Edel Maex
Dừng lại và
nh́n sâu – Thiền tập trong Phật giáo
(Tiểu luận số 3 về Phật giáo)
Nguyễn Thanh Hùng dịch
Nh́n h́nh tướng của Phật, bạn thường thấy người
được vẽ hay tạc ở trong tư thế tọa thiền. Thiền
tập v́ thế chắc hẳn rất là quan trọng. Vậy Phật
ngồi như thế để làm ǵ? Điều ǵ trong Tứ diệu đế
đă thúc đẩy ta ngồi trong tĩnh lặng để thiền
tập? Nói khác đi, làm sao ngồi trong tĩnh lặng
lại có thể làm cho ta hiểu Tứ diệu đế sâu sắc
hơn và đưa ta đến thực hành?
Giáo lư nhân quả (karmaleer) bao hàm trong Tứ
diệu đế cho rằng chúng ta là tác giả và là người
thừa kế những hành xử của chính ḿnh. V́ thế,
rất hợp lư khi ta không đi t́m ở [thế giới] bên
ngoài những giải đáp cho các vấn đề và sự khổ
đau của ḿnh, mà bắt đầu t́m kiếm và lưu ư ở
ngay nơi mà những hành động được khởi sinh, đó
chính là tâm thức của chúng ta. Đối với Phật,
làm sao để thực hiện việc đó không hề đơn giản.
Đó là kết quả của một cuộc t́m kiếm lâu dài.
Phật ngồi đó để làm ǵ?
Trong kinh tạng Pali, Phật đă kể lại rất chi
tiết cuộc t́m kiếm của người, từ lúc khởi đầu
cho đến chung cuộc, tới khi người trở nên tỉnh
thức (Danh từ Boeddha có nguyên nghĩa là “tỉnh
thức”). Ở đây thiền tập đóng một vai tṛ rất
quyết định. Cuộc đời của Phật mà ta thường được
nghe kể lại thuộc dạng huyền thoại cổ điển,
trong đó chứa đựng nhiều giá trị biểu trưng.
Trong bài này chúng ta chỉ trưng dẫn những tài
liệu tiểu sử tự thuật (autobiografisch) t́m được
trong kinh điển Pali mà không động đến những
huyền thoại vẫn được nhiều người biết đến hơn về
Phật.
Phật kể người đă lớn lên như thế nào trong sự xa
hoa (tên thật của người là Siddharta Gautama, là
người thuộc gịng tộc Sakyans). Người được thừa
hưởng ba ṭa lâu đài, một ṭa cho mùa mưa, một
cho mùa đông và một cho mùa hè. Đi đến đâu người
cũng được một đoàn vũ công ca nhạc toàn là phụ
nữ tháp tùng (một h́nh thức walkman trước thời
đại). Thế nhưng người vẫn không hài ḷng. Ḷng
người thường xuyên bị xâm chiếm bởi một nhận
thức sâu sắc về sự hoại diệt và ngắn ngủi của
cuộc sống. V́ phải đối diện không thể tránh né
với khổ đau nên tâm hồn của người tràn ngập một
niềm bi phẫn. Cha mẹ người vô cùng buồn rầu
(khác với huyền thoại cổ điển, ở đây [kinh tạng
Pali] không thấy nhắc tới một người vợ và một
đứa con), khi người quyết định bỏ nhà ra đi, để
đi t́m câu trả lời cho những câu hỏi của ḿnh.
Đầu tiên, cuộc t́m kiếm đă đưa người đến gặp hai
vị đạo sư dạy thiền tập. Thiền tập ở Ấn Độ thời
bấy giờ có vẻ đă là một phép hành tŕ phổ biến.
Siddharta là một đệ tử đặc biệt thông minh,
nhưng người không hài ḷng với những điều gặt
hái được. Người từ chối lời thỉnh cầu trở thành
người truyền thừa của hai vị thầy. Điều mà người
học hỏi được là những kỹ thuật vượt thoát ra
khỏi hiện thực một cách có hệ thống để bước vào
một thế giới khác, nơi mà cuối cùng mọi kinh
nghiệm chấm dứt sự hiện hữu của nó. Điều phải
thừa nhận, trong những giây phút đại định sâu
sắc này, khổ đau cũng chấm dứt hiện hữu. Nhưng
một khi thiền giả xuất ra khỏi trạng thái đó,
th́ tất cả cũng xuất hiện trở lại, kể cả khổ
đau. Điều này không phải là điều người t́m cầu.
Phương pháp mà người chú tâm hành tŕ sau đó là
phép tu khổ hạnh nghiêm nhặt (ascese). Ở đây
người cũng đi đến mức tận cùng. Các kinh điển
xưa cũ ghi lại sự kiện thân thể người c̣m cơi
đến mức khi đứng trên cát, dấu chân gầy rạc của
người để lại trên đó trông tựa như dấu móng của
con lạc đà. Cũng thế, con đường khổ hạnh này
không đem đến cho người kết quả mong đợi. Người
ư thức rằng không thể tiến xa hơn được nữa trên
con đường này. Một bước tới nữa chỉ có thể đồng
nghĩa với cái chết. Người bắt đầu ăn uống trở
lại và chăm sóc thân thể của ḿnh. Người lang
thang và không biết phải tiếp tục như thế nào.
Kinh điển kể lại, khi đó người chợt nhớ đến lúc
c̣n nhỏ, vào một ngày đẹp trời, khi ngồi dưới
một gốc cây ngắm nh́n người dân làm việc trên
một cánh đồng, người tự dưng nhập vào một trạng
thái của sự tỉnh giác đầy tĩnh lặng và trí huệ.
V́ thế cho nên người quyết định hành tŕ con
đường thiền tập. Điều người đă làm lúc đó chính
là một trực giác thiên tài. Thay v́ thoát ra
khỏi hiện thực, người dùng sự minh mẫn của tâm
thức được nuôi dưỡng trong khi thiền tập, để
hướng sự chú tâm của ḿnh vào chính hiện thực.
Bằng tâm tỉnh giác và sự cẩn trọng, người nghiệm
ra rằng trong một quá tŕnh liên tục, cách thế
của tham ái và tư duy nối đuôi nhau xuất hiện,
cũng giống như cách thế mà tâm thức nắm giữ và
từ chối, tạo tác và hoại diệt. Cứ như thế mà quá
tŕnh liên tục này của sinh thành và hoại diệt,
khi xảy ra không ngừng nghỉ cho chính người và
cho người khác, đă tạo ra vô vàn những thế giới,
những vọng tưởng. Nguyên nhân khiến cái này tạo
tác ra cái kia bỗng hiển lộ thật rơ ràng đối với
người. Cuối cùng, không phải không bất ngờ,
người khám phá ra trong sự tỉnh giác đó (heldere
aanwezigheid) và trong chính sự trong suốt của
nó (doorzichtigheid) tiến tŕnh này đă tan biến
và dừng lại như thế nào. Vào lúc đó người thực
sự chứng nghiệm rằng: đây là điều ḿnh t́m kiếm
lâu nay. Chính ở đây khổ đau không c̣n hiện hữu
nữa.
Khám phá này đối với người c̣n quá mới mẻ, khiến
người thoạt đầu chưa biết phải chia sẻ với người
khác như thế nào. Bằng một cách thức đặc biệt Ấn
Độ, các kinh điển đưa ra h́nh ảnh của một vị
thần đến thỉnh cầu Phật chia sẻ khám phá này với
người khác v́ “những kẻ có ít bụi trong mắt sẽ
nh́n thấy được”.
Đầu tiên, Phật đi t́m hai vị thầy đầu tiên đă
dạy người thiền tập, nhưng hai vị đă qua đời. V́
thế người mới đi t́m các người bạn đă cùng tu
khổ hạnh. Khi các vị này thấy Phật từ xa đi đến,
họ hẹn với nhau rằng sẽ làm như họ không trông
thấy người. Trong mắt họ, Phật là một kẻ thất
bại, một kẻ đă không chịu nổi sự từ bỏ kham khổ
của phép tu khổ hạnh. Cho tới khi Phật tiến tới
gần… Khuôn mặt của Phật rạng rỡ… Các vị tu sĩ
không thể nào làm ǵ khác là đỡ lấy áo khoác và
b́nh bát cho Phật, mời người ngồi xuống và hỏi
thăm: điều ǵ đă xảy đến cho bạn? Phật thuật lại
những ǵ người đă làm trong thời gian qua. Cuộc
nói chuyện này đă được ghi lại như bài thuyết
pháp đầu tiên, trong đó Phật lần đầu tiên giảng
giải về giáo pháp Tứ diệu đế.
Dừng lại và nh́n sâu
Về thiền tập, có hai giai đoạn được nhắc đến
trong bài giảng của Phật:
1 Samatha [chỉ]:
Các vị thầy đă chỉ dạy cho Phật một h́nh thức
thiền tập đưa tới sự chấm dứt tất cả các hoạt
động tâm ư (mentale activiteit). Đó là sự thiền
tập nhắm tới sự dừng lại (samatha). Kỹ thuật đưa
tới kết quả này là sự tập trung. Đây cũng là một
phương pháp mà chúng ta vẫn thấy trong các kỹ
thuật thiền tập và thư giăn không nằm trong Phật
giáo.
Cho dù Phật đă là một bậc thầy trong kỹ thuật
này, người vẫn không hài ḷng và đă từ bỏ phương
pháp tu tập này.
2 Samatha-vipassana [chỉ-quán]:
Sau khi các phương pháp khác không mang lại hiệu
quả mong muốn, Phật quay lại với phương pháp
thiền tập nhưng đó không chỉ là sự thiền tập đơn
thuần. Phương pháp thiền tập mà người đă sáng
chế ra là một tổng hợp của dừng lại (samatha) và
nh́n sâu (vipassana). Với sự tỉnh giác của tâm
thức, người hướng sự chú tâm vào hiện thực và
đạt được tuệ giác. Tất cả những ǵ mà chúng ta
đă bàn đến trong bài viết thứ hai ‘Giải thoát
khỏi ảo tưởng – Phật giáo, một hệ thống triết
học’ trở nên thật trong suốt rơ ràng đối với
Phật.
Dừng lại đề cập đến sự ngưng nghỉ các tập quán
máy móc của tâm thức, bằng cách tập trung sự chú
tâm vào một đối tượng nhất định nào đó. Với nh́n
sâu, chúng ta muốn nói đến việc hướng sự chú tâm
vào điều đang xảy ra. Nh́n sâu không phải chỉ
bằng đôi mắt, mà bao gồm tất cả các giác quan,
kể cả tâm [mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ư]
(Trong Phật giáo, tâm được coi là giác quan thứ
sáu, có chức năng ghi nhận những suy tưởng của
chúng ta).
Như thế, cả hai phương thức samatha và vipassana
hợp lại thành một tổng thể hữu cơ. Samatha và
vipassana tương quan với nhau và được học hỏi
như thể là sợi chỉ điều xuyên suốt các kinh điển
thiền tập Phật giáo trong 2500 năm qua. V́ những
lư do giáo khoa, một số truyền thống đă thực tập
‘dừng lại’ trước tiên rồi mới chuyển sang những
thực tập nhắm nhiều hơn vào tuệ giác, vào nh́n
sâu. Những truyền thống khác lại chú tâm từ lúc
bắt đầu với những thực tập bao gồm cả hai phương
thức.
Không lư thuyết suông
Không có ích lợi ǵ để t́m hiểu một cách lư
thuyết về những điều thật thực tiễn. Thiền tập
ngoài ra c̣n là một phương pháp rất dễ áp dụng.
Tất cả những ǵ bạn cần chỉ là thân và tâm. Gối
và nệm ngồi thiền, và những dụng cụ khác có thể
có ích lợi nhưng không nhất thiết phải cần.
Ngoài ra, bạn có thể thực hành thiền tập bất cứ
lúc nào. Vài ba phút cũng đủ để học cách thực
tập thiền.
Bây giờ, tôi xin độc giả tạm thời để bài viết
này qua một bên và thử thực tập trong tư thế bạn
đang có. Nếu bạn khám phá tư thế đang có chưa
được thoải mái lắm th́ hăy thay đổi tư thế cho
thật thoải mái.
Hăy đặt sự chú tâm của bạn vào hơi thở. Bạn
không cần phải thay đổi cách thở. Chỉ theo dơi,
cảm nhận hơi thở vào như thế nào, hơi thở ra như
thế nào. Khi nào cảm thấy ḿnh đang đánh mất sự
chú tâm, th́ bạn lại đặt sự chú tâm vào lại nơi
hơi thở. Bạn hăy thử thực tập như thế trong ṿng
vài phút.
*
Bài tập vừa rồi mà bạn đă làm, trước hết, có thể
được xem như một thực tập của dừng lại. Lời
hướng dẫn là đặt sự chú tâm vào hơi thở. Nếu nói
đó đơn thuần là một thực tập samatha thôi th́ có
lẽ bạn cũng đă không thành công rồi. Trong ṿng
hai phút, gần như tất cả mọi người đều khám phá
rằng sự chú tâm của chúng ta đă bị thất tán. Vào
lúc này có thể kể ra hai cạm bẫy:
Cạm bẫy thứ nhất là sự khó chịu. Khả năng cụ thể
là qua sự thực tập thường xuyên bạn trải nghiệm
được sự tĩnh lặng, dễ chịu và tính trị liệu của
phép hành tŕ theo dơi hơi thở này. Nhưng có một
khả năng lớn hơn nữa là bạn hoàn toàn không trải
nghiệm điều ǵ giống như thế cả ở lần thực tập
đầu tiên. Rất nhiều người đă cảm thấy thật khó
chịu v́ liên tục đánh mất sự chú tâm. “Thấy
chưa, tôi đâu có thể làm được…”. Sự khó chịu tự
nó không phải là một vấn đề lớn. Nó chỉ làm lộ
ra một cung cách phản ứng (reactiepatroon) cũ kỹ
b́nh thường. Cạm bẫy nằm ở kết luận sai lầm, là
ḿnh không làm được bài tập này. Nhưng kinh
nghiệm khó chịu là chuyện thông thường xảy ra và
tự chúng không phải là những lư do để ta bỏ
cuộc.
Như thế ḷng nhẫn nại là một điều kiện tuyệt đối
phải có để thực hành thiền tập.
Cạm bẫy thứ hai, thật kỳ lạ, lại chính là sự tập
trung. Một sự tập trung trong chừng mực nào đó
là điều tốt nhưng sự thực tập sẽ hoàn toàn rời
xa mục đích của nó nếu người hành thiền, trong
suốt thời gian thực tập, thành công trong việc
chỉ biết chú ư đến gịng chảy lên xuống của hơi
thở với sự dễ dàng thoải mái. Bởi v́ nếu đi xa
hơn theo phương pháp này, chúng ta sẽ bị kẹt
trong cái mà Phật đă học được của các vị thầy
dạy thiền tập, đó là sự thực tập samatha đơn
thuần.
Điều mà lời khai thị muốn hành giả đạt được là
làm hiển lộ những điều đang xảy ra. Trong khi
theo dơi hơi thở và sự thất bại kèm theo, chúng
ta thấy được sự vận hành của tâm thức. Ở đây
không chỉ là samatha mà là kết hợp của samatha
và vipassana, dừng lại và nh́n sâu. Cho một thực
tập samatha đơn thuần, hơi thở không phải là một
đối tượng tập trung thật thích hợp. Hơi thở của
chúng ta luôn chuyển động và ngoài ra c̣n phản
ứng theo với mọi thứ xảy ra ở trong và xung
quanh ta. Cũng chính v́ lư do đó mà phép theo
dơi hơi thở là một cách dẫn nhập tuyệt hảo để
thực tập samatha-vipassana.
Đă nói thế, bây giờ xin mời bạn thử làm lại bài
tập vừa rồi một lần nữa, bắt đầu bằng cách theo
dơi hơi thở và sau đó cứ quan sát điều ǵ đang
xảy ra. Với một sự chú tâm nhẹ nhàng, rộng mở,
bạn hăy để cho những điều ǵ đến cứ đến, không
bám víu vào đó cũng không từ chối nó, không đi
sâu vào cũng không ngăn chặn. Cứ mỗi khi biết
ḿnh đang mất sự chú tâm hoặc đánh mất ḿnh
trong những điều đang xảy ra, bạn lại trở về với
hơi thở và với sự chú tâm nhẹ nhàng, rộng mở.
*
Samatha-vipassana là dừng lại và nh́n sâu những
điều đang xảy ra, với sự chú tâm nhẹ nhàng, rộng
mở. Lời khai thị này thật hết sức đơn giản. Đơn
giản nhưng không phải dễ dàng. Để có thể ứng xử
[tốt] với những điều đang xảy ra, bạn nên t́m
một vị thầy nhiều kinh nghiệm để học hỏi. Cho
tới giai đoạn này, tôi đă chỉ nhắc chừng bạn về
hai cạm bẫy vừa kể. Cạm bẫy thứ ba là sự khởi
tâm (suggestie). Lời khai thị thật rơ ràng: bạn
hăy quan sát bất kỳ điều ǵ đang xảy ra. Nhưng
bởi v́ là con người, chúng ta có thể biết khá
chắc chắn rằng những điều đang xảy ra [trong tâm
thức] không hoàn toàn đẹp đẽ và tốt lành. Mối
nguy to lớn ở đây nằm chính ở chỗ chúng ta t́m
cách sắp đặt (manipuleren) kinh nghiệm của ḿnh
theo chiều hướng nào đó mà chúng ta thấy thích
hợp với ḿnh và với việc thiền định. Hậu quả
thường là sự tỉnh ngộ, v́ cuối cùng ta đành phải
chịu thú nhận rằng những điều ta mong cầu không
xảy ra, và như thế những điều [thật sự] xảy ra
đă vượt thoát ra khỏi sự chú ư của ta.
Cạm bẫy thứ tư là ḷng say mê với nội dung mà
những điều đang xảy ra mang đến. Bằng cách học
hỏi tâm thức qua cách [quan sát] này mà Phật
giáo, qua thời gian, đă trở thành một ngành tâm
lư học rất có hệ thống. Tâm lư học đương đại Tây
phương, hăy c̣n trong giai đoạn phát triển, đă
bắt đầu có ư thức về sự hữu dụng của hệ thống
[tâm lư học Phật giáo] này. Nhưng cần ghi nhớ
rằng tâm lư học trong bối cảnh này chỉ là một
sản phẩm phụ. Điều quan trọng nhất vẫn là sự
giải thoát, chứ không phải là một ngành tâm lư
học.
Nh́n sâu điều ǵ?
Tất cả những điều được nói trong bài trước
(“Giải thoát khỏi ảo tưởng – Phật giáo, một hệ
thống triết học”), có thể trước đây c̣n như một
mớ triết lư trừu tượng, bỗng trở nên sinh động
dưới tác động tài t́nh của samatha-vipassana.
Chỉ mới trong ṿng hai phút thử chú tâm theo dơi
hơi thở, đă đủ cho phần đông chúng ta thấy được
sự hỗn loạn của tâm thức. Nếu nh́n kỹ hơn, bạn
sẽ thấy được sức mạnh của si mê, sân hận và
những khuôn mẫu mù quáng (blinde patronen) hợp
lại xô đẩy tâm thức. Những ǵ xảy ra ngay lúc
này trong tâm thức và điều mà bạn có thể cảm
nhận được ngay lúc này chính là những quy luật
(wetmatigheid) của nguyên nhân và hậu quả và sự
h́nh thành của khổ đau. Để có thể thấy được điều
đó, điều duy nhất bạn phải làm là chịu đứng yên
và nh́n cho kỹ.
Trong khi dơi theo những xuất nhập của ấn tượng,
t́nh cảm và ư tưởng, bạn nhận chân được tính vô
thường của tất cả những điều chúng ta có thể
tưởng tượng được. Không có điều ǵ cố định.
Không có ǵ đủ vững chăi để ta có thể bám víu
vào. Tiến tŕnh [nhận thức] này có thể đôi lúc
làm ta đau khổ. Nếu không nhẹ nhàng và từ bi với
chính ḿnh, chúng ta sẽ khó chấp nhận được. Một
thái độ nhẹ nhàng nhưng quyết tâm và ḷng từ bi
không những làm cho tiến tŕnh [nhận thức] này
khả dĩ thành công mà c̣n tạo nên liều thuốc giải
độc tốt lành (heilzaam antidotum) cho những t́nh
trạng tâm lư không lành mạnh xuất hiện trong lúc
chúng ta thiền tập. Cho tới khi chúng ta nhận
thức rằng bám víu vào bất kỳ một cái ǵ cũng chỉ
là một cố gắng hoàn toàn vô ích, và chỉ có sự
chú tâm rộng mở, nhẹ nhàng và không thỏa hiệp là
đủ và [điều này] có nghĩa là một sự giải phóng
vĩ đại.
Đây là bối cảnh của hiện thực tột cùng. Sự tỉnh
ngộ càng trọn vẹn chừng nào th́ sự ám ảnh của
những vọng tưởng chế ngự ta càng lúc càng nhỏ đi
chừng nấy. Điều c̣n lại là một sự rộng mở trọn
vẹn, vắng bóng vọng tưởng (totale,
gedesillusioneerde openheid). Một sự rộng mở
không c̣n trông mong bất cứ điều ǵ nữa, không
c̣n nhu cầu để thêm thắt chút ǵ vào hiện thực,
kể cả những ư niệm mà chúng ta vẫn thường dùng
để xoay chuyển hiện thực theo ư ḿnh (naar onze
hand te zetten) và [qua đó] tạo ra ảo tưởng rằng
hiện thực rất quen thuộc.
Trạng thái này của sự rộng mở vốn là một trạng
thái rất tự nhiên, được nhiều người biết đến. Kể
cả Phật cũng đă nhớ lại lúc c̣n nhỏ, ngồi dưới
bóng mát của một gốc cây, người cũng đă tự nhiên
cảm nhận được. Sự rộng mở tự nhiên của tâm thức
này trên nguyên tắc, luôn luôn có mặt. Không có
sự rộng mở này, chúng ta khó ḷng có thể sinh
hoạt được. Nhưng sự rộng mở này thường xuyên bị
lấp đầy bởi những ư niệm, suy tưởng, mong chờ,
dự định… cho đến mức chúng ta gần như không c̣n
ư thức được sự có mặt của nó nữa. Trong khi
thiền tập, chúng ta học giữ cho sự rộng mở này
được thênh thang trong khi theo dơi tṛ chơi của
những thứ lấp đầy tâm thức chúng ta tiếp tục đi
đến và lại ra đi.
Như thế, ở đây hoàn toàn không nói đến một thứ
kinh nghiệm “huyền bí” đặc biệt (‘mystieke’
ervaring) nào cả. Nhận thức về sự rộng mở có thể
đôi lúc được cảm nhận thật mănh liệt, nhất là
khi nó được thể nghiệm trong tương phản với sự
khép kín cứng nhắc (krampachtige afgeslotenheid)
mà chúng ta thường có trong đời sống. Sự mănh
liệt của kinh nghiệm này đôi khi trở thành một
thứ cạm bẫy. Sự rộng mở [có thể] bị lấp đầy ngay
tức khắc bằng một ước ao giữ chặt và sống lại
[kinh nghiệm về] sự mănh liệt này. Nó dễ trở
thành một thứ kinh nghiệm mà chúng ta muốn xem
như một đạo bùa được may chặt vào cổ, để không
bao giờ có thể đánh mất được. Sự dụng công bám
víu cứng nhắc này có thể là một cản trở cho
những cảm nhận về sự rộng mở cần được tiếp tục
xảy ra. “Gặp Phật, giết Phật”, đó là câu tuyên
bố bất hủ của Thiền sư Lâm Tế về cạm bẫy này.
Xuống núi
Trong ngành hội họa Phật giáo Trung Hoa, Phật
Thích Ca Mâu Ni (vị Phật lịch sử) vẫn thường
được minh họa trong tư thế đang đi, trong khi
người xuống núi, chứ không phải trong tư thế tọa
thiền. Cái nguyện vọng được an trú măi trong
trạng thái của thực tại tột cùng tự nó đă là một
mâu thuẫn nội tại (contradictio in terminis).
Nhận thức về thực tại tối hậu tức khắc đưa chúng
ta trở về với thế giới qui ước, thế giới của ư
niệm và suy tưởng, của quan hệ và mơ ước, nhưng
lần này với một số ảo tưởng ít hơn hẳn. Như Mark
Epstein đă diễn tả: vấn đề không nằm ở chính sự
ước ao mà ở sự kiện chúng ta chờ đợi nơi đối
tượng của sự ước ao hơn quá cái mức mà đối tượng
của sự ước ao có thể cung cấp cho chúng ta.
Dừng lại làm hiển lộ. Qua nh́n sâu mọi sự trở
nên sáng tỏ. Sự minh bạch rơ ràng này đưa đến
giải thoát. Câu chuyện [đời] không chấm dứt nơi
chiếc gối tọa thiền. Với sự tự tại này, chúng ta
sống đời sống hàng ngày bằng một thái độ khác.
Và như thế, đương nhiên trong bài viết tiếp,
chúng ta sẽ nhận định về đạo đức.
Bản tiếng Việt © 2006 talawas
Nguồn: Nguyệt san Triết học năm thứ 13, số 6,
tháng Chạp/Giêng (Filosofie, jrg. 13, nr. 6,
december/januari). Xuất bản bằng Ḥa ngữ, phổ
biến trong vùng Benelux.
|
|
|