Ư
Nghĩa Tết Nguyên Đán
·
Giáo sư LƯU TRUNG KHẢO

Lại một lần nữa, năm hết, Tết đến,
Xuân về. Tùy theo địa vị, tuổi tác và hoàn cảnh riêng, mỗi
người có cái nh́n về Tết khác nhau. Người lạc quan th́ "co
cẳng đạp thằng bần ra cửa, giơ tay bồng ông phúc vào nhà."
Người bi quan th́ lo rằng "mỗi năm một tuổi như đuổi Xuân
đi" bối rối về những ngân khoảng phải chi phí "Tết đến sau
lưng, ông vải th́ mừng, con cháu th́ lo," và e ngại "Thiên
hạ xác rồi c̣n đốt pháo, thế t́nh bạc lắm vẫn bôi vôi." Cụ
Nguyễn Khuyến, trong một bài thơ thất ngôn bát cú vần trắc
đă tả cảnh Tết nơi quê cũ bằng những lời chân chất:
Năm ngoái, năm kia đói miệng chết
Năm nay phong lưu đă ra phết
Trong nhà nhộn nhịp gói bánh chưng
Ngoài cửa bi bô rủ chung thịt
Thóc mùa thóc chim hăy c̣n nhiều
Tiền nợ tiền công trả chưa hết
Ta ước ǵ được măi như thế
Hễ Tết rồi th́ lại Tết.
Cụ Yên Đỗ nh́n cảnh tượng vui của
cảnh dân làng sửa soạn đón Đông quân mà ao ước thế thôi. Dù
có ước mong hay không chờ đón, Tết vẫn đến theo một chu kỳ
nhất định, không nhanh, không chậm, thản nhiên, đến nỗi một
thư sinh phải ngạc nhiên kêu lên:
Không dưng Xuân đến chi nhà tớ,
Có lẽ Trời nào đóng cửa ai
Trong phạm vi bài này, người viết sẽ
tŕnh bày ư nghĩa Tết Nguyên Đán về hai mặt triết lư và nhân
văn hầu như từ đó có thể rút ra được những bài học áp dụng
trong đời sống hàng ngày.
Ư NGHĨA
TRIẾT LƯ
Xuân đến rồi Xuân lại đi. Mỗi độ
Xuân về Tết đến, Xuân lại mang cho ḿnh một cái tên mới.
Không biết trước khi hai họ Hy, Ḥa
làm lịch, mỗi năm đă có một tên chưa, nhưng từ khi có lịch
phân chia ra tứ thời, bát tiết th́ mỗi năm mới có một tên
riêng. Xuân có 60 tên khác nhau, theo đúng một chu kỳ của
ṿng hoa-giáp. Lấy chữ đầu của thiên-can và địa-chi làm điểm
khởi hành, ta có thứ tự các năm sau:
Thiên-can (10)
Giáp
Ất
Bính
Đinh
Mậu
Kỷ
Canh
Tân
Nhâm
Quư |
Địa-chi (12)
Tư
Sửu
Dần
Măo
Th́n
Tỵ
Ngọ
Mùi
Thân
Dậu
Tuất
Hợi |
Có 10 thiên-can và 12 địa-chi. Thí
dụ năm 1990 là năm Canh-Ngọ th́ năm 1991 sẽ là Tân-Mùi, năm
1994 là Giáp Tuất, năm 1995 là Ất Hợi, năm 1996 là Bính-Tư,
1997 là Đinh-Sửu, năm 2000 là Canh-Th́n... và cứ như thế
tiếp tục cho đủ 60 năm (60 năm là bội số chung nhỏ nhất của
10 và 12). Mỗi năm người ta lại gán cho một con vật tượng
trưng như năm Tư là con chuột, năm Sửu là năm con trâu, năm
Dần là năm con cọp, năm Măo là năm con mèo (người Tàu dùng
con thỏ để tượng trưng cho năm Măo), năm Th́n là năm con
rồng... Người ta lại thường căn cứ vào cá tính của mỗi con
vật mà suy đoán t́nh h́nh quốc tế và quốc nội cũng như cuộc
đời, sự nghiệp và tính t́nh của mỗi người sinh nhằm vào năm
đó. Tuy nhiên thuyết thập nhị cầm tượng này không đáng tin,
nói chơi cho vui th́ được, nhưng nếu căn cứ vào đó mà tin
tưởng th́ thật là một sự mê tín. Năm Ất Dậu là con gà — hiền
lành đến như loài gà là nhất vậy mà sao vào năm đó (1885)
kinh thành Huế thất thủ, vua Hàm Nghi phải xuất bôn để cho
thực dân Pháp cướp nước ta. Cũng trong năm Ất Dậu (1945) hai
triệu đồng bào ruột thịt của chúng ta bị chết đói bởi thực
dân Pháp và phát-xít Nhật đă tịch thu hết gạo để cung ứng
cho nhu cầu chiến tranh. Và cũng năm 1945 (năm con gà)
Việt-Minh cướp chính quyền mở đầu cho 30 năm chiến tranh
điêu linh, khói lửa, tang tóc để rồi kết thúc bằng sự xô đẩy
gần 60 triệu đồng bào sống xuống cái khuôn xă-hội-chủ-nghĩa
nghèo đói, ngu dốt, lạc hậu, lật lọng và ngoan cố. Hai mươi
tám năm trước (1968) là năm Mậu Thân (năm con khỉ). Loài khỉ
có tinh thần tập thể khá cao, vậy mà sao năm đó lại xảy ra
biến cố Mậu Thân để cho toàn thể miền Nam Việt Nam ch́m
trong khói lửa và riêng ở Huế hàng chục ngàn người bị thủ
tiêu và vùi dập trong những tấm mồ tập thể. Năm 1987 vừa qua
là năm Đinh Măo tức là năm con mèo. Mèo vốn dĩ hiền lành chỉ
lo bắt chuột giúp người và khi chết đi, theo lời của Phan
Văn Trị, mèo c̣n để lại bộ lông giúp ích cho những thư sinh
nghèo túng:
Trăm tuổi hồn đầu về chín suối
Nhúm lông để lại giúp tṛ nghèo
Bút lông xưa làm bằng lông thỏ hay
lông mèo. Bút lông thỏ thường đắt tiền nên học tṛ nghèo
thường mua bút lông mèo. Một con vật hữu ích và hiền lành
như vậy mà tượng trưng cho một năm th́ tốt quá rồi c̣n ǵ
nữa! Aáy thế mà biến cố Aát Măo hai mươi mốt năm trước
(30/4/75) đă làm cho miền Nam Việt Nam sụp đổ, cả triệu
người phải bỏ nước ra đi sống kiếp lưu vong nơi đất khách
quê người. Thành ra thuyết thập nhị cầm tượng này chỉ để nói
chơi cho vui thôi!
Dù tin hay không tin, dù ước mong
hay không ước mong, dù chờ đón hay không chờ đón, cứ đủ ngày
giờ, sau 12 tháng là Tết đến, Xuân về. Một đời người lấy 100
năm làm hẹn (nhân sinh bách tuế vi kỳ) thưởng thức nhiều lắm
là một trăm cái Tết. Cụ Nguyễn Khuyến đă có một câu đối dán
Tết sau đây diễn tả cái ư tưởng đó:
Có là bao ba vạn sáu ngàn ngày
được trăm bận Tết
Ước ǵ nhỉ, một năm mười hai tháng cả bốn mùa Xuân.
Sự sắp đổi của thời gian, sự vận
hành của vũ trụ, là do luật tuần hoàn chi phối. Trên
đời này, không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời. Sông có
khúc, người có lúc: Khổ tận rồi th́ phải cam lai. Cùng khổ
hanh thông, thịnh suy bĩ thái, thành trụ ngoại không, danh
hư tiêu trưởng, không phải chỉ là những thành ngữ quen thuộc
mà là cái triết lư sống đă ăn sâu vào tâm hồn của người Việt
Nam. Thấm nhuần triết lư sống đó, cụ phó bảng Bùi Kỷ đă vịnh
Xuân Kỷ Măo (1939) bằng bài thơ chữ Hán sau:
Doanh hư điệu lư thủy nhi cung
Bất nhị thời cùng, thời bất thông
Địa chuyển thiên hoàn nguyên hữu lư
Dương tranh âm đấu khởi vô công
Mạc hiềm phong cũ thôi tàn tuế
Chính vị sơn hà hoán tiếu dung
Lăo tự hóa quân hoàn bất lăo
Niên niên xuân sắc điểm trang hồng
Nhưng mà vượt lên trên mà xét lại
th́ sự thịnh suy bĩ thái, doanh hư tiêu trưởng, thành trụ
hoại không chẳng qua chỉ là những bề mặt khác nhau của một
nguyên lư bất biến: sự tồn tại thường trụ của vũ trụ vô
cùng. Vật hữu bản mặt, sự hữu chung thủy. Vật nào cũng có
gốc ngọn, việc ǵ cũng có đầu cuối. Nếu ta ở nơi biến đổi mà
xét, th́ vạn vật cũng biến đổi. Nếu ta ở nơi bất biến mà
xét, th́ vạn vật cũng bất biến:
Có th́ tự mảy may
Không th́ cả thế gian này cũng không
Xem như bóng nguyệt ḍng sông
Ai hay không có, có không thế nào
Ṃ trăng đáy nước, bẻ hoa trong
gương, người đời lấy cái có làm không, lấy cái không làm có,
không biết chân đấy mà cũng là giả đấy, không biết làm sao
cho thâm tâm thanh sạch để có thể biết được tận cùng của cái
biết. Thế nên Tô Đông-pha trong bài phú "Tiền Xích Bích" mới
viết rằng:
"Chỉ có luồn gió mát trên sông,
cùng là vùng trăng sáng bên trong núi, tai ta nghe nên
tiếng, mắt ta trông nên vẻ, lấy không ai cấm, dùng không
bao giờ hết, đó là kho vô tận của tạo hóa là cái thú chung
của bác với của tôi."
Nói cho cùng th́ con người với vũ
trụ đều có cùng một bản thể. Từ thái cực mới sinh ra lưỡng
nghi, từ lưỡng nghi mới sinh ra tứ tượng, từ tứ tượng mới
sinh ra bát quái, rồi từ đó mới có 64 hào mà biến hóa vô
cùng. Tam tài có thiên địa nhân (trời, đất, người). Con
người là một trong tam tài đă do từ cùng một thể mà ra th́
tất có thể tương ứng tương cảm với nhau được. V́ thiên nhân
tương dữ cho nên những biến đôỉ của trời đất cũng ảnh hưởng
tới con người. Những năm có nhiều thiên tai (băo lụt, hạn
hán, băng tuyết, động đất...) thường có nhiều biến động về
chính trị. Khi thay đổi về thời tiết, cơ thể con người cũng
bị ảnh hưởng theo. Thi sĩ Hàn Mặc Tử mỗi độ trăng tṛn lại
bị khốn khổ v́ nỗi đau đớn của cơ thể do một trong chứng nan
y gây ra. Các cụ già mỗi khi trái nắng giở giời th́ lại thấy
thân thể đau nhức (nhất là những người bị bịnh phong thấp)
làm như các cụ là một thứ phong vũ kế vậy. Cho nên người xưa
mới chủ trương rằng con người phải sống thuận với thiên
nhiên. Thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong. Thuận với
trời th́ c̣n, nghịch với trời th́ mất . Thâm tâm do vậy
không thể trái ngược với thiên lư. Người xưa nói rằng:
Cũng nhân tâm ấy há thiên lư nào, cũng là do cái lẽ đó
vậy. Con người ở các xứ Tây phương quá tin tưởng vào khoa
học thực nghiệm đă phân tích, t́m hiểu, thử nghiệm sáng chế
ra biết bao nhiêu điều mới lạ mà làm sao cái bệnh AIDS cho
đến giờ này vẫn chưa có thuốc chữa. Mà nguyên nhân chứng
bệnh này bởi đâu mà ra, nếu không phải là do những người
hành động trái với tự nhiên mà có. Già yếu, bệnh tật, mệnh
một là điều người Tây phương lấy làm lo lắng sợ hăi trong
khi người Việt Nam chúng ta thản nhiên chấp nhận và coi đó
như một sự tự nhiên. Các vị tôn trưởng gần đất xa trời
thường được con cháu mua một cỗ áo tốt để sẵn trong nhà
pḥng khi hữu sự th́ có sẵn sàng trong việc tống táng. Chẳng
có ai coi quan tài là xui xẻo hay ghê sợ cả.
Cho nên trong cái ư nghĩa triết lư
về Tết ở Việt Nam, ta có thể rút ra được hai bài học:
- Thuận theo thiên nhiên mà sinh
hoạt theo tự nhiên v́ thiên lư như thế nào th́ nhân tâm
như thế ấy.
- Tin tưởng vào luật tuần hoàn của
tạo hóa. Sự khó khăn nghèo khó hiện tại chỉ có tính cách
nhất thời. Mùa Đông lạnh lẽo khắc nghiệt, u ám rồi sẽ qua
đi để nhường chỗ cho một mùa Xuân tươi sáng.
Ư NGHĨA NHÂN VĂN
Cũng bởi mùa Xuân là mùa của hi vọng
của sự đổi mới, cho nên ư nghĩa về nhân văn của Tết cũng
đáng để chúng ta suy ngẫm:
1. Sự giao cảm giữa trời đất
và con người cùng thần linh. Mỗi năm vào dịp Tết đến, các
vua chúa xưa mới làm lễ tế giao. Tế giao là lễ tế trời đất
(Thiên-hoàng, Địa-kỳ). Trước Tết, khâm thiên giám chọn ngày
tốt trong những ngày có số đơn (mồng) để tŕnh vua. Vua định
ngày và đích thân làm chủ tế. Theo tài liệu viết tay của
thầy giảng Bénito Thiện c̣n tàng trữ trong thư viện Toa ø
Thánh Vatican th́ trong lễ tế giao, vua chúa cầu xin trời
đất cho thiên hạ được mùa và bá tánh được an lành. Vua chúa
th́ tế trời đất, các quan tỉnh, phủ, huyện th́ tế thần linh
địa phương, chức dịch trong làng th́ Thành Hoàng, gia tướng
th́ lễ tổ tiên. Sau này đến đời nhà Nguyễn mới không tế giao
những ngày đầu năm như các triều đại cũ. Ông vua cuối cùng
của nhà Nguyễn trong lần tế giao cuối cùng lại tổ chức ở Cao
nguyên chứ không phải ở kinh đô và dùng một đàn voi sống bao
quanh tế đàn. Mặt khác, nếu để ư nhận xét về cấp bậc của
người chủ tế, ta thấy có sự phân chia về thẩm quyền. Vua
chúa th́ cúng tế trời đất, các quan th́ cúng tế thần linh
trong địa phương địa hạt, lư trưởng hay tiên chỉ th́ cúng tế
Thành hoàng bản tổ và gia trưởng th́ cúng tổ tiên ông bà.
Trong làng đêm 30 Tết, các chức sắc trong Hội đồng Kỳ-mục
cùng dân làng tụ tập tại đ́nh làng cầu xin Thành hoàng bản
thổ phù hộ cho dân làng được b́nh an, mùa màng được tốt, hoa
lợi thâu hoạch được nhiều, súc vật được khỏe mạnh và sinh
sản được nhiều. Gia trưởng th́ cầu tổ tiên, ông bà, thổ
thần, thổ địa phù hộ cho con cháu được khỏe mạnh, gia đạo đ
;ược b́nh yên, mùa màng được tốt đẹp.
2. Không có biên giới ngăn
cách giữa người sống và người chết. Theo giáo sĩ Marini, một
giáo sĩ người Ư sống ở Đàng Ngoài vào giữa thế kỷ 17 th́ vào
lúc giao thừa mọi người phải mở rộng nhà cửa để đón tổ tiên
ông bà về ăn Tết với con cháu. Giường chiếu phải dọn dẹp
sạch sẽ để tổ tiên, ông bà nghỉ ngơi. Ngoài hiên nhà phải
đặt một chậu nước sạch, một đôi guốc, hai cây mía. Oâng bà
tổ tiên về ăn Tết với con cháu có nước sẵn để rửa chân, có
guốc mới để đi và có mía sẵn làm gậy chống. Chiều 30 hay tối
30 làm lễ rước ông bà về ăn Tết với con cháu, sang mồng 1
cho đến hết ngày mồng 3, mọi người trong nhà thắp hương trên
bàn thờ tổ làm lễ cúng gia tiên, mời tổ tiên về hướng cỗ bàn
cùng với con cháu đồng thời cầu xin tổ tiên phù hộ cho con
cháu được mạnh khỏe và làm ăn được tấn tới. Sau đó, con cháu
chúc tuổi ông bà cha mẹ, đầy tớ chúc chủ nhà và ông bà cha
mẹ mừng tuổi cho con cháu và gia nhân. Có lẽ v́ vậy mà ở
Việt Nam chỉ có mừng tuổi ngày Tết, làm lễ mừng thọ vào
những năm 50, 55, 60, 70, 80... tuổi mà thôi. Năm nào vào
dịp Tết đến cũng chúc tuổi người lớn, người già, mừng tuổi
trẻ con th́ c̣n cần ǵ đến sinh nhật như kiểu Tây phương. Tổ
chức sinh nhật kiểu Tây phương có tính cách cá nhân c̣n chúc
tuổi mừng tuổi kiểu Việt Nam có tính cách gia đ́nh và toàn
thể hơn. Xă hội Tây phương là một xă hội đấu tranh cật lực,
cúc cung lao động, cần dùng đến sức mạnh của bắp thịt nhiều,
cho nên những người ngoài 50 tuổi đến ngày sinh nhật thường
không lấy ǵ làm vui v́ cho rằng ḿnh đă leo đến đỉnh đồi và
bây giờ chỉ c̣n là thời kỳ tuột dốc. Trái lại, phong tục
Việt Nam không như thế. Trong làng xă, ngoài chức vị tiên
chỉ do những vị khoa bảng hay vị quan to hoặc chức cao cấp
nhất đảm trách, c̣n có vị tiên chỉ lăo tức là lăo-ông có
tuổi thọ cao nhất làng. Nhân tước đáng trọng nhưng thiên
tước tức là tuổi thọ do trời ban cho con người c̣n đáng
trọng hơn nhiều. Xă hội Việt Nam không coi con người là một
bộ phận sản xuất, không nh́n con người như một phương tiện
đầu tư mà luôn luôn tôn trọng con người một cách toàn diện.
Tinh thần nhân bản của văn hóa Việt Nam chính là chỗ đó.
Cũng trong ư niệm "thờ người lúc
chết cũng như khi c̣n sống, lúc đă mất cũng như khi c̣n tại
thế," ta c̣n tục tảo mộ chiều 30 Tết. Con cháu thường phát
cỏ, đắp nấm, quét vôi mộ phần ông bà tổ tiên, cắm một vài
nén hương, bày một vài đồ cúng trước phần một. Nếu người
sống lau chùi dọn dẹp nhà cửa để ăn Tết th́ tại sao không
săn sóc phần mộ tức là nhà cửa của người quá văng trong dịp
Tết đến Xuân về?
3. Tinh thần tống cựu nghinh
tấn. Tống cựu là tiễn đưa cái cũ, nghinh tân là tiếp đón cái
mới. Tiễn đưa cái cũ không phải là khinh thường, coi khinh
cái cũ. Cái cũ có giá trị của nó. Không có cái cũ th́ làm
sao có cái mới. Tuy nhiên muốn tiếp nhận cái mới phải có sự
chuẩn bị. Ngày 30 Tết Tây Định Vương Định Tạc cùng các quan
quân theo hầu ra ngoài vương phủ để đi tắm sông hoặc một căn
nhà gần đấy hầu thanh tẩy cuộc sống dĩ văng, đón nhận đời
sống mới trong năm tới. Không kể tới cuộc thanh tẩy cơ thể,
nhà cửa cũng phải được quét dọn sạch sẽ và trang hoàng cho
đẹp. Với cây nêu, với những h́nh cung tên, cày bừa bằng vôi
bột vẽ trước sân, với những câu đối mừng Xuân, với những bức
tranh Tết, với những mâm quả tử, với những đồ tam sự, ngũ sự
bóng loáng với hương đèn nghi ngút, với nghi phục mới tinh,
mọi người c̣n chuẩn bị tinh thần cho ḿnh để tiếp nhận một
năm mới, với những luồng sinh khí và những nguồn hi vọng
mới. Nguyễn Công Trứ lúc c̣n là một bạch diện thư sinh cùng
khổ đến nỗi "ngày ba bữa vỗ bụng đau b́nh bịch, người quân
tử ăn chẳng cầu no, đêm năm canh an giấc ngáy kho kho, đời
thái b́nh của thường bỏ ngỏ" mỗi độ Xuân về Tết đến, vẫn
không quên thắp sáng ngọn lửa hi vọng nơi tâm tưởng:
Tết nhất anh ni ai nói nghèo
Nghèo mà lịch sự đố ai theo
Bánh chưng chất chặt chừng ba chiếc
Rượu thuốc ngâm dầy độ nửa siêu
Trừ tịch kêu vang ba tiếng pháo
Nguyên tiêu cao ngất một gang nêu
Ai vui Xuân anh cũng vui Xuân với
Chung đỉnh ơn vua ngày tháng nhiều.
Cái tinh thần lạc quan, tin tưởng và
hi vọng đó rất phù hợp với tôn chỉ quân tử ưu đạo bất ưu
bần, bất oan thiên, bất ưu nhân (quân tử lo đạo chứ không lo
nghèo, chẳng oán trời mà cũng chẳng trách người) sau này đă
được tưởng thưởng xứng đáng.
Cũng trong tinh thần tống cựu nghinh
tân đó phải kể tới tục phong ấn. Cuối năm, khoảng 25, 26
tháng Chạp, ấn dấu của vua chúa, quan quyền đều được lau
chùi sạch sẽ cất vào hộp v́ sẽ không dùng tới trong những
ngày cuối năm và đầu năm. Khí giới của quân lính cũng được
lau bóng và gác lên giá. Dùng binh khí trong những ngày này
là sự bất tường. Qua năm mới, chọn được ngày tốt mới lấy ấn,
dấu hiệu ra làm lễ khai bút, và khai ấn.
Tục đ̣i nợ cuối năm cũng nằm trong
tinh thần trên. Ai có vay mượn công nợ ǵ phải lo thanh toán
ngay trong năm cũ. Từ những đồ dùng nhỏ nhất mượn của nhau
cho đến tư trang, tiền bạc, nếu đủ điều kiện phải lo trang
trải cho thanh thỏa. Nếu không được sự đồng ư của chủ nợ cho
khất lại. Nhược bằng không như thế, con nợ mà bị chủ nợ thúc
dục, đ̣i hỏi vào những ngày đầu năm là sẽ bị không may, sẽ
bị "dông" suốt năm.
Tục xông đất cũng vậy. Sáng mồng 1,
chủ nhà thường hẹn trước một người khách hiền lành đứng đắn,
lanh lợi vui vẻ đến sớm để xông đất. Người xông đất là người
khách thứ nhất trong năm. Phải có người xông đất rồi, th́
trong nhà mới mở cổng ngơ để đón tiếp mọi người và để cho
người trong nhà ra đường. Người ta tin rằng, đức hạnh của
người xông đất sẽ xua đuổi những cái xấu cũ ra khỏi nhà và
đồng thời mang sự may mắn, hạnh phúc và thịnh vượng mới cho
gia chủ.
4. Biểu lộ t́nh hữu nghị,
thân ái và b́nh đẳng. Trong 3 ngày Tết, người ta đi chúc
tuổi nhau. Thường th́ người dưới đi chúc tuổi người trên
trước. Quan quyền đi chúc tuổi vua chúa trong buổi chầu sáng
mồng 1. Quân lính đi chúc Tết Cai Đội và người chỉ huy. Quan
nhỏ chúc quan lớn. Con cháu chúc cha mẹ ông bà chú bác. Học
tṛ chúc Tết thầy. Quan nhỏ thường tự ḿnh hoặc cử người
thay ḿnh đi chúc Tết cấp trên. Đồ lễ thường là thực phẩm:
rượu, trà, gạo, cau, đường, trái cây, bánh, mức, heo, gà.
Quân lính khi họp nhau để đến chúc Tết viên quan chỉ huy
thường theo một nghi thức trang trọng: đi đầu là Cai Đội chỉ
huy từ 2 đến 6 đội (mỗi đội khoảng 30 đến 60 người lính) rồi
đến lính bưng một hộp gạo và khiêng một con heo mới giết đặt
trên bàn để trước mặt quan. Viên quan ngồi giữa bàn thật oai
nghiêm. Quân lính lạy quan sát đất 3 lần. Quan nhận đồ Tết
rồi sai quân hầu cất đi, đoạn ban quà mừng tuổi cho lính. Số
quà mừng tuổi cho lính thường tương đương với giá trị của
quà chúc Tết quan. Các quan không phải gửi đồ đến chúc vua
chúa nhưng quan nhỏ phải gửi quà tới Tết quan lớn. Do đó nhà
quan lớn tràn ngập đồ Tết. Các quan này thường đem đồ biếu
này chia xẻ với cấp dưới, họ hàng, bạn bè. Quà mừng tuổi của
vua chúa cho các quan thường là một bộ phẩm-phục đặt trong
một cái quả (hộp). Vua chúa sai người bưng quà tới ban đồ lễ
cho các quan. Đi theo có lính hầu che lọng cho hộp phẩm-phục
để tỏ sự cung kính món quà vua chúa ban cho.
Trong dân gian th́ con cháu chúc
tuổi ông bà, cha mẹ, chú bác, cô d́, anh chị, con rể chúc
Tết gia đ́nh bên vợ (thường vào ngày mồng 2), học tṛ chúc
Tết thầy (thường vào ngày mồng 3), bởi thế có câu ca:
Mồng một chúc Tết mẹ cha
Mồng hai tết vợ, mồng ba tết thầy.
Người ta mừng nhau gia đạo b́nh an,
thăng quan tiến chức, nhất bản vạn lợi, đầu năm sinh trai
cuối năm sinh gái, tăng phúc, tăng thọ, vân vân... Vào nhà
ai cũng làm lễ gia tiên, chúc mừng nhộn nhịp và được mời ăn.
Không ai được phép từ chối, v́ từ chối như vậy là coi thường
gia chủ, là bất lịch sự. Dù có no cách mấy đi nữa cũng phải
nhấm nháp chút rượu hoặc trà hoặc ăn một vài miếng bánh lấy
may. Trẻ con được tiền mừng tuổi nên vui lắm. Ai ai cũng
nói, cũng chúc những điều tốt lành nhất. Những điều hiềm
khích, đố kỵ được dẹp qua một bên. Tất cả đều được chuẩn bị
tiếp nhận một năm mới đầy thân ái và hữu nghị.
Như vậy ư nghĩa nhân văn của Tết
Nguyên Đán đă mang lại cho chúng ta 3 bài học sau đây:
— Không có biên giới ngăn cách giữa
người sống và người chết, giữa thần linh với con người,
trong những ngày mà Trời Đất và Người ḥa hợp với nhau.
— Tết đến là dịp của mọi người nhận
biết vị trí đích thực của ḿnh trong xă hội hầu có thể sống
ḥa b́nh thân ái với mọi người trong trật tự và kỷ cương.
— Tết đến là dịp của mọi người dẹp
bỏ những cái xấu, cái dở trong năm cũ hầu mưu cầu hoạch định
một chương tŕnh mới, với niềm lạc quan, tin tưởng và hi
vọng trong năm mới.
KẾT LUẬN
Vào tiền bán thế kỷ này, một số nhà
văn báo chịu ảnh hưởng của Tây học đă kịch liệt đả kích
những cổ tục của chúng ta. Đành rằng có những cổ tục là hủ
tục cần phải bỏ, nhưng trong những cổ tục đó không thiếu ǵ
những mỹ tục. Nh́n qua lăng kính khoa học của Tây phương, họ
chỉ thấy những cái dở, cái rởm, cái lạc hậu mà không chịu
suy nghĩ học hỏi sâu xa để t́m hiểu những khía cạnh của
những thuần phong mỹ tục của một dân tộc đă có hàng ngàn năm
văn hiến. Họ đă đi tiên phong trong việc phá vỡ những giềng
mối kỷ cương, căn bản kiến trúc của một gia đ́nh xă hội ta,
mở đầu cho sự thành công của những người đi theo chủ nghĩa
duy vật hiện nay ở quê nhà. Những người Việt ở hải ngoại, v́
quốc nạn phải bỏ nước ra đi vẫn mang theo trong mớ hành
trang một trời quê hương. Cái mà người ta gọi là văn hóa dân
tộc ở quê nhà đă bị biến tính và không c̣n là văn hóa dân
tộc nữa. Ở hải ngoại, chúng ta bằng mọi cách phải bảo tồn sự
phát triển và nền văn hóa dân tộc đích thực, bất chấp những
sự tấn công và lấn át dưới mọi h́nh thức xuất phát từ quê
nhà hay quê người |