th́ mới biết nó là cái ǵ.
Ba tầng tâm thức có khi được gọi chung thành
một là tâm-ư-thức. Như trong kinh
Trung A-hàm
(kinh số 17), Phật nói:
“Người mà tâm-ư-thức luôn luôn được huân
tập bởi tín, tinh tấn, đa văn, bố thí, trí
tuệ; người ấy do nhân duyên này tự nhiên
thác sinh lên cơi trên, sinh vào thiện xứ…”;
hoặc Tạp A-hàm
(kinh số 289):
“Tâm-ư-thức, trong một ngày đêm, từng thời
khắc, thoáng chốc sinh, thoáng chốc diệt,
biến đổi không ngừng…”;
hoặc như
kinh Hoa Nghiêm
(Phật-đà-bạt-đà-la, quyển 23):
“Các ḍng nước dục, hữu, kiến, vô minh, tiếp
nối chảy liên tục, làm nảy sinh hạt giống
của tâm-ư-thức trên mảnh đất ba cơi…”
Luận Câu-xá
(quyển 4) nói: “Nó
tập khởi nên được gọi là tâm. Nó tư duy trù
lượng nên được gọi là ư. Nó phân biệt nhận
thức nên được gọi là thức… Tâm, ư và thức,
ba tên gọi cùng chỉ một nội hàm. Nghĩa tuy
khác nhau nhưng thể là một.”
Trong đó, về tầng đáy, Thượng tọa bộ Nam
phương gọi là thức
Hữu phần hay
Hữu chi
(bhavaṅga);
các nhà Du-già hành hay Duy thức luận, gọi
nó là thức A-lại-da
(ālaya) hay thức
thứ tám. Không thể nhận thức
được tự thể của nó đă đành, cho đến các h́nh
thái hoạt động của nó cũng không thể dễ dàng
nhận biết. Duy chỉ có thể biết rằng nó tồn
tại là do quan sát sự tồn tại của thiên
nhiên, của vũ trụ, của thân và tâm. Khi nh́n
cây, lá cây, mọi người đều biết rằng lá cây
đó là do nhiều phân tử hợp thành, nhưng cái
ǵ kết các phân tử đó lại với nhau được?
Phải có một lực nào đó kết dính lại. Vậy, lá
cây đó tồn tại và lay động như một toàn thể
do bởi một năng lực nào đó. Lực đó, trong
Phật giáo nói chung, được hiểu là tâm, tức
kho chứa tích lũy nhiều đời nhiều kiếp của
vô số hạt giống năng lực của nghiệp, để rồi
đến khi chín muồi, nghĩa là sau một quá
tŕnh đă được xử lư, các hạt giống năng lực
hay năng lượng ấy biến chuyển, và biến thái
thành thân, tâm và thế giới; chúng được duy
tŕ do lực tương tác, tức hỗ tương tác dụng
theo quy luật duyên khởi.
Chính qua hoạt động của lá cây và sự tồn tại
của lá cây mà chúng ta biết rằng có một cái
tâm. Đây là cái nghĩa mà chúng ta đă nói
nhiều lần; chính cái nghĩa đó gọi là duy
tâm, là do tâm. Tâm như vậy gọi là tâm biến,
nhưng nghĩa này chưa tận cùng.
Thân thể chúng ta, trong điều kiện nào đó
th́ những cái như ngón tay, sợi tóc… gắn kết
lại với nhau, nhưng tới một lúc nào đó th́
nó ră ra, cho dù có lấy keo dán nó cũng
không dính lại, như khi chết chẳng hạn. Vậy
khi nào ră ra và sau khi ră ra th́ nó trở
thành đất, thành bụi… vẫn c̣n đó nhưng qua
trạng thái khác.
Tóm lại, có mấy vấn đề, chúng ta đi từ từ:
tâm là sự tích tập, tích lũy kinh nghiệm. Mà
kinh nghiệm là hoạt động của nghiệp, nghiệp
tạo ra thế gian, nhưng cái tâm th́ chúng ta
không thể hiểu được, không thể biết được, v́
không thấy được mà phải nh́n qua những hiệu
quả của nó, tức là những công dụng, tác dụng
mà nó gây ra trên mọi thứ tồn tại trong đời.
Tác dụng của nó là duy tŕ sự tồn tại, duy
tŕ mối quan hệ của các sự vật, tồn tại của
các pháp.
Muốn biết rơ tâm và tại sao gọi nó là tâm
th́ phải qua một tầng nữa, tức là tại sao
gọi là nó kho chứa của nghiệp?
Muốn biết rơ tâm và tại sao gọi nó là tâm
th́ phải qua một tầng nữa, tức là tại sao
gọi nó là kho chứa của nghiệp? Nên biết, đó
là tầng thứ hai, gọi tên là ư. Tâm, có nghĩa
là là tích tập; c̣n ư th́ có nghĩa là ǵ?
Nói vắn tắt, ư là cái hoạt động tư lương. Tư
lương là ǵ? Những cái mà ta gọi là tư duy,
tư tưởng… những hoạt động của tâm lư, nói
chung là suy lường, đắn đo ước lượng, phán
đoán, v.v., gọi là tư lương; đây là nói theo
nghĩa rộng nên hơi mơ hồ, không xác định.
Thu gọn lại, tư lương là hoạt động của một
cái tôi.
Chúng ta biết ḿnh đang tồn tại, đang hiện
hữu, v́ biết rằng có một cái tôi: Tôi đi,
tôi đứng, tôi ngồi… Từ cái tâm tích lũy này,
rơ ràng có thêm một tầng nữa, khiến nó lộ
lên mặt biểu hiện một chút, đó là cái (chủ
thể) chấp ngă. Trong nhiều tín ngưỡng tôn
giáo, cái ngă hay tự ngă này được hiểu là
linh hồn nằm trong thân, hoặc nó lớn bằng
thân, hoặc nhỏ như hạt cát. Lớn bằng cái
thân cho nên nếu vừa bứt một sợi tóc, vừa
chích kim dưới bàn chân th́ cả hai nơi đều
cảm giác đau cùng một lúc. Có cảm giác đó,
là do có linh hồn. Khi hồn ĺa khỏi xác, xác
chết nằm trơ không hay biết ǵ. Hoặc là linh
hồn giống như hạt cát, như một nguyên tử
trong thân có vận tốc thật nhanh. Cả hai nơi
lại cùng đau một lúc, đó là do linh hồn vận
chuyển rất nhanh. Trong Phật giáo không có
linh hồn như vậy được thừa nhận.
Bây giờ sang tầng thứ ba để sẽ hiểu rơ hơn
về hoạt động của thức. Nhưng tầng thứ ba này
nếu không có hai tầng đầu th́ cũng không thể
hiểu nó được, v́ tất cả đều phải quan hệ với
nhau. Như do quan hệ với toàn thể xe mà cái
khoanh tṛn kia được gọi là bánh xe.
Gọi nó là thức, v́ nó nhận biết đối tượng.
Điều này ta có thể kinh nghiệm và chứng minh
được bằng hoạt động của sáu thức: mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân và ư. Đây là tầng ngoài cùng
của cơ cấu tâm thức, gọi là thức thường
nghiệm tức là những hoạt động nhận thức mà
ta có thể kinh nghiệm được bằng giác quan
thường nhật. Tầng này được gọi chung là
thức. Tầng thứ hai trung gian, như đă biết,
gọi là ư, hay là thức thứ bảy. Nó cũng được
gọi là thức, v́ nhận thức về sự tồn tại của
một tự ngă, một cái tôi. Tầng trong cùng,
gọi là thức thứ tám, mà nhận thức của nó là
duy tŕ mối quan hệ tồn tại của thân, tâm và
thế giới. Hai tầng sau này thuộc về thức
siêu nghiệm, tức không thể nhận biết được
bằng kinh nghiệm giác quan thường nhật.
Chính yếu thường chỉ là dựa trên chính hoạt
động của sáu thức tầng ngoài để khám phá ra
hai tầng kia.
Đứng trước một cái ǵ đó mà biết rằng, cái
trước mắt ḿnh là một cái cây hay một đóa
hoa, nghĩa là đóa hoa xuất hiện trong con
mắt rồi cái biết khởi lên, cái biết qua con
mắt th́ cái biết này gọi là nhăn thức, c̣n
nghe những âm thanh trầm bỗng đô, rê, mi,
fa… mà biết âm thanh này cao thấp, hay dỡ
th́ cái biết qua lỗ tai này gọi là nhĩ thức.
C̣n cái biết trong cùng như đọc sách mà biết
rằng đây là Nguyễn Huệ đánh Nam dẹp Bắc, đây
là vua Lê Chiêu Thống chạy trốn sang Tàu,
th́ đó cũng là cái biết. Cái biết này dựa
trên ấn tượng quá khứ; ấn tượng này do từ
sách vở gợi lên hay do kinh nghiệm mà ḿnh
đă từng trải. Cái biết này không do mắt thấy
tai nghe mà là do sự ráp nối của thức bên
trong, gọi là ư thức. Tức là qua cái biết
của con mắt, của lỗ tai, để lại; tất cả
những cái biết này ghi dấu trong tâm, được
tích lũy lại, rồi dựa trên đó mà ráp lại,
th́ cái biết đó gọi là cái biết của ư.
Thành ra, cái biết của ư thức phải dựa trên
nền tảng, là kinh nghiệm tích lũy; tức dựa
trên cái tâm, là thức thứ tám. Nhưng nó cũng
phải y trên một cơ quan ráp nối, có thể gọi
là trung tâm xử lư dữ liệu, để ráp nối cái
này với cái kia. Con ḅ ráp nối dữ liệu tích
lũy theo kiểu nó; con chuột ráp nối cảnh
theo cách của nó, để nó nh́n và hiểu thực
tại theo cái cách khác nhau của mỗi loài;
mặc dù mắt tai mũi lưỡi giống nhau nhưng sự
ráp nối khác nhau.
Ta hăy lấy thí dụ về máy vi tính. Các dữ
liệu được nhập thông qua bàn phím và con
chuột là sáu thức. Chúng được lưu trữ như là
các chủng tử được tích chứa trong kho chứa
thức thứ tám (thức a-lại-da). Tại đó, chúng
được đưa vào trung tâm xử lư để chờ xuất.
Trung tâm xử lư dữ liệu đó là thức thứ bảy.
Từ đó, cũng thông qua bàn phím và con chuột
là sáu thức bên ngoài mà chúng được xuất, để
cho ra trên màn h́nh nhiều thứ khác nhau,
tức là toàn thể thế giới, thân và tâm của
mọi loại chúng sanh.
Như vậy, ta hăy hỏi thêm lần nữa: thức là
ǵ? Thức là nhận thức, là nhận biết. Ban
đầu, chỉ như là sự thấy biết của con mắt:
chỉ nh́n và thấy biết, nhưng không phân biệt
cái được thấy ấy là ǵ. Ta thường gọi đó là
cái biết trực giác; thuật ngữ Phật học gọi
là thức hiện lượng vô phân biệt. Nhưng khi
nói: “Tôi biết tôi đang nh́n/ hay đang thấy”
th́ lúc đó rơ ràng có một cái tôi đang chủ
tŕ sự thấy. Song, tất cả mọi cái thấy và
biết đều phải thấy, biết về một cái ǵ. Con
mắt thấy, tất phải có cái ǵ để mà thấy.
Theo cách hiểu thông thường, cái thấy hay
biết nào cũng là sự tích hợp của hai yếu tố:
thức và cảnh, tức chủ thể nhận thức và đối
tượng tương ứng của nó. Nhưng chúng ta biết
rằng, thức không tự biết nó là cái ǵ cả,
như lưỡi dao bén không thể tự cắt đứt chính
nó. Chỉ khi nào tự ngă hay cái tôi xuất hiện
như là chủ thể nhận thức, bấy giờ thức mới
nhận biết được nó và đồng thời đối tượng của
nó. Thêm bước nữa, ta cũng không biết cái
tôi ấy là ǵ, tồn tại như thế nào. Nhưng do
thấy kết quả, rồi suy luận ra có thức đang
thấy, đang biết; từ những kinh nghiệm được
tích lũy bởi thức, người ta suy nghĩ ra có
cái linh hồn, như là chủ thể của sinh mạng
và nhận thức. Thật ra đây là một quá tŕnh,
một chuỗi quan hệ.
Cho nên, chúng ta nói rằng có một cái thức
để biết, và nghĩ nó là linh hồn, th́ thật sự
không bao giờ có cái linh hồn thường hằng
bất biến như được quan niệm trong nhiều tín
ngưỡng, tôn giáo. Ta biết có một cái tôi tồn
tại, ấy là do quan hệ; quan hệ giữa trong và
ngoài, nội giới và ngoại giới; nói gọn, thức
và cảnh, chủ thể và đối tượng của nó. Nhưng
nếu chỉ y nơi sự quan hệ của hai cái thôi
th́ cũng không đủ để hiểu được hoạt động của
nhận thức và quá tŕnh h́nh thành, xuất hiện
cái tôi.
Cái mà ta gọi là cái biết th́ thực sự ta
không biết nó là cái ǵ cả v́ nó vô h́nh và
không bao giờ chúng ta kinh nghiệm được, mà
chỉ biết được qua hành vi của nó. Vậy cái mà
chúng ta kinh nghiệm được, nắm bắt cụ thể
được như nắm viên bi trong tay, và soi vào
trong gương mà thấy được, cái đó gọi là con
mắt, tức là căn. Con mắt mà ta thấy được,
nắm được, đó là phù trần căn, tức khối thịt
và các mô, cùng thủy tinh thể, tạo thành
nhăn cầu, con ngươi. Phù trần căn mà hỏng,
bấy giờ nhận thức con mắt không thể khởi lên
v́ khuyết duyên. Phù trần căn chưa hư, sắc
ngoại cảnh xuất hiện và được phản chiếu lên
đó, thuật ngữ duy thức gọi là đới bỉ tướng.
Nhưng phù trần căn th́ không bị biến đổi
theo cảnh sắc; do đó, đới bỉ tướng là ảnh
tượng được ghi dấu lên một loại sắc vi tế,
minh tịnh, nhạy cảm, thuật ngữ gọi là tịnh
sắc. Chính loại tịnh sắc này mới có thể bị
kích thích bởi ngoại cảnh. Như vậy, khi cảnh
phản chiếu lên phù trần căn, ghi ấn tượng
lên tịnh sắc căn, bấy giờ thức xuất hiện.
Không có căn, không có cảnh, th́ cũng không
có thức.
Căn, cảnh và thức, ba cái ḥa
hiệp thành một tổ hợp ba, gọi là xúc. Giống
như 2 O2 và
1 H liên kết thành một phân tử nước H2O;
Nếu thiếu một nguyên tử, th́ cũng không
thành phân tử nước được. Từ xúc khởi lên
thọ, cảm giác thích ư hay không thích ư.
Tiếp theo thọ là tưởng; các ấn tượng nhận
thức được cấu trúc lại thành khái niệm,
thành ư tưởng, làm cơ sở cho tư duy và ngôn
ngữ; rồi từ đó khởi lên phán đoán, và nhận
thức. Đó là quá tŕnh nhận thức một đối
tượng, được phân chia thành nhiều giai đoạn.
Ba cái: căn, cảnh, thức hợp lại, quan hệ
tổng hợp với nhau, mới thành ra hiệu quả
nhận thức. Khi chúng ta chia ra th́ đây là
thức, đây là căn, đây là cảnh; c̣n nếu trong
tự thể tồn tại, chúng thảy đều là chủng tử
như những dữ liệu được lưu trong bộ nhớ của
máy vi tính. Tự bản chất, chúng là những
dạng xung điện có và không, 1 và 0, nhưng do
kết cấu của hệ thống vi mạch để nhận xung
điện; rồi tùy theo lập tŕnh mà chúng được
đưa vào bộ vi xử lư để xử lư, cho ra kết quả
với nhiều h́nh thái khác nhau trên màn h́nh:
núi, sông, nhân vật; khóc, cười, yêu, ghét…
đủ mọi cảnh đời.
Tất cả đều là do sự ghép nối. Thuật ngữ Phật
học gọi sự ghép nối ấy là phân biệt. Đôi khi
nói thêm là phân biệt vọng tưởng. Phân biệt,
nghĩa là cấu trúc lại thực tại. Như ta gơ
bàn phím để nạp dữ liệu, đưa vào xử lư, rồi
cho ra kết quả trên màn h́nh. Trên đó, chỉ
là hệ thống kết cấu của những cột đèn vi
tính sắp thành hàng ngang và dọc, mà mật độ
được tính trên từng phần vuông. Mỗi cọc có
ba bóng đèn nhỏ bật sang ba màu căn bản. Tùy
theo lệnh từ bàn phím, sau khi đă được xử
lư, các dữ liệu được bố trí theo một cấu
trúc xác định, theo đó, bóng đèn nào có xung
điện để được thắp sáng. Mật độ xung điện có
và không tạo thành sự chớp nháy liên tục
thay nhau của các bóng đèn, với các màu được
thắp sáng pha trộn, phản chiếu lẫn nhau, tạo
thành vô số h́nh ảnh và âm thanh. Như ṿng
hào quang sau tượng Phật tại các chùa. Do sự
chớp nháy liên tục thay nhau của các bóng
đèn được bố trí thành ṿng tṛn, ta thấy
ṿng hào quang sau tượng Phật đang xoay, mà
thực tế th́ tất cả đều đứng im tại vị trí cố
định của nó.
Như vậy, mối quan hệ kết cấu của căn, cảnh
và thức hiện hành từ chủng tử riêng biệt của
chúng, ḥa hiệp với nhau tạo thành h́nh ảnh
thế giới mà ta thấy, ta nghe, v.v… Thế giới
xuất hiện theo sự cấu trúc của căn, cảnh
thức ấy là thế giới tồn tại do bởi phân
biệt. Tất cả tồn tại do phân biệt kết cấu
đều có thể nói là vọng tưởng, v́ nó không
phản ảnh trung thực tồn tại, nó như là nó.
Chúng ta học để hiểu được bản chất của thực
tại cũng giống như người kỹ sư hiểu rơ cấu
tạo của vi tính, cơ bản là hiểu rơ, trong
một giới hạn nào đó, quy luật vật lư, nguyên
tắc nhị phân, nguyên tắc xung điện như thế
nào… th́ có thể xử lư công việc theo ư của
ḿnh. Đó là do tŕnh độ hiểu biết những
nguyên tắc của tồn tại, của quan hệ các h́nh
ảnh như quan hệ của ánh sáng với những xung
điện.
Tóm lại, nếu nhận thức
được thực tại, thấy được thực tại, hiểu rơ
được chân lư th́ có thể biến đổi được thế
gian này, làm cho nó tồn tại hay làm cho nó
hủy diệt; đó chính là nói rằng Ma hay Phật
cũng đều do tâm, ba cơi duy chỉ một tâm, là
nói theo ư nghĩa này.
Thích
Tuệ Sỹ