, cũng phải nhờ
vào những thực lực khác, mà mấu chốt là những con người đang ở vào
tư thế chính quyền cai trị, đó là những vị vua.
Cái thông
minh của Vạn Hạnh là un đúc huấn luyện và có khả năng tiên đoán được
vận mệnh trước sau trong con người mà Vạn Hạnh muốn nhắm đến. Ngay
từ khi được sự tôn kính của vua Lê Đại Hành, Vạn Hạnh đă tỏ ra xuất
sắc trong việc tiên đoán sự thắng bại của quân ta “Niên hiệu Thiên
Phúc năm thứ nhất 980 tướng Tống là Hầu Nhân Bảo kéo quân sang đánh
nước ta, đóng binh ở núi Cương Giáp Lăng, vua Lê Đại Hành mời Sư đến
hỏi “quân ta thắng bại lẽ nào?” Sư đáp “Trong ba, bảy ngày th́ giặc
ắt lui”. Quả đúng như lời Sư đoán”.
Khả năng
tiên đoán đó phải chăng nhờ tự nội tâm thực chứng thông suốt được
quá khứ hiện tại và vị lai? Sự tương quan giữa một tâm linh với vạn
vật trong vũ trụ vốn có sẵn trong mỗi tâm thức, nếu khơi dậy đúng
mức th́ sơn hà đại địa nằm trong ḷng bàn tay không ở đâu xa. Con
người vốn chứa đựng và là tiểu vũ trụ, sự quan hệ tương hợp với đại
vũ trụ không phải là điều huyền ảo. Nếu quật tung những bí ẩn đang
nấp kín th́ có thể trông thấy được thế giới rộng lớn bao la trong
đôi mắt. Những xoay vần chuyển động trong đó, như mấu gút đang tuần
tự tháo gỡ ở trong ta.
Khả năng
nầy Vạn Hạnh c̣n xử dụng tuyệt diệu hơn trong việc tạo dựng nên một
Lư Công Uẩn, sau nầy trở thành một vị minh quân, một vĩ nhân của Dân
Tộc.
Vạn Hạnh
chuẩn bị khai thị nhân tâm, vận động ḷng dân bằng sấm truyền một
cách siêu dị. Sách Đại Việt Sử Kư ghi lại rằng: Trong thời Lê Phong
Đỉnh sét đă đánh lên cây gạo ở chùa Minh Châu, làng Cổ Pháp (do
Thiền Sư La Quí An trồng năm 936) in thành chữ như sau:
Thọ
căn diễu diễu – Mộc biểu thanh thanh
Hoa đào
mộc lạc – Thập bát tử thành
Đông A
nhập địa – Dị mộc tái sanh
Chấn cung
kiến nhật – Đoài cung ẩn tinh
Lục thất
niên gian – Thiên hạ thái b́nh
(Gốc
cây thăm thẳm – Ngọn cây xanh xanh
Cây hoa
đào rụng – Mười tám hạt thành
Cành đông
xuống đất – Cành khác lại sanh
Đông mặt
trời mọc – Tây sao ẩn h́nh
Sáu bảy
năm nữa – Thiên hạ thái b́nh).
Sách Đại
Việt Sử Kư viết tiếp rằng: “Nhà sư Vạn Hạnh tự đoán riêng rằng,
trong câu (thọ căn diễu diễu) chữ căn là gốc, gốc tức là vua, chữ
diễu đồng âm với chữ yểu, thế là nhà vua (Lê Long Đỉnh) chết yểu.
Trong câu (mộc biểu thanh thanh) chữ biểu là ngọn, ngọn là bầy tôi,
chữ thanh đồng âm với chữ thịnh, thế là một người trong số quần thần
(Lư Công Uẩn) sẽ lên nắm chính quyền. Ba chữ (hoa đào) góp lại (theo
Hán tự) là chữ Lê, lạc là rớt, tức là nhà Lê rớt. Ba chữ (thập bát
tử) góp lại là chữ Lư, thập bát tử thành tức là nhà Lư lên. Câu
(đông A nhập địa) chữ đông và chữ a họp lại là chữ Trần, nhập địa là
người phương Bắc vào cướp. Câu (dị mộc tái sanh) tức là họ Lê khác
(Lê Lợi) lại nổi lên. Trong câu (chấn cung kiến nhật) th́ chấn là
phương Đông, kiến là mọc ra, nhật là thiên tử, thiên tử xuất hiện ở
phương Đông. Trong câu (đoài cung ẩn tinh) th́ đoài là phương Tây,
ẩn là lặn tinh là người tầm thường, người tầm thường mai một ở
phương Tây. Mấy câu này có ư nói vua th́ non yểu tôi th́ cường
thịnh, họ Lê mất, họ Lư nổi lên, thiên tử ở phương Đông mọc ra th́
thứ nhân ở phương Tây lặn mất, trong ṿng sáu bảy năm nữa th́ thiên
hạ thái b́nh.”
Qua lời
sấm nầy, không những Vạn Hạnh tiên đoán ở thời kỳ nầy mà c̣n suốt cả
sinh mệnh của Dân Tộc từ thời Tiền Lê ở thế kỷ thứ 11, đến nhà Lư ở
thế kỷ 11, 12, đến nhà Trần ở thế kỷ 13, 14 và cuối là nhà Hậu Lê ở
thế kỷ 15 và 16. Quả thật con người Vạn Hạnh quá vĩ đại thông suốt
sự thành hợp, tan hoại, cả mấy thế kỷ. Thời Tiền Lê vị anh hùng cứu
quốc Lê Hoàn và là minh quân Lê Đại Hành đă từng đánh tan quân xâm
lăng nhà Tống vào năm 980. Ông mất vào năm 1005. Khi vừa nằm xuống
các con tranh giành ngôi vua Lê Phong Việt mới làm vua được 3 ngày
th́ bị em là Lê Long Đỉnh giết chết. Lê Long Đỉnh c̣n gọi là Lê Ngọa
Triều, một ông vua tàn ác hoang dâm vô độ. Khiến cho nhân dân ly
tán, ḷng người phẫn nộ căm hờn, cơ hội cho sự xâm lăng của quân
Tàu, có thể đưa dân tộc rơi vào kiếp nô lệ.
Trước
những biến động nguy ngập của thời đại, sự xuất hiện của Vạn Hạnh
như một vị cứu tinh vĩ đại cho Dân Tộc, Vạn Hạnh là linh hồn của
công cuộc cách mạng đưa Lư Công Uẩn lên ngôi. Ngài đă đào tạo Lư
Công Uẩn ngay từ lúc c̣n làm chú tiểu ở chùa làng Cổ Pháp, để sau
nầy trở thành một vị vua anh minh làm tṛn sứ mạng cao cả cho Dân
Tộc. Nhờ sự giáo dục tài t́nh của Vạn Hạnh, Lư Công Uẩn đă huân tập
được tinh thần Từ Bi, Trí Tuệ trong Phật Giáo, đặt sự tồn tại của
Dân Tộc lên trên, xây dựng một xă hội nhân bản, hưng thịnh, an lạc.
Sử gia Hoàng Xuân Hăn viết “Triều đại nhà Lư là Triều đại thuần từ
nhất trong lịch sử nước ta. Đó là nhờ ảnh hưởng của Phật giáo”. Điều
nầy cũng đủ cho ta thấy rằng đóng góp của Vạn Hạnh vô cùng vĩ đại,
sự nghiệp phi thường nầy chắc hẳn chúng ta không bao giờ quên được.
Khía cạnh
tâm lư nào đă tạo nên những Thiền Sư dấn thân vào công nghiệp chính
trị. Trước hết những vị là người có học thức, uyên bác, có ư thức v́
sự hưng vi của quốc gia, là những người sống trực tiếp với quần
chúng nên hiểu rơ về đời sống cũng như khía cạnh tâm lư trong mỗi
người. Nên những Thiền Sư đem khả năng của ḿnh để phục vụ cho nhân
dân bằng cách biến những ưu tư của họ trở nên niềm vui an lạc. Dấn
thân vào chính sự là cách hay nhất để có thể cải tổ và xoay chuyển
được vận mạng của dân tộc hữu hiệu. Cần nhất, tạo được ư thức Dân
Tộc tính trong sự trị v́ của Vua hay những người trực tiếp cai trị
dân từ đó mới đem lại sự thanh b́nh cho người dân. Đồng thời những
Thiền Sư coi thường công danh phú quí lợi lộc, nên không bao giờ
tranh giành quyền lợi, các vị chỉ đứng trên cương vị cố vấn tham dự
vào chính sự, chứ không dính đến chính quyền, nên ngôi chùa là nơi
cư trú, cơm rau đạm bạc vẫn là thức ăn hàng ngày.
Quí vị đi
vào cuộc đời, tham dự chính sự trong cương vị xuất thế của ḿnh,
không muốn ḥa ḿnh trong ṿng ràng buộc danh lợi, hành nhưng vô
hành.
Ngày mà Lư
Công Uẩn lên ngôi vua, Vạn Hạnh ung dung ngồi ở Chùa Lục Tổ, bên
cạnh chén trà, mỉm cười với chính ḿnh, một nụ cười ch́m lặng trong
hư vô, chỉ có hư không mới cảm nhận thâm sâu được nụ cười nầy. Vạn
Hạnh đâu cần thiên hạ tung hô, dù rằng Vạn Hạnh lănh đạo và phát huy
kế hoạch vi diệu trong việc tạo dựng nên nhà Lư. Cái ung dung thanh
thoát của những con người không hề vướng bận, làm th́ có làm, v́
chúng sanh nên phải dấn thân, nhưng không v́ thế hoen ố được tâm
linh của ḿnh. Chúng ta phải cúi đầu qui ngưỡng trước những con
người siêu dị nầy.
III.
VẠN HẠNH NGƯỜI TẠO DỰNG
NỀN
TRIẾT LƯ ĐẶC THÙ CHO DÂN TỘC
Đứng trước
vực thẳm của Dân Tộc đang bị lôi cuốn vào những trào lưu văn hóa của
ngoại lai, phi dân tộc, do sự đồng hóa thống trị đô hộ của đế quốc
Trung Hoa biến Dân Tộc rơi vào sự khống chế, khắc nghiệt, tàn bạo về
mọi phương diện. Và thâm độc hơn để đồng hóa người dân đến tận gốc
rễ. Trung Hoa đă ồ ạt chuyên chở hệ thống tư tưởng của họ, để áp
đảo, phủ lên đầu dân, biến dân tộc ta mất gốc trở thành kẻ nô lệ,
tôn thờ họ như một thứ thần thánh. Chúng ta không thèm đề cập đến
những tay ngoại lai, những kẻ mất gốc, nô lệ văn hóa Tàu, Đế quốc đă
đô hộ, đày đọa dân ta cả ngàn năm qua, để rồi có một số tay sai văn
hóa trở lại tôn thờ. Một đế quốc đă tàn phá tất cả những di sản của
Dân Tộc thay vào đó một trào lưu văn hóa xâm lăng tiêu diệt, có một
số người trở lại lạy lục cho là độc đáo.
Đứng trước
thảm trạng bi hùng đó, Vạn Hạnh ư thức mănh liệt về Dân Tộc tính,
tạo dựng nên một nền tâm linh đặc thù cho Dân Tộc, tổng hợp những
trào lưu văn hóa, thay vào đó mang một đặc thể hoàn toàn Dân Tộc.
Nước Việt ở vào thời bấy giờ là nơi gặp gỡ nhiều trào lưu văn hóa và
tín ngưỡng khác nhau. Nào văn hóa “Động Cổ” (Đông Sơn) Văn Hóa Cổ Mộ
(Lạch Trường) văn hóa Hán nho, Phật học v.v… Trước những dị biệt đó,
muốn trưởng thành chắc chắn phải hóa giải những mâu thuẫn, thanh lọc
lại và tạo nên một trào lưu văn hóa khác không chấp nhận lệ thuộc
hẳn vào một văn hóa nào cả.
Vạn Hạnh
vốn đă trải qua những xung đột trong nội tại, v́ thế Ngài đă phải
dùng đến phủ định (không) của Bách Luận để hóa giải những khúc mắc
quan trọng nơi tâm thức. Dĩ nhiên không, lại không có nghĩa phủ nhận
hoàn toàn sự có mặt của danh sắc, mà phải hiểu rằng, sự có mặt ấy
chỉ là một giả thể, huyễn hóa không thật. Hẳn nhiên có thể mặt trái
của phủ định vẫn là khẳng định, bởi lẽ khi phủ định một định nghĩa
tức là phải thành lập một định nghĩa khác, dù không rơ nét lắm vẫn
có sự trá h́nh nào đó, để từ đó mới có thể lật đổ được điều ấy. Dùng
một lập luận nầy để phá đi một lập luận khác. Trên b́nh diện tương
đối th́ vấn đề nầy không phức tạp như vậy.
Nguyên tố
cơ bản mà Vạn Hạnh đă dùng là phủ định mọi tư tưởng, cũng có thể
ngay cả cái tư tưởng mà Vạn Hạnh đang dùng để phá đó nữa. Sau khi
đạt được sự vắng lặng hoàn toàn cho tâm thức ngài mới bắt đầu đặt
lại sự có mặt của nó. Thực hiện điều này, trước hết ta thấy ngài
trung thực và không lệ thuộc vào một khuynh hướng nào trong việc đặt
lại, như vậy cái nh́n mới không bị kéo lệch về một điểm. Một khi Vạn
Hạnh đă đạp tung th́ tất cả đều phải đổ ào, dù cái đó điều mà ngài
phải nương vào mới đạt được. Tinh thần không trụ chấp vào danh tướng
giả sắc trong Bách Luận, cũng có nghĩa là ngay cả Bách Luận cũng
không được trụ. Cái phóng khoáng và tự do tuyệt đối trong Phật giáo
là ở chỗ đó, thong dong tự tại trên mọi đỉnh đồi, nở những nụ cười
chấn động làm lạnh cả hư không, không g̣ ép ở mọi định thước nào.
Sau khi
Vạn Hạnh đă thẩm định lại một cách rơ ràng bằng con đường trực giác
kiến tánh, siêu việt lên trên mọi hiện tượng, thực nghiệm những
tương quan bằng con mắt trí tuệ sáng soi. Chỉ có điều nầy mới không
tạo nên những xung khắc trong việc quân b́nh, bởi v́ nó h́nh thành
từ một siêu thể, siêu thức, vượt ra ngoài tri thức b́nh thường, làm
sao có thể ngăn ngại được hướng đi của nó.
Những tổng
hợp tư tưởng của Vạn Hạnh c̣n đi xa hơn Khổng Tử t́m ra cái “Đạo
Nhất Quán” v́ Khổng Tử chỉ dùng có suy tư và học tập – mà không qua
chặng đường thực nghiệm – siêu thể như Vạn Hạnh. Và chặng đường để
Vạn Hạnh thực hiện được c̣n gay cấn và độc đáo hơn nhiều. Không
những không bị đồng hóa lệ thuộc, mà c̣n vượt lên trên rực rỡ nữa.
Vạn Hạnh người đă dựng nên một nền Minh Triết Việt Đạo độc đáo cho
Dân Việt, đánh tan đi ảnh hưởng của ngoại lai.
Theo sử
gia Lê Văn Siêu, thiền sư Vạn Hạnh người đă sáng tạo ra và cho lưu
truyền trong nhân gian huyền thoại rồng tiên và nguồn gốc họ Hồng
Bàng, c̣n là Việt Đạo. sử gia Lê Văn Siêu viết “Qua câu chuyện huyền
thoại về nguồn gốc Dân Tộc, ta thấy ở đấy cũng một mùi đạo hạnh uyên
thâm cũng một giọng kín đáo mà thuần phác, cũng một ư răn dậy luân
lư để nghiền ngẫm cho từ vua quan đến thứ dân, cũng một tinh thần
xây dựng về lâu đài cho muôn thuở, cũng một tŕnh độ lĩnh hội và
tổng hợp của cả ba đạo Nho, Phật, Lăo, và cũng một ư thức sáng tạo
lớn là để phụng sự cho tiến phát của mối đạo và của Dân Tộc. C̣n ai
có thể ngờ được rằng tác giả thành Thăng Long lại không phải là tác
giả của nguồn gốc họ Hồng Bàng ?
Tuy nhiên
trong quan niệm nguồn gốc họ Hồng Bàng ta c̣n nhận thấy một dụng ư
chính trị cao siêu là gây cho Dân Tộc niềm kiêu hănh về nguồn gốc
của ḿnh, phá bỏ mặc cảm tự ti đối với Trung Hoa. Người Tàu nói có
nguồn gốc từ Tam Hoàng, Ngũ Đế th́ đây ta cũng có gốc gác từ vua
Thần Nông, cha đẻ của nền văn minh nông nghiệp. Người Tàu nói gịng
dơi của họ là con rồng (thuần dương) th́ ta gịng dơi Rồng Tiên (vừa
âm vừa dương) chẳng cao siêu hơn và tṛn đầy hơn sao? Họ khoe bà Nữ
Oa của họ đội đá vá trời và Bàn Cổ sinh ra từ khai thiên lập địa,
thế họ không biết rằng ư thức của ta đă có như con chim bay giữa
không gian (là cái nhà lớn) và thời gian (là con sông) chiết tự ở
hai chữ Hồng Bàng ra hay sao ?
Thiền Sư
Vạn Hạnh, Thiền Sư Vạn Hạnh ! Người ấy th́ phải có công nghiệp nầy,
mà công nghiệp này th́ nhất định là chỉ có người ấy mới làm nổi.
Trận đánh
quân Nam Hán của Ngô Quyền ở Bạch Đằng giang chỉ là một chiến công
gieo ảnh hưởng trong một thời gian ngắn để sau phải có những trận
đánh khác của Trần Quốc Tuấn, của Lê Lợi và của Nguyễn Huệ. Nhưng
trận đánh về văn hóa của Sư Vạn Hạnh th́ đă là một trận đại thắng
gieo ảnh hưởng cho muôn đời về sau nầy của con cháu rồng tiên.
Sư Vạn
Hạnh đă dàn một mặt trận văn hóa bao la trong cả không gian lẫn thời
gian, khiến cho không một tư trào văn hóa ngoại lai nào có thể làm
cho dân Việt quên quay đầu trở về gốc tổ.
Huyền
thoại Hồng Bàng chỉ là một câu chuyện tưởng tượng để diễn đạt và
truyền đi cái đạo sống Việt Nam. Cái đạo ấy tuy thoát thai ở Nho,
Phật, Lăo… Nó đă nhuốm một màu sắc Việt Nam. Nó đă được un đúc nên
qua một cuộc thử thách lịch sử dài tới hơn một ngàn năm. Nó có một
nội dung tṛn đầy, phóng khoáng và siêu thoát nhưng cũng thiết thực,
cụ thể, b́nh dân. Nó khoác một h́nh thái biến hóa khôn lường, hư hư,
thực thực. Nó vô vi mà là hữu vi, hữu vi mà là vô vi, tranh đấu tích
cực mà như là tiêu cực, tiêu cực mà thật là tích cực. Không phải là
chiến để thắng mà là ḥa để thắng, không phải thắng trong một ngày,
một buổi, mà là thắng cho muôn đời về sau.
Đạo ấy đă
ăn sâu, đă thấm nhuần trong ḷng người ḷng sông núi, trong tâm thức
và phong thái Việt Nam và chính trong những lúc nguy ngập, trong
những cơn quốc nạn, trong những giai đoạn máu lửa, trong những cuộc
thử thách mất c̣n mà cái đạo nhiệm mầu, siêu việt, tṛn đầy ấy lại
hiện ra sáng đẹp như chưa bao giờ sáng đẹp hơn và linh diệu không
thể nào lường được. Cái đạo ấy thể hiện gói trọn trong huyền thoại
Tiên Rồng và huyền thoại Hồng Bàng xứng đáng được gọi là đạo Tiên
Rồng đạo Hồng Bàng hay Việt Đạo.”
IV.
THÀNH THĂNG LONG,
CÔNG
TR̀NH SUY TƯ VÀ KIẾN TRÚC CỦA VẠN HẠNH.
Kinh thành
Thăng Long là một tác phẩm vĩ đại dung chứa và biểu tượng của một
tổng hợp Triết Lư độc đáo mà Thiền Sư Vạn Hạnh đă suy tư và dựng
nên. Nó đặc trưng, thể hiện mọi phương diện từ Văn Hóa, Nghệ Thuật,
Triết Lư, Chính Trị v.v… đâu đó đều in bóng dáng hùng vĩ của Vạn
Hạnh, dù thời gian đă rêu phong, nhưng dấu chân người đă in đậm trên
từng đường nét.
Vạn Hạnh
thuyết phục vua Lư Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Đại La (sau đổi là
Thăng Long) với mục đích bảo vệ nền độc lập lâu dài cho Dân Tộc. Vạn
Hạnh thảo ra lời chiếu dời đô, theo lời chiếu, đất Hoa Lư là nơi
“thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ hao tổn, vạn vật không
nên”. Trong khi đó đất Đại La “ở giữa khu vực trời đất, có địa thế
rồng quấn hổ phục, ở giữa Nam, Bắc, Đông, Tây, tiện h́nh thể núi
sông sau trước, đất rộng mà bằng phẳng, chỗ cao mà sáng sủa, dân cư
không khổ v́ ngập lụt, muôn vật rất thịnh và phồn vinh !”
Bằng vào
những tiên đoán và nhận định một cách siêu việt, ta thấy Vạn Hạnh ư
thức mănh liệt về sự hưng thịnh lâu bền của Dân Tộc. Ta có thể thấy
được nền tảng vững chải từ những biểu tượng, đặc trưng, thể hiện về
mọi lănh vực Văn Học, Chính Trị, An Ninh, quốc pḥng, thương măi, đô
thị, với lối suy tư độc dị của Vạn Hạnh áp dụng trong kiến trúc,
không ai dám phủ nhận công nghiệp vĩ đại nầy, nếu không phải cúi đầu
trước những mênh mang kỳ vĩ của sự hợp nhất trong ngoài.
Trong
Nguồn Gốc Văn Hóa Việt Nam, tác giả Lê Văn Siêu đề cập đến công
tŕnh kiến trúc thành Thăng Long của Vạn Hạnh như sau: “Ta hăy xem
cái đường ṿng chạy chung quanh nội thành biểu tượng cho thái cực,
hai nhánh sông Tô Lịch bên hữu có hồ Lăng Bạc là úng thủy, bên tả
thông ra đường Lưu Thủy là sông Nhị Hà, đó là biểu tượng cho Lưỡng
Nghi. Cung điện của vua ở giữa có bốn mặt đều nhau ấy là tứ tượng.
Thêm bốn kiến trúc bốn cổng ấy là bát quái. Tất cả các đường đều bắt
đầu từ ṿng thái cực mà đi chi chít không biết bao nhiêu, ấy là biến
hóa vô cùng vậy. Nh́n vào thế địa lư của Thành Thăng Long th́ ta
thấy cách sắp đặt qui mô của người xưa rộng răi và sáng suốt không
thể nào tưởng tượng nổi.
Nội thành
đặt đúng trên núi Nùng, sau lưng là cái năo thủy Tây Hồ, bên tả là
Tam Đảo, bên hữu là Ba V́, Tây Hồ (bên hữu) thuộc âm, bắt đầu bằng
chùa Bát Mẫu chạy ṿng tới dăy núi Ninh B́nh, Thanh Hóa và ra đến
cửa bể Thần Phù. Tây Long (bên tả) thuộc dương, bắt đầu bằng cửa ô
Tam Phù (Yên Phụ) để chạy tới dăy núi Yên Tử – Đông Triều và Hương
Hải (tức Ḥn Gay bây giờ).
Trong nội
thành cung điện sắp đặt theo đúng tám hướng: kiền, khảm, cấn, chấn,
tốn, ly, khôn, đoài, ấy là cái thể dữ tứ thời hợp kỳ tự (cùng bốn
mùa giao hợp mà sắp đặt trật tự) dữ quỷ thần hợp kỳ linh (cùng quỉ
thần giao hợp mà linh thiêng). Chấn và Đoài (nghĩa là Đông và Tây)
là dữ nhật nguyệt hợp kỳ minh (cùng với mặt trời mặt trăng ḥa hợp
mà cùng sáng). Khôn và Kiền (Tây Nam và Tây Bắc) là dữ thiên địa hợp
kỳ đức (cùng với trời đất hợp cái đức của ḿnh)
Mỗi hướng
có một ư nghĩa và ở mỗi hướng lại có một sự xây dựng theo ư nghĩa
đó.
Kiền ở
(Tây Bắc) dĩ quân chi (chú vào việc quân) phải cứng rắn cương quyết
th́ có Giảng Vơ Đường, có chùa Trấn Bắc, chùa Trấn Vũ có miếu Thành
Hoàng, làng Hữu Tiệp (có tin thắng trận th́ về báo).
Đối với
Kiền và Tốn (ở Đông Nam) Tốn dĩ thuận chi (chủ vào việc Thuận Hảo)
phải mềm dẻo th́ có Văn Miếu, Trường Thi, Quốc Tử Giám, làng Văn
Chương, chùa Long Hoa.
Khảm (ở
chính Bắc) dĩ hăm chi, chủ dùng mưu mẹo th́ có năo thủy Tây Hồ.
Đối với
Khảm là Ly (ở chính Nam) ly dĩ lệ chi, chủ sự sáng suốt, đẹp đẽ th́
có Ô Kim Liên, làng Kim Liên (bông sen vàng rực rỡ).
Khôn (ở
Tây Nam) dĩ tái chi, chủ lấy sự chịu đựng kiên nhẫn để thủ thắng th́
có làng Thịnh Hào.
Đối với
Khôn là Cấn (ở Đông Bắc) Cấn dĩ chỉ chi là việc nên ngưng th́ phải
ngưng lại ngay chớ tham th́ có làng Nhật Tảo, Quảng Bá.
Đoài (ở
chính Tây) dĩ nguyệt chi, lấy mềm dẻo làm cho bằng ḷng và chịu theo
th́ có chùa Nhật Trụ (bông sen trong đạo Phật)
Đối với
Đoài là Chấn (ở chính Đông) Chấn dĩ cổ chi, lo việc cổ động th́ có
chùa Thạch Cổ (cái trống bằng đá)
Kiến trúc
sư Vạn Hạnh lấy đạo lư làm nguyên tắc xây dựng kinh thành đă nh́n
bao quát được đến thế th́ ta phải công nhận công việc kiến thiết của
người là một tác phẩm vĩ đại. Tác giả cụ thể hóa Triết Lư Tam Giáo
Nho, Phật, Lăo và kiến trúc kinh thành để nhắc nhở nhà cầm quyền hăy
lấy đạo trời mà trị nước và quyết định tất cả hành động của vua quân
từ tiềm thức.”
Tổng quát
cơ cấu kiến trúc kinh thành Thăng Long đă làm nổi bật lên lối kiến
trúc tài t́nh siêu độc, một người kiến trúc sư dù tài ba cũng không
làm nổi như Vạn Hạnh, ở đó chứa đựng cả nền triết lư tổng hợp đặc
thù của Việt Nam mà Vạn Hạnh khai sinh và huân dưỡng cho hậu thế. Ta
thấy Vạn Hạnh xử dụng Dịch lư của Nho giáo như là một kỹ thuật để
phát huy và làm rơ nét, thể hiện giá trị siêu thể đặc thù của một
chủ lực, đó là ư lực của nền Minh Triết Việt Phật.
Sự có mặt
của những ngôi chùa trong đồ án kinh thành nầy, thể hiện mặt tư
tưởng, nghệ thuật, như là một biểu hiện sáng ngời của Dân Việt, dùng
ánh sáng tuyệt luân của Phật giáo hành hoạt cho mỗi tâm thức. Cái đa
dạng và siêu thể trong tư tưởng Phật giáo, nổi bật hơn hết trong
toàn bộ hệ thống tư tưởng của nhân loại. Và càng đa dạng hơn nữa khi
Vạn Hạnh xử dụng trong lănh vực chuyển hóa thực tại bằng phương thức
nhập thế, cải tổ con người, tạo dựng một xă hội huy hoàng bằng chính
cái tâm.
Nếu chúng
ta ngồi ngắm nh́n thật sự công tŕnh vĩ đại của Vạn Hạnh, không ai
trong chúng ta là không khiếp đảm cúi đầu trước một con người quá
hùng vĩ. Chỉ một Thiền Sư mà đă có được công nghiệp lẫy lừng giá trị
cho muôn đời, nhờ thông đạt cái linh năng kỳ bí trong mỗi con người,
hiển rơ lên cái tâm tương quan giữa đất trời, thâm sâu và mênh mang
như hư không lồng lộng, rực rỡ như ánh sáng phi thường chiếu thẳng
xuống vực sâu ngàn năm phong kín bởi bóng tối dày đặc. Vạn Hạnh con
người vĩ đại, tuyệt luân, cả ngàn năm trước và sau chưa một ai có
thể sánh bằng, giá trị tuyệt vời mà ngài đă để lại muôn đời tồn tại
với núi sông, như ḷng ngài đă gởi gấm từ thuở ban đầu với thủy
chung vô tận.
V.
TƯ TƯỞNG THIỀN CỦA VẠN HẠNH
Vạn Hạnh
khơi dậy chặng đường giác ngộ thực chứng qua cửa ngơ của Bách Luận
và Tam Ma Địa. Bách Luận chứa đựng toàn bộ tư tưởng thâm sâu của đại
thừa, đó là một thứ khí giới sắc bén và vô cùng tối hậu trong việc
đạp đổ những thành tŕ suy luận của trí thức, đập phá đến tận cùng
những ǵ ngăn ngại, để làm hiển lộ nên cái tánh không tṛn đầy.
Cả cuộc
đời của Vạn Hạnh ta thấy phảng phất phong thái của Thiền Sư vượt
thoát ra ngoài tử sinh, điểm nổi bật nhất là Vạn Hạnh ứng dụng thiền
trong những công cuộc hưng phục giá trị văn học và nghệ thuật cũng
như trị quốc một cách siêu việt. Ảnh hưởng nầy không những chỉ có
giá trị ở một thời điểm mà c̣n măi măi cho cả một sinh mệnh của Dân
Tộc. Dù rằng Vạn Hạnh không đăng đài thuyết pháp độ sinh, nhưng cuộc
đời của Ngài đă là một bài thuyết pháp sống động và hiệu năng thâm
sâu nhất. Chỉ có những cung cách nầy mới chuyển hoán lâu đời và chỉ
có những cung bậc tương xứng mới bắt gặp ngôn ngữ im lặng nầy. Nó có
giá trị ở những tâm linh có được sự thường nghiệm tra vấn với tự tâm
may ra mới thấu hiểu được ngữ ngôn vô hành nầy.
Tư tưởng
Thiền của Vạn Hạnh không thể dùng suy đoán của tri thức mà có thể
vén mở được, bởi lẽ ngài chưa một lần hé mở cánh cửa tâm linh, đâu
đó được bao bọc bên ngoài bằng những hoạt động tích cực trong mọi
lănh vực, mà chỉ có khả năng của một Thiền Sư trác việt mới làm nổi.
Đến với ngài là phải đến với những thành quả như là một biểu tượng
không lời mà Vạn Hạnh đă dựng nên. Thường nghiệm mănh liệt th́ cánh
cửa nầy sẽ mở tung, như bầu trời cao in đậm h́nh hài của Vạn Hạnh.
Niên hiệu
Thuận Thiên thứ 9 (1018) ngày rằm tháng 5 Sư viên tịch đi vào nơi
vĩnh cửu. Vạn Hạnh đến đi trong cuộc đời, như một thăm hỏi, dừng lại
để chuẩn bị cho một hành tŕnh phụng sự chúng sanh khác.
Sự có mặt
của Vạn Hạnh là làm sống lại sinh mệnh của dân tộc, và tiếp nối để
đạt được thành công, những hoài băo của lớp Thiền Sư trước chưa thực
hiện được. Vạn Hạnh đă tổng hợp và thắp sáng ngọn đuốc bùng tỏa ánh
lửa soi sáng cho non sông trong suốt lịch tŕnh tiến hóa. Dù rằng
Ngài đă vào nơi yên nghỉ, nhưng đâu đó vẫn c̣n những lời nhắn nhủ
chứa đựng trong hư không, âm ỉ trong ḷng người, và thấp thoáng đâu
đây bước chân của người đi theo với vận mạng muôn đời của đất nước.
Ngài đă từng đưa dân tộc thoát ra khỏi một khúc quanh vĩ đại, lẽ nào
bây giờ không một lần v́ đại nguyện ngài không nỡ dấn thân nữa sao?
Đất nước bây giờ đang ở trong hoàn cảnh bị thương, tương tợ như 1000
năm Bắc Thuộc bị đô hộ bởi người Tàu. Vận nước nghiêng ngửa, điêu
linh, dân tộc khốn cùng. Dấu chân của ngài vẫn c̣n phảng phất đâu
đây xin một lần ngài lộ diện cứu nguy dân tộc.
Bài kệ
của Vạn Hạnh để lại:
Thân như
điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc
xuân vinh thu hựu khô
Nhậm vận
thạnh suy vô bố uy
Thạnh suy
như lộ thảo đầu phô.
Dịch:
Thân
như bóng chớp chiều tà
Cỏ xuân
tươi tốt thu qua rụng rời
Sá chi
suy thạnh việc đời
Thạnh suy
như hạt sương sa đầu cành.
Nói xong,
Sư lại bảo chúng “Các người cần trụ chỗ nào?” Ta chẳng lấy chỗ trụ
mà trụ, chẳng y không trụ mà trụ.”
Qua bài kệ
trên ta thấy được cái thực chứng siêu nghiệm về cuộc đời, trong đó
mọi vật đều biến đổi, thân phận con người tựa như bóng chớp có đó
rồi không, chỉ là giả hợp vay mượn tứ đại mà h́nh thành, một giờ
khắc đi qua là cũ, sự tàn tạ đang quấy động. Những ǵ được gọi là
thạnh hay suy cũng vô nghĩa như thân phận con người vô nghĩa trước
ngưỡng cửa tử sinh. Sự hưng thạnh vốn đă ngầm chứa và ẩn bóng dáng
suy vi trong đó, bởi lẽ đó không phải là thực thể thoát ra ngoài chi
phối của thời không.
Vạn Hạnh
cho chúng ta thấy rằng phải đối diện với nó trong nụ cười hùng tráng
đừng bao giờ sợ hăi. V́ tự nó vốn là giọt sương ở đầu cành, chỉ cần
cơn gió nhẹ thoáng qua sẽ vỡ ngay như thân phận ngàn đời mà nó đă
khoác vào. Đối diện và không sợ hăi là cương lĩnh tối hậu trong việc
quật tung để khám phá bóng dáng thật của tương quan. Một Vạn Hạnh
độc nhất trong lịch sử Dân Tộc cũng từ những nguyên tố đối diện và
không sợ hăi nầy mà thành tựu được sự nghiệp. Nếu sự trực diện và vô
úy đó phù hợp với chân lư, không trở ngại cho hạnh nguyện độ sanh,
th́ chắc hẳn không màng đến sự dấn thân dù phải hy sinh tánh mạng
cho đại cuộc. Vạn Hạnh đă vượt ra và đi trên cơi sống chết như là
chặng đường đến đi không vướng gót. Ngài thể nhập thâm sâu tinh yếu
của Thiền, không trụ vào bất cứ ở đâu, trong hay ngoài, niết bàn hay
tử sinh, nơi nào cũng phớt qua, như gió thoảng mây bay. Chẳng những
Vạn Hạnh không trụ vào đâu cả mà ngay cái không đó cũng không bao
giờ ta thấy có bóng dáng của Ngài, tất cả cũng chỉ là diệu dụng linh
hoạt, hành nhưng vô hành, tâm không y trước vào huyễn tướng, không
đắm ch́m trong danh sắc, nên cuộc đời của những con người siêu dị
nầy thong dong tự tại. Nơi nào lại không phải là quốc độ của các
ngài? Không trụ vào bất cứ nơi đâu, bởi lẽ không có chỗ nào cần
thiết để trụ, ngay cả cái không đó nữa. Nếu không khéo xử dụng cửa
ngơ nầy ta lại rơi vào cái không khác bao bọc. Nó là vậy đó, sự có
mặt nào nếu đặt lại cũng đều trở nên phức tạp và nghịch lư, nhưng
phức tạp và nghịch lư cũng chưa hẳn là then chốt cột chặt ta trong
ấy. Cần nhất là vượt lên trên những mâu thuẫn không bám vào đâu.
Vạn Hạnh
thoát ly ra khỏi triều chính cũng từ những nguyên lư này, sự có mặt
của ngài trong công cuộc xây dựng dân tộc, đâu đó được thịnh vượng
ngài lại trở về với cái ban đầu mà ngài đă đến là cái không trụ. Vạn
Hạnh thanh thoát và rỗng không như một lần cuối cùng trong cuộc đời
b́nh thản với những vần kệ giá trị cho muôn đời.
Vua Lư
Nhân Tông kết luận cuộc đời của Vạn Hạnh như sau:
Vạn
Hạnh dung tam tuế
Chân
phù cổ sấm thi
Hương
quan danh cổ pháp
Trụ
tích chấn vương kỳ
Nghĩa là:
Thiền
Sư Vạn Hạnh hợp nhất được ba cơi, quá khứ, hiện tại, vị lai
Đúng với
tinh thần tiên tri thời cổ xưa
Quê hương
danh tiếng là Cổ Pháp (kinh đô Phật giáo Việt Nam tối xưa)
Thiền Sư
đem gậy Thiền Học bảo vệ cho lănh thổ quốc gia.
Lời thơ
truy tán của vua Lư Nhân Tông cũng đủ để kết luận một con người phi
thường nhất trong lịch sử Dân Tộc.
Như
Hùng
Trích từ
tác phẩm Thiền Sư và Tư Tưởng Giác Ngộ , xuất bản 1987