|
Lamrim Đại Luận [Lamrim Chenmo]
Đức Đạt Lai Lạt
Ma
Đalai Lama trong 15 ngày khóa giảng mùa xuân tại
Dharamsala, đă truyền khẩu truyền trọn bài pháp Lamrim Chenmo. Đầu mỗi thời
truyền khẩu, Đalai Lama thuyết giảng về nội dung bài pháp Lamrim Chenmo.
Đây là bản Việt dịch của bài giảng này [không có phần chánh văn khẩu truyền] by
hongnhu.
Chúng ta tự khiến ḿnh khổ đau vô hạn, v́ vọng tưởng phát xuất từ tâm bất thuần.
Nay chúng ta đă t́m được con đường chỉ dẫn phương pháp chặt bỏ gốc rễ khổ đau,
đạt nguồn an lạc vĩnh viễn, vậy cần tận dụng cơ hội hiếm hoi quí giá này, không
để phí uổng. Mặc dù chúng ta phần lớn đều muốn tu theo Phật Pháp, có được chút
tín tâm, nhưng v́ giải đăi biếng lười nên cứ hẹn lần về sau mới tu. Cuộc đời cứ
vậy trôi qua trong lười biếng. Khi c̣n trẻ th́ bận rộn với chuyện trong đời, lo
đeo đuổi sự nghiệp, cho rằng chuyện tu hành là chuyện của người già. Cứ vậy một
năm thoáng chốc đă hết, từng ngày, từng tuần, từng tháng, cuộc đời trôi qua
trong phút giây! Khi đến Ấn Độ vào năm 1959, chúng ta nuôi thật nhiều hy vọng,
nghĩ rằng sẽ làm được nhiều việc trước năm 2000. Năm 2000 đă qua. Bây giờ đă là
cuối tháng 02 năm 2005. Vài tháng trước, chúng ta háo hức chờ đợi pháp hội
Lamrim này. Bây giờ đă vào ngày thứ tư. Thời gian cứ thế mà trôi, thấm thoát đến
tuổi về chiều. Trí nhớ không c̣n được như xưa, hối hận sao thời trẻ không lo tu.
Rồi than văn sao trí óc bây giờ không c̣n khả năng suy nghĩ, chỉ c̣n biết hướng
về đạo sư và Tam Bảo để cầu nguyện cho kiếp sau. Đến khi chết mới thấy bản thân
đă không hết ḷng tu theo Phật Pháp, phí uổng thời gian cho những pháp tu hời
hợt, bé mọn, chỉ c̣n mong sau khi ĺa đời được người khác hộ niệm giúp cho. Thật
quá vô vọng!
Ngày 1
by
hongnhu
on Mon Feb 02, 2009 8:11 pm
Trong hai tuần sắp tới, chúng ta sẽ nói về Phật Pháp, sẽ cùng nhau xem bài pháp
Lamrim Đại Luận của thầy Tông Khách Ba. Đây là một bài pháp tuyệt hảo,
dạy mọi điểm tinh yếu trên đường tu, xác định thực tại chân thật của sự vật. Một
bài pháp tuyệt vời, được chư học giả trân trọng, đầy năng lực gia tŕ. Mặc dù
hiểu biết không nhiều, tôi cũng xin tận lực giải thích về bài pháp này. Về phần
quí vị, xin đừng nghe pháp như nghe chuyện đời xưa, chuyện lịch sử, xin cũng
đừng nghe pháp v́ muốn trau dồi kiến thức. Các loại nhiễm tâm như tham, sân hay
là si, cứ liền liền tạo ác nghiệp phiền năo, từ đó phát sinh đủ loại khổ đau về
sau. Đây là chuyện xảy ra hàng ngày. Vậy khi học về bài pháp này, quí vị phải
xét từ trong ḿnh, ứng vào nơi tâm của quí vị. Sự thật là chúng ta ai cũng mong
hạnh phúc, không ai muốn khổ đau. Vậy mà cứ măi khổ. Niềm an vui muốn giữ cho
được 24 tiếng đồng cũng giữ không nổi, đừng nói ǵ đến nguồn an lạc vĩnh cữu.
Thỉnh thoảng có khi có được chút an vui, nhưng chẳng mấy chốc niềm vui đă vị xáo
trộn. Nguyên nhân gây xáo trộn và biện pháp hóa giải sẽ được nói đến trong bài
pháp này. V́ vậy quan trọng nhất là khi nghe cần ứng ngay vào tâm của ḿnh, tư
duy suy nghĩ, đối chiếu với hành vi cử chỉ của chính ḿnh. Cần dụng tâm như vậy,
phân tích, làm quen với giáo pháp này để mà chuyển hóa tâm. Đồng thời quí vị
cũng cần phải hướng tâm về đối tượng qui y để mà thỉnh nguyện. Làm như vậy sẽ
tạo đầy đủ mọi thuận duyên đến từ bên ngoài, giúp cho tâm của quí vị hướng về
Chánh Pháp, hướng về đường tu, đồng thời cũng sẽ giúp quí vị phá chướng ngại,
thành tựu viên măn con đường tu tập của ḿnh.
Vậy theo thường lệ, trước khi bắt đầu pháp hội Lamrim, chúng ta hăy cùng nhau
tụng lời thỉnh nguyện chư đạo sư truyền thừa ḍng giáo pháp Lamrim, bắt đầu từ
đức Phật Thích Ca Mâu Ni truyền xuống nhiều đời tổ sư tiếp nối. Hăy hướng tâm về
chư vị để thỉnh lực gia tŕ. Và cũng theo thường lệ, trước khi tụng lời thỉnh
nguyện đạo sư, hăy cùng nhau tụng Bát Nhă Tâm Kinh. Như quí vị cũng biết, hệ
kinh Bát Nhă là hệ giáo pháp Phạn tự chính yếu của Phật. Trong hệ kinh bát nhă
này có một bài kinh ngắn tên là Hai Mươi Lăm Câu Tụng, c̣n được gọi là
Bát nhă Tâm Kinh, rất quen thuộc với chúng ta. Phật tử Trung Hoa, Nhật Bổn,
Việt Nam, Đại Hàn đều thường đọc tụng kinh này. Cả tiếng Pali cũng có. Trước khi
đọc tụng Bát nhă Tâm Kinh, chúng ta hăy đọc tụng bài Tịnh Tâm Tam Pháp.
Bài tụng này được tụng bằng tiếng Pali ở Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện v.v...
chỉ là tôi không rơ nội dung có giống như bài tụng tiếng Tây Tạng hay không. Vậy
bây giờ chúng ta hăy làm như thế này: Sau Bát Nhă Tâm Kinh, chúng ta đọc câu
xưng tán [đức Phật] nằm trong bộ luận Hiện Quán Trang Nghiêm [Abhisamaya
Alamkara] của ngài Di Lạc và Trung Quán Luận của ngài Long Thọ. Sau đó là
bài thỉnh nguyện chư đạo sư truyền thừa giáo pháp Lamrim, tụng theo âm điệu của
Tu Viện Chusang. Âm tụng kinh này phát xuất từ Tu Viện Dhakpo, nghe nói do chính
đức Đalai Lama đời thứ hai (Gedun Gyatso) dạy khi ngài c̣n trẻ. Tu Viện Ngari
được thành lập vào những năm cuối đời của ngài Gedun Gyatso, khi ấy đă lớn tuổi,
hơi thở ngắn, v́ vậy lối tụng của Tu Viện Ngari cuối câu nghe không rơ. C̣n Tu
viện Dharkpo học theo lối tụng khi ngài c̣n trẻ. Âm điệu tụng kinh này đến từ
truyền thống độc đáo, chan chứa lực gia tŕ. V́ vậy bài thỉnh nguyện đạo sư
truyền thừa Lamrim mở đầu và kết thúc pháp hội sẽ đều được tụng theo âm điệu
tụng kinh của Tu viện Dhakpo.
Thầy Long Thọ, đức Phật thứ hai của quốc độ này, có nói rằng: nếu muốn bản thân
và mọi người đạt quả giác ngộ, phải biết gốc rễ nằm ở tâm bồ đề như núi, tâm đại
bi vô lượng, và trí tuệ vượt thoát lănh vực đối đăi.
Theo Phật giáo th́ mục tiêu tối hậu của chúng ta là trí toàn giác. Đây là trạng
thái tự do hoàn toàn, biết hết khắp cả, toàn thành mục tiêu tự lợi và lợi tha.
Địa vị toàn giác này có được là nhờ hành tŕ pháp tu hai nhánh: tu tâm bồ đề dựa
vào đại từ đại bi và tu trí tuệ chứng tánh không. Nhờ phát huy, hoàn thiện và
phối hợp tâm bồ đề cùng trí tuệ mà chúng ta đạt đến quả vị toàn giác. Đường tu
đầy đủ trọn vẹn này có trong Phật giáo Tây Tạng, bao gồm toàn bộ mọi hệ thống tu
tập trong Phật giáo – Đại thừa, Tiểu thừa và Mật Thừa. Hệ thống Hinayana [Tiểu
thừa] là đường tu phổ thông, pháp tu sơ khởi đưa vào Đại thừa. Theo đường tu phổ
thông này, chúng ta cần dẹp bỏ mọi tâm lư chấp bám vào đời sống hiện tại và các
kiếp tái sinh tương lai, phát khởi tâm nguyện kiên quyết muốn đưa bản thân thoát
khỏi cảnh sinh tử luân hồi. Đại thừa chủ yếu nhắm vào việc tu tâm đại từ và đại
bi để phát tâm bồ đề. Tâm bồ đề chính là con đường đưa đến Phật quả. Tiếp theo
là Mật thừa, là một phần của giáo pháp Đại Thừa .
Nói tóm lại, có nhiều cỗ xe như vậy chẳng qua chỉ để phát tâm bồ đề. Có cỗ xe là
đường tu sơ khởi đưa chúng ta đến với kinh nghiệm tâm bồ đề, và có cỗ xe như là
Mật thừa để hoàn thiện tâm bồ đề. Toàn bộ Phật pháp bao gồm đầy đủ pháp sơ khởi,
chính tâm bồ đề, và giới luật giáo pháp tu tâm bồ đề. Nguồn giáo pháp trong sáng
này của Phật giáo phát triển tại Tây Tạng thật bao la sâu thẳm. Cho dù thế gian
này có được một giáo pháp tuyệt vời như vậy, nếu quí vị không gặp, không tu, th́
cũng chẳng để làm ǵ. Chúng ta cần phải trân quí giáo pháp sâu rộng này, với một
tầm vóc cực kỳ vĩ đại để mà quán sát tầm tư. Quán sát được ǵ đều có thể ứng
ngay vào chính ḿnh để điều phục tâm thức, nhờ đó đạt được niềm an lạc trước mắt
và lâu dài. Có được khả năng tư duy về giáo pháp quí hiếm như vậy, được sinh ra
ở một nơi gặp được giáo pháp này, nói cho cùng, chúng ta như vậy là đă có được
kiếp người tuyệt hảo, cho chúng ta đầy đủ cơ hội bước theo đường tu dẫn đến trí
toàn giác.
Trong cử tọa ở đây hôm nay có những người bạn đến từ phương Tây, nơi mà Phật
giáo trước đây không mấy thịnh hành, nhưng nhờ phương tiện truyền thông hiện đại,
ngày nay quí vị có được mối quan tâm đối với Phật giáo, mặc dù đây không phải là
tôn giáo truyền thống của quí vị. Quí vị từ xa đến đây, vượt mọi khó khăn để
tham dự pháp hội này. Mặc dù nói chung v́ quí vị lớn lên cùng truyền thống tôn
giáo của ḿnh, lẽ ra nên giữ đạo của ḿnh mới phải. Nhưng v́ mỗi người đều có
căn cơ sở thích khác nhau, có người thích vận dụng lư trí để mà tư duy suy nghĩ,
có lẽ quí vị t́m đến với Phật giáo v́ Phật giáo khuyến khích điều này và hôm nay
quí vị có mặt ở đây v́ ḷng hứng thú đối với Phật giáo.
Tôi sẽ thuyết giảng về Lamrim Đại Luận, bài pháp này bây giờ đă được dịch
ra tiếng Anh. Quí vị có bản tiếng Anh chưa? Tốt lắm. Có chánh văn tiếng Anh sẽ
dễ theo dơi hơn. Tôi thấy h́nh như ở đây cũng có một số người thuộc sắc dân Mông
Cổ, như Kalmuks, và một số người Nga. Mặc dù ngôn ngữ khác nhau nhưng ở nước quí
vị, Tạng ngữ vẫn là ngôn ngữ của Phật Pháp, v́ vậy quí vị nghe pháp sẽ cảm thấy
dễ hiểu hơn. Tôi sẽ nói pháp bằng tiếng Tạng miền Trung thổ, nếu quí vị nghe
không hiểu th́ quan trọng nhất là phải kiếm người thông dịch. Gần đây có nhiều
vị thầy tu Mông cổ tu học ở các tu viện Tây tạng, hiểu được Tạng ngữ, v́ vậy xin
các vị hăy quan tâm giúp người đồng hương nghe pháp.
Đặc biệt ở đây c̣n có những người đến từ Tây Tạng, [...] Quí vị đă phải chịu
nhiều sự hy sinh lớn lao để mà đến đây hôm nay.
Ở đây chúng ta có Ladakhis, đặc biệt là có ngài Choephel Sopa-la. Ngài đă đỡ
chưa? Có phải là ngài đă gặp tai nạn? Bây giờ đă b́nh phục chưa? Ngài Sopa-la là
bạn thân của tôi. Ngoài ra, tôi tin chắc ở đây có nhiều người đến từ Kinnaur và
các vùng Hy Mă Lạp Sơn khác, đă từng tu tập theo Phật Pháp từ thời ông cha,
giống như người Tây Tạng chúng tôi. Bản thân tôi đă thọ diệu pháp từ các vị
lamas quá cố đến từ vùng Kinnauri, thầy Tenzin Gyaltsen và Rigzin Tenpa, sau đó
tôi cũng đă thọ pháp từ Rizong Rinpoche, là một bậc lama vùng Ladakh. Tôi vô
cùng biết ơn các cả các thầy. Trong cuộc tranh đấu cho tự do ở Tây Tạng, người
xứ Ladakh và các vùng Hy Mă Lạp Sơn không những đă bày tỏ t́nh tương trợ mà c̣n
chân thành nâng đỡ chánh nghĩa Tây Tạng qua cuộc "Xuống Đường v́ Ḥa B́nh" v.v..
Tôi vô cùng biết ơn. Khi các tu viện lớn của chúng tôi không c̣n người tu học
th́ các vị xuất gia trẻ tuổi từ Ladakh, Kinnaur và Lahual-Spiti đă đến, đặc biệt
là Tu viện Gomang. Các vị xuất gia trẻ tuổi này đă gánh lấy trách nhiệm giữ ǵn
chánh pháp ở những thời điểm khó khăn ấy. Tôi vô cùng trân quí những ǵ quí vị
đă làm. Trong số những người nói trên, có nhiều vị hiện diện ở đây hôm nay.
Nhiều vị xuất gia đến từ vùng Nam Ấn. Ở đây hôm nay trời rất lạnh. Mặc dù nơi ăn
ở gặp nhiều khó khăn nhưng quí vị đă đến đây với trọn ḷng háo hức. Chúng ta vô
cùng may mắn được sanh vào một nơi có thể tự nhiên gặp được toàn bộ giáo pháp
đại thừa, gồm cả kim cang thừa. Nhưng chỉ dựa vào sự may mắn này mà cảm thấy
thỏa măn th́ không được. Chẳng lợi ích ǵ cả. Bất cứ tôn giáo nào cũng có những
tín đồ tự cho rằng ḿnh may mắn được tu theo tôn giáo của ḿnh. Phật giáo Tây
Tạng c̣n giữ được trọn vẹn giáo pháp Phật dạy, chúng ta cần phải biết và hiểu rơ
Phật Pháp là như thế nào. Có biết rơ về Phật Pháp mới thấu hiểu kiếp người quí
vị đang có đây quí hiếm đến độ nào. V́ vậy nhất định phải t́m hiểu về Phật Pháp.
Khi giảng pháp tôi thường chia bài giảng thành hai phần: đầu tiên giới thiệu về
Phật giáo, sau đó nói về phương pháp hành tŕ. Tôi thấy làm như vậy rất quan
trọng. Trước đây ở Tây Tạng, từ thế hệ này sang thế hệ khác, chúng ta đều là
Phật tử thuần hành, không biết đến những hệ thống tôn giáo triết lư khác, trừ
phi dụng công nghiên cứu. Chúng ta xem Phật giáo là lẽ đương nhiên. Trong môi
trường như vậy, phương pháp giảng dạy Lamrim [pháp tu tuần tự giác ngộ] hay Lo-jong
[pháp tu chuyển tâm] đều là hướng về người sẵn có ḷng tin nơi Phật Pháp. Các
nhà luận sư Phật giáo Ấn độ khi soạn tác phải đối diện với nhiều loại truyền
thống triết lư khác nhau nên phương pháp giảng dạy của các vị có hơi khác hơn so
với cách thuyết pháp của người Tây Tạng.
T́nh trạng trong nước Tây Tạng hiện nay như thế nào? Cộng đồng Tây Tạng tị nạn
đă được tiếp cận với nhiều truyền thống triết lư tôn giáo khác, tiếp cận với
khoa học hiện đại và tinh thần khoa học thực nghiệm, thí nghiệm để xét xem sự
việc có đáng tin hay không, so sánh với kinh nghiệm cá nhân. Việc ǵ phù hợp với
kết quả thực nghiệm th́ chấp nhận, nếu chưa chứng minh được th́ giữ trạng thái
trung tính. Ngược lại, có những sự việc hiển nhiên không thể chối căi, không thể
phân tích thí nghiệm mà phải xét bằng phương pháp khác. Hoàn cảnh hiện tại là
như vậy. Ngài Tông Khách Ba có nói, cho dù quanh ta có người tu theo Phật giáo
hay không, tâm thức của chúng ta cũng vẫn chở mang nhiều chủng tử vọng tâm đến
từ các đời quá khứ, v́ vậy mà phải phát huy niềm tin có lư trí.
"Không phải tôi xem Phật là cao,
không phải tôi xem thường Kapila cùng các bậc thầy ngoài Phật giáo.
Bất kể là ai nói đúng lẽ phải,
tôi sẽ xem người ấy là đạo sư".
Phải nên vận dụng lư trí để so sánh giữa các hệ phái triết lư trong ngoài Phật
giáo, so sánh giữa Đại thừa và Tiểu thừa. Nếu như từ đó mà có được niềm tin xác
quyết th́ niềm tin này được xây dựng trên nền tảng luận lư vững chắc. C̣n nếu
chỉ tin một cách khơi khơi, tin kiểu như vậy giống như nước lắng: để yên th́
trong, động đến là đục ngầu. Quí vị sẽ dễ dàng phát sinh nghi hoặc. Hơn nữa cũng
rất khó mà tiến bộ. Nhắm mắt mà tin th́ chẳng làm sao có được thành tựu tâm linh
chân chính. Thành tựu chân chính chỉ đến từ sự chuyển hóa tâm thức, dựa trên
kinh nghiệm chính xác và niềm tin xác quyết, chẳng thể có được nhờ niềm tin mù
quáng. Vậy quí vị nhất định phải thấy rơ đâu là nền tảng, đâu là tinh túy của
Phật giáo. Trong tương lai, khi người Tây Tạng trong nước và ngoài nước đoàn tựu,
lúc ấy đất nước Tây Tạng sẽ không c̣n như xưa, sẽ là một nước Tây Tạng tân tiến,
không phải giống như cái thời mà dân làm ruộng chỉ biết làm ruộng, dân du cư chỉ
biết du cư. Chúng ta sẽ không c̣n bị giới hạn trong môi trường sống hạn hẹp của
ḿnh mà sẽ phải mở rộng ra với thế giới bên ngoài, phải biết rơ những ǵ đang
xảy ra khắp nơi trên thế giới. Khi ấy phải có đủ khả năng bảo tồn Phật Pháp,
không thể nào ù ĺ được, đúng không? Cuối cùng chúng ta đă có được cơ hội vén mở
cho mọi người thấy sự thâm sâu vi diệu của Phật giáo, tôi nghĩ như vậy rất tốt..
Ở Tây Tạng nơi nào cũng có Phật giáo nhưng phần lớn Phật tử chỉ c̣n biết tụng
câu qui y trên đầu môi. Hỏi Phật Pháp Tăng là ǵ cũng chẳng biết. Chỉ biết tin
suông, thấy đương nhiên phải thế. Quí vị có thể nghĩ rằng Phật là pho tượng Phật
Thích Ca nằm trong chùa, lại cảm thấy lạ sao Phật cứ măi lặng thinh. Chúng ta
phải biết rơ ư nghĩa của hóa thân nhiệm mầu của Phật. V́ các thế hệ tương lai,
phải hiểu rơ Phật Pháp Tây Tạng là như thế nào.
Thế giới này có hai loại người: có tín ngưỡng và không có tín ngưỡng. Quí vị cần
hiểu rơ cách suy nghĩ của họ, phân tích lư lẽ để hiểu làm như họ th́ được lợi
ích ǵ. Cần xét kỹ về lợi ích có tín ngưỡng hay không tín ngưỡng. Người có tín
ngưỡng lại có thể chia hai loại: tin có đấng sáng tạo hay không tin có đấng sáng
tạo. Hai loại tín ngưỡng này khác nhau ra sao? V́ sao lại tin như vậy? Tin như
vậy th́ sẽ như thế nào?
Những người không tin có đấng sáng tạo, tại sao lại có người chấp nhận có "ngă",
có người không? Lối suy nghĩ của họ ra sao? Khác nhau như thế nào? Dù có tín
ngưỡng hay không, ai cũng muốn được hạnh phúc an lạc lâu bền. V́ vậy phải hiểu
rơ mỗi loại tín ngưỡng sẽ mang đến cho chúng ta lợi ích ǵ. Chúng ta cần phải
hiểu rơ về các truyền thống tôn giáo, điều này rất quan trọng.
Trong quá khứ, Tây Tạng chỉ có Phật giáo nên phương pháp thuyết giảng phù hợp
với môi trường này. Ở Ấn độ có nhiều truyền thống tôn giáo khác nhau, luôn thách
thức lẫn nhau, cho nên cách giảng pháp khác với Tây Tạng. Nhập Bồ Đề Hành Luận,
nói ví dụ, là một bài pháp dạy phương pháp hành tŕ, tuy vậy hai chương Nhẫn và
Tuệ vẫn nêu ra nhiều cách phân tích lư luận của các truyền thống triết lư khác,
lại có nhiều đoạn chứng minh Đại thừa là do chính Phật dạy v.v... Ngày nay vẫn
cần phải chứng minh điều này. Các sử gia hiện đại cho rằng Đại thừa phát triển
sau thời Phật tại thế chỉ là sản phẩm do các nhà học giả Phạn ngữ chế ra. Những
đoạn luận văn xưa ngàn năm, chứng minh Đại thừa do chính Phật dạy, vẫn hăy cần
thiết cho thế kỷ hai mươi mốt này. Lamrim viết cho người tu Đại thừa nên không
cần bảo vệ Đại thừa, cũng không hề dùng luận lư để chứng minh thuyết tái sinh,
ngoại trừ một vài chỗ hiếm hoi trong bài pháp.
Những bộ luận như Trung Quán Tâm Luận Tụng [Madhyamikahridya] và Lượng
Thích Học [Pramanavrttika] là những bài pháp chứng minh thuyết tái sinh. Cần
phải mở đường vào Phật Pháp để mai sau phục hồi và hoằng dương Phật Pháp ở Tây
Tạng, huống chi là bây giờ hăy c̣n sống lưu vong. Muốn hành tŕ theo Phật Pháp
th́ cần hiểu rơ nét đặc thù của Phật Pháp, hiểu rơ những điểm tinh yếu trong
Phật Pháp. Hành tŕ cúng lễ với ḷng tin mù quáng, bây giờ đă quá thời. Giảng về
thuyết tái sinh, về Đại Thừa và cho rằng đây là điều hiển nhiên ai cũng phải
đồng ư, bây giờ lối giảng này đă không c̣n thích hợp nữa. Ngài Tông Khách Ba
soạn tác pháp Lamrim cho người đă học qua về hệ kinh Bát Nhă và Trung Quán. Ngài
Gyaltsab Je khi giảng về Trí Tuệ Bát Nhă trong Ngọc Tâm Luận [Jewel
Heart] thường vẫn trích dẫn Lamrim. Ngài Tông Khách Ba trong Viên Toàn Vận
Mệnh [Destiny Fulfilled] có nói rằng ngài đă nhờ Lamrim mà thâm nhập được
Tuệ Bát Nhă. Lamrim rơ ràng là lời khai thị của hệ kinh Bát Nhă. Muốn hiểu
Lamrim, phải tu Lượng học, Trung Quán, Luật Tạng và A T́ Đạt Ma. Đạo sư Jamyang
Shepa có nói rằng hệ kinh Bát Nhă bao gồm cả năm môn học chính.
Chúng ta nhất định phải tinh thông những bộ kinh điển này. Nói như vậy không
phải chỉ là nói cho tăng ni. Đừng nghĩ rằng Phật tử tại gia không cần học, nghĩ
như vậy là sai lầm lạc hậu vô cùng. Hơn nữa, trong Phật giáo, phải dùng trí tuệ
để mà phát tâm đại bi, phát tín tâm. Không thể chỉ dựa vào lời Phật nói. Trí tuệ
quan trọng hàng đầu. Nói theo chữ đời nay, chúng ta vận dụng bộ óc để mà chuyển
tâm. Chữ Pháp [Dharma] tiếng Tạng gọi là chos, có nghĩa là "chuyển hóa và thay
đổi tâm". Chuyển tâm không có nghĩa là thay đổi trên phương diện nhận thức. Chức
năng nhận thức của tâm tự nó không có vấn đề, không thể đoạn dứt, và cũng chẳng
cần đoạn dứt. Tâm thức không thể ngừng. Chân tánh của tâm th́ phi vật chất, bất
khả đoạn diệt. Hễ tâm thức c̣n th́ nhận thức và cảm xúc c̣n. Đây là điều không
thể tránh. Vậy th́ phải đoạn diệt cái ǵ đây? Thuần tâm nghĩa là ǵ? Thay đổi ǵ
trong tâm? Đương nhiên là chúng ta có những kinh nghiệm cảm xúc, nhận biết đối
cảnh; tuy vậy, cảm giác bất hạnh mà cảm xúc và nhận thức mang đến, đó chính là
điều chúng ta muốn loại bỏ để được hạnh phúc. Chúng ta không thể ngồi thiền để
loại bỏ nhiệt độ trong không khí, ví dụ như cái lạnh này đây. Điều này khó ḷng
làm được. Họa may lạc trong thiền định về nội hỏa, toát mồ hôi ra th́ hết lạnh.
Bằng không, trời đang lạnh mà tưởng tượng là nóng th́ cũng chẳng được ǵ. Tốt
hơn nên kiếm áo ấm mặc vào. Không thể tu thiền để mà dẹp bỏ giá rét quanh đây.
Có nhiều loại khổ thể xác dùng vật chất xoa dịu th́ tốt hơn. Vật chất bên ngoài
hữu dụng trong những trường hợp như vậy, Quan trọng hơn cả, đó là chúng ta gặp
điều tốt hay xấu đều tùy ở cách suy nghĩ của chúng ta. Từ đó phát sinh hành động.
Nếu cách suy nghĩ, thái độ của chúng ta không tốt, từ đó đưa đến lối hành xử gây
bất hạnh cho ḿnh cho người thân, tàn hại người khác, mang đến niềm ân hận. Mọi
vấn đề đều đến từ tâm bất thuần thiếu kỷ luật của chúng ta, đây là điều cần phải
thay đổi. Thái độ và lối tư duy của chúng ta cần được chuyển hóa cho tốt hơn. V́
sao? Lư do rất đơn giản: chúng ta ai cũng muốn được hạnh phúc, không ai muốn khổ
đau. Phần lớn khổ đau đều đến từ lối tư duy suy nghĩ của chúng ta. V́ vậy cần
phải chuyển hóa trạng thái tâm thức tạo khổ đau này.
Khổ đau thân xác là quả sinh từ ác nghiệp đă gieo. Ác nghiệp này cần được hóa
giải ngay từ gốc rễ, bằng cách nắm giữ ngay từ nơi tâm. Chúng ta không phạm ác
nghiệp để tránh khổ tương lai. Vậy chuyển tâm có nghĩa là thay đổi tư duy và
thái độ. Bằng cách nào? Không thể cưỡng ép mà được. [...] Ví dụ khi huấn luyện
dă thú, trước tiên phải khéo léo cho chúng ăn, chăm sóc cho chúng, có như vậy
chúng mới biết tin nơi người. C̣n nếu nuôi sư tử cọp báo mà tàn nhẫn đánh đập,
chúng sẽ tấn công lại người nuôi. Phải dùng ḷng yêu thương chăm sóc, kèm một
chút đánh mắng, dă thú mới biết nghe lời. Muốn thuần súc vật cũng phải khiến cho
chúng vừa ḷng, tàn bạo đánh đập là không được. Chúng ta là con người ! Làm sao
có thể dùng bạo lực để khuất phục. Đây là điểu không thể.
Vậy muốn chuyển tâm th́ phải làm sao? Phải tin chắc "chuyển tâm như vậy là nên,
là tốt", khi ấy, quá tŕnh chuyển tâm sẽ bắt đầu. Muốn tin chắc như vậy th́ phải
làm sao? Phải hiểu rơ lư do v́ sao. Ví dụ như tín tâm. Phải vận dụng lư trí để
xét về đối tượng của tín tâm, bằng cách liên tục tư duy suy nghĩ. Mới đầu cảm
thấy ṭ ṃ, rồi tin, rồi thay đổi.
Muốn phát tâm đại bi, chỉ đơn giản cảm thấy tội nghiệp người khác là không đủ.
Cần thấy rơ lư do và tầm quan trọng của tâm đại bi bằng cách lấy chính ḿnh ra
mà xét để cảm thấy chán ghét nỗi khổ chung của cả chúng sinh. Cứ thường xuyên
quán xét như vậy, từ từ sẽ thấy tâm đại bi luôn mang lợi đến cho ḿnh, c̣n tâm
sân hận ác ư th́ lại luôn gây hại cho ḿnh. Dùng lư trí mà xét như vậy, từ từ sẽ
thấy muốn phát huy đại bi và tín tâm, dẹp bỏ sân hận. Phật giáo chuyển tâm bằng
lư trí, không phải chỉ đơn giản nói "đó là lời Phật", cũng không nói "nếu không
sẽ đi địa ngục", quí vị đă hiểu chưa? Phải chuyển tâm bằng tư duy suy nghĩ. Để
làm được như vậy, chúng ta cần biết rơ nội dung của lănh vực đề tài cần tư duy
suy nghĩ. Lănh vực tư duy càng phong phú th́ khả năng tư duy lại mở rộng, rồi từ
khả năng tư duy lớn rộng này sẽ phát sinh một loại nhận thức mới, một niềm tin,
một ư thức mới, khiến tâm không thể nào không thay đổi. V́ vậy học hỏi về nội
dung giáo pháp Phật dạy là điều quan trọng hàng đầu.
Đối với người Tây phương cũng vậy, quí vị phải học Phật Pháp. Hoàn tất ba năm
nhập thất mà tâm không chút thay đổi th́ liệu có ích ǵ ngoài chút ít lực gia
tŕ nhận được. Quí vị rất thích ngồi thiền, nhưng tu thiền không phải chỉ đơn
giản là ngồi yên. Thỏ hay chim chúng cũng có thể ngồi rất yên. Ở Delhi, bên
ngoài cửa sổ khách sạn vào mùa đông, tôi thường thấy chim bồ câu chúng ngồi rất
yên. Chắc là đang ngồi thiền! Khi không có nguy hiểm ǵ cạnh bên, chúng thường
xù lông lim dim mắt ngồi thiền. Ngồi thiền kiểu này, rốt lại vẫn không thể giảm
được tí teo nào của ḷng sân hận, ganh ghen, tật đố, tham lam, kiêu mạn, th́
thiền để làm ǵ ! Ngược lại, nhờ suy xét mà thấy được sự tai hại của ḷng kiêu
mạn sân hận, chừng đó sẽ có khả năng thay đổi. Gặp nghịch cảnh chúng ta sẽ bớt
giận, bớt kiêu, bớt tham, bớt ganh. Đây mới là công phu hành tŕ chân chính. Có
người khoát mũ mạo áo xống quái gở, nh́n như người điên, thật là lố bịch. Vậy mà
tự xưng ḿnh là "Pháp Vương", là "Pháp Sư". Thực ra chỉ làm tṛ lố lăng. Nhưng
có những kẻ ngu xuẩn lại tôn sùng những tṛ lố lăng như vậy. Tôi thật không hiểu!
Đây là hậu quả của sự không biết rơ về chánh pháp. Ngày nay ở Tây Tạng có nhiều
người Tây Tạng làm tṛ lừa đảo như vậy. Họ c̣n đến tận Trung Quốc, Đài Loan, với
dụng ư bất chính, hứng thú với việc nhận phong b́ đỏ. Tôi nghi mấy cái phong b́
đỏ bây giờ mỏng hơn trước, tại kinh tế Đài Loan đang hơi khó khăn. Bây giờ người
ta đă học thuộc được một điều: mấy Lamas Tây Tạng thích "phong b́ đỏ". Thật là
điều sỉ nhục. Nếu không để ư, Phật Pháp sẽ bị lợi dụng. Gần đây, có lẽ năm ngoái,
tôi gặp một vị người Hoa từ trong nước đến gặp tôi nói rằng bây giờ ở Trung Hoa
có nhiều người Tây Tạng giả mạo làm thầy tu, tự xưng là Pháp Vương, người Hoa v́
không biết nên tin tưởng họ. Thầy tu giả mạo này lợi dụng tín đồ, có khi c̣n lợi
dụng t́nh dục, làm những việc tồi bại đáng sỉ nhục. Vị người Hoa ấy hỏi tôi có
thể làm ǵ được để ngăn chận những trường hợp giả mạo này. Tôi trả lời: "tôi
không thể làm ǵ được cả". Quan trọng nhất là Phật tử phải biết rơ về những phẩm
hạnh mà đạo sư cần phải có như trong Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận nói
rơ, rồi phải suy nghĩ xem kẻ-gọi-là-thầy kia có hội đủ tiêu chuẩn hay không. Đủ
tiêu chuẩn th́ chấp nhận, không đủ th́ phải vất bỏ. Từ phía của đệ tử phải biết
rơ bậc đạo sư chân chính cần phải có những phẩm hạnh nào, theo đó mà quan sát
mấy ông Lama Tây Tạng. Phải nên như vậy. Ngoài ra tôi chẳng thể giúp được ǵ.
Học và hiểu Phật Pháp là điều quan trọng vô cùng.
HẾT NGÀY 1
Ngày 2
by
hongnhu
on Tue Feb 03, 2009 7:34 pm
Ngày 2
Tiếng nhiệm mầu của Phật / là tam tạng kinh điển
Lời huấn dụ dành cho / cả ba loại chúng sinh.
Hạt vàng quí giá này / của truyền thống Kadam,
Ai người thốt lên sẽ / toàn thành mọi ước nguyện
Đây là lời của ngài Dromtonpa, tổ sư ḍng Kadampa. Ngài nói rằng nguyên nhân
khiến chúng ta bị hủy hoại vốn nằm sẵn trong ta. Đó là ba chất độc vọng tâm
phiền năo. Đây chính là cội rễ của mọi việc làm sai quấy. Ngài Dromtonpa giải
thích rơ hơn đâu là nhân duyên phát sinh tam độc, đâu là thuốc hóa giải tam độc.
Trước hết luôn nhớ vọng tâm phiền năo là cội nguồn của khổ đau; sau đó tăng
cường biện pháp hóa giải để đoạn diệt phiền năo, siêu thoát khổ đau, đạt quả
niết bàn; sau cùng là đoạn diệt toàn bộ tập khí của phiền năo, đạt quả vị Phật.
Trí toàn giác và phương pháp viên thành Phật quả là đường tu Giới Định Tuệ nằm
trọn trong "tiếng nhiệm mầu của Phật", được gọi là "Tam Tạng Kinh Điển".
Giáo pháp này nhiệm mầu, phi thường, tuyệt diệu, tác thành mọi mục tiêu ngắn hạn
và mục tiêu cứu cánh của chúng sinh. Tuyên thuyết giáo pháp thâm diệu này là để
hướng dẫn người tu khởi đi từ bước đầu tiên, bước qua trọn con đường tu theo
tŕnh tự rơ ràng, trong một thời tọa thiền, đúng với căn cơ của bậc thượng căn,
trung căn và sơ căn. Thầy Atisha thuyết giảng phương pháp tu dành cho ba loại
căn cơ trên đường tu tuần tự giác ngộ, đó là "lời huấn dụ dành cho cả ba loại
chúng sinh".
"Hạt vàng quí giá này / của truyền thống Kadam", là biển luận văn tối hảo,
ví như những hạt vàng, các đạo sư ḍng Kadam đă theo đó để hành tŕ, bất cứ
chúng sinh thuộc loại căn cơ nào cũng đều có thể nhờ vào đó để toàn thành mọi
ước nguyện ngắn hạn và dài hạn một cách dễ dàng. Như viên ngọc như ư, toàn thành
mọi ước nguyện cho chúng sinh.
Hạt vàng quí giá này / của truyền thống Kadam,
Ai người thốt lên sẽ / toàn thành mọi ước nguyện
Đại sư Atisha soạn luận Đèn Soi Đường Giác Ngộ, và có nhiều đời đệ tử
nhất tâm tu theo bài pháp này, từ đó mà thành ḍng Kadampa. Theo thời gian, pháp
tu chuyển tâm của ḍng Kadampa dành cho ba loại chúng sinh đă đi vào hệ thống tu
của phái cựu dịch Nyingma và ba phái tân dịch, Kagyu, Sakya và Gelug, mỗi nơi
dùng chữ khác nhau để giải thích. Có nơi nói đến "bốn phương pháp xoay lưng với
sinh tử luân hồi", nơi khác lại nói là "đường tu tuần tự giác ngộ dành cho ba
loại chúng sinh của ngài Atisha", v.v..., có những khác biệt như vậy trong thuật
ngữ và văn phong hướng dẫn đệ tử. Giáo pháp ḍng Kadampa vào thời gian đầu có
một bài lamrim của ngài Sharawa, tôi chưa từng được đọc, nhưng được nghe thầy
Kyabje Trijang Rinpoche nói rằng ngài Sharawa mở đầu bài pháp bằng cách giảng về
Phật tánh. Trong Trang Nghiêm Giải Thoát Luận, bậc thầy vô song Dakpo
Lhaje, c̣n có tên là Gampopa, lại nói về "luân hồi và niết bàn" ngay từ đầu bài
pháp, rồi trong phần đường tu giải thoát, ngài bắt đầu giảng về Phật tánh, theo
đó mà hướng dẫn đệ tử. Có nhiều sự khác biệt nho nhỏ như vậy trong phương cách
hướng dẫn đệ tử ở bước khởi đầu.
Lại có một vị thầy ḍng Kadampa hướng dẫn đệ tử bằng cách bắt đầu bằng mười hai
chi duyên khởi. Ngài giải thích rằng do vô minh không hiểu nhân quả nên tích lũy
ác nghiệp, v́ ác nghiệp mà đọa sinh cơi dữ. Đó là dựa vào mười hai duyên khởi để
giải thích về đường tu của bậc sơ căn. Tiếp theo, ngài nói rằng do vô minh không
biết chân tướng của thực tại nên tích lũy nghiệp, v́ nghiệp mà trôi lăn trong
sinh tử luân hồi, như là tạo phước nghiệp hay bất động nghiệp th́ thọ sinh thiện
đạo. Ngài dùng nghiệp để nói về sinh tử luân hồi, giải thích đường tu của bậc
trung căn qua duyên khởi. Ngoài ra c̣n một bài pháp khác, tôi chưa được đọc,
hướng dẫn đệ tử qua Tứ Đế.
Nói tóm lại, sau khi ngài Atisha soạn luận Đèn Soi Đường Giác Ngộ, nói rơ
về phương pháp tu tùy căn cơ [52:30] qua con đường tuần tự dành cho ba loại
chúng sinh, sau đó dựa vào bài pháp này, các truyền thống Phật giáo Tây Tạng
Nyingma, Kagyu, Sakya và Gelug, kể cả tôn giáo Bon, tất cả đều mang cùng một hệ
thống tu chuyển tâm của ngài Atisha lúc bấy giờ đang được phổ biến rộng răi.
Việc mà Lama Tông Khách Ba đă làm, đó là mở rộng pháp tu của các bậc thầy ḍng
Kadampa truyền lại, và cũng có thể là tóm gọn lại nhiều lời khai thị, lớn cũng
như bé, về tŕnh tự đường tu giác ngộ. Thêm vào đó, riêng về phần tri kiến, vào
thời Lama Tông Khách Ba có Lama Rendawa, là bậc thầy vĩ đại thuộc ḍng Sakya,
thầy Rendawa rất tin vào tri kiến Trung Quán, điều này có lẽ đă thành nguồn cảm
hứng của Lama Tông Khách Ba. Bản thân Lama Tông Khách Ba đă nhiều đời tin tưởng
sâu xa vào tri kiến tánh không toàn hảo này. Lúc bấy giờ, luận văn của ngài
Nguyệt Xứng rất thịnh hành ở Tây Tạng. Đến thời ngài Sharawa th́ ngài Patshab
Nyima Drak vừa mới dịch xong bộ Trung Quán Luận Thích [Madhyamika Avatara]
của ngài Nguyệt Xứng ra tiếng Tây Tạng, trước đó cũng đă có bản dịch của Nagtso
Lotsawa, bản dịch của ngài Patsab đến sau. Vào thời đó, luận văn và tri kiến của
ngài Nguyện Xứng được phổ biến rộng răi, nhiều người tu học theo tri kiến này.
Ngài Atisha có nói rằng ngài Nguyệt Xứng là đệ tử của Thánh Long Thọ, chúng ta
phải bước theo ngài, họa may mới có thể hiểu được tri kiến tánh không cực kỳ vi
tế của ngài Long Thọ. Đây có lẽ là lư do v́ sao tri kiến của ngài Nguyệt Xứng
được phổ biến rộng răi. Tôi có đọc qua bài pháp kể rằng ngài Rendawa chuyên tâm
tu tập theo tri kiến Trung Quán, đến nỗi thời đó có câu châm ngôn nói rằng "khi
ngồi, ngồi với tri kiến Trung Quán, khi đi, đi với tri kiến Trung Quán, khi suy
nghĩ, suy nghĩ với tri kiến Trung Quán, khi nói, nói với tri kiến Trung Quán".
Quả đă từng có một thời như thế !
Lama Tông Khách Ba xuất hiện vào thời điểm ấy, mọi điều kiện trong ngoài đều
thuận tiện. Bậc thầy vĩ đại này đă tu học tường tận, phân tích căn kẽ tri kiến
Trung Quán thâm sâu, v́ vậy trong các bộ luận lamrim của ngài, Lama Tông Khách
Ba nêu rơ tri kiến của cả hai bậc tiên phong, ngài Long Thọ và ngài Vô Trước.
Khi viết về "Đường Tu Quảng Đại", ngài chủ yếu thuận theo kinh luận của ngài Vô
Trước, nhưng khi nói đến tri kiến thậm thâm trung đạo, mặc dù có nhiều bậc đạo
sư thuyết giảng về tri kiến Trung Quán, nhưng khi mang lư luận ra phân tích mổ
xẻ th́ loại tri kiến thoát mọi mâu thuẫn, dễ dàng khẳng định thực tại qui ước
cùng lúc với thực tại cứu cánh, và cũng dễ dàng nhận định thực tại cứu cánh khi
nói về thực tại qui ước, nói cách khác, là tri kiến vi tế nhất về sự bất nhị
giữa tánh không và tướng hiện [giữa chân không và diệu hữu], giữa chân đế nhị đế,
tri kiến chinh phục được trái tim của các bậc trí giả, vẫn chính là tri kiến của
bậc đại cát tường Nguyệt Xứng. Vậy Lamrim đích thật là giáo pháp trân bảo do các
bậc thầy của ngài Atisha truyền lại, ngài Serlingpa, và Regpai Khujug (Vidaykokila),
những bậc thầy tinh thông cả hai hệ thống Long Thọ và Vô Trước. Vậy chúng ta có
"Tŕnh Tự Đường Tu Quảng Đại" do ngài Vô Trước giữ ǵn và hoằng dương, c̣n tri
kiến Trung Quán lại được truyền xuống qua ngài Long Thọ, và được minh giải nhờ
các bộ luận của ngài Nguyệt Xứng. Cả hai phối hợp thành một bài pháp tuyệt hảo,
đó là luận Lamrim này đây của Lama Tông Khách Ba. Đây không phải chuyện đời xưa.
Bộ luận này hiện đang nằm đây, ngay trước mặt của chúng ta. Chúng ta có thể cầm
đọc được!
Lama Tông Khách Ba đă viết ra tất cả là mười tám bộ luận. Nói về số lượng th́
bấy nhiêu không phải là nhiều. Buton Rinpoche viết được nhiều hơn. Có nhiều vị
lama Tây Tạng viết rất nhiều bộ sách, hai mươi bộ, ba mươi bộ, bốn mươi bộ, năm
mươi bộ... Như Bodong Chokley Namgyal, chẳng hạn, h́nh như viết ra hơn 100 bộ
luận. Nhiều học giả cũng viết rất nhiều sách. Nh́n lại lịch sử Tây Tạng, tôi
nghi ngờ dân Tây Tạng kính ngưỡng các thầy viết nhiều sách mà chẳng cần biết là
viết những ǵ, thậm chí c̣n dựa vào số lượng sách viết ra để tặng danh hiệu "Toàn
Giác", Bậc Toàn Giác này, Bậc Toàn Giác kia., vân vân và vân vân. Thật ra có
xứng với danh hiệu ấy hay không phải lấy chất lượng mà xét, chẳng thể xét số
lượng. Nói về số lượng th́ Lama Tông Khách Ba chỉ viết có 18 bộ luận. Số lượng
không nhiều nhưng chất lượng thật siêu phàm. Trong số đó, chỉ có một vài cuốn
nói về nghi lễ thông thường dành cho Phật tử tại gia, ví dụ như Mahabala
Triệu Mưa, cùng vài tựa sách không đáng kể. Lama Tông Khách Ba đặc biệt có
khả năng chọn lựa và tŕnh bày những điểm hóc búa của cả hai hệ thống quảng đại
và thâm sâu. Trong bộ luận Tinh Túy Chân Hùng Biện [Essence of True
Eloquence], ngài b́nh luận về tri kiến của hai tông Duy Thức [Idealism] và Trung
Quán. Trong phần nói về Duy thức, ngài trích các bộ luận của ngài Vô Trước như
Bồ Tát Thập Địa [Bodhisattva Bhumi], Đại Thừa Tập Luận
[Condensation], A-t́-đạt-ma Tập Luận [Compendium of Knowledge] v.v... Ví
dụ như luận Bồ Tát Thập Địa có cả hai trăm quyển, vậy mà ngài Tông Khách
Ba lại chọn những đoạn hóc búa nhất. Hay như bộ Đại Thừa Tập Luận
[Condensation], nói về rất nhiều đề tài, ngài Tông Khách Ba cũng lại trích những
câu khó nhất. Khi trích luận Tuệ Đăng [Lamp of Wisdom], hay luận Trung
Quán Tâm Quang Minh Biện Luận [A Blaze of Reasoning] của ngài Thanh Biện,
ngài luôn chọn những câu khó hiểu nhất. C̣n luận Minh Cú [Prasanapada]
của ngài Nguyệt Xứng th́ Lama Tông Khách Ba lại chọn phần phức tạp bàn về "nhận
thức đúng đắn" và "lư luận trùng lặp" (valid cognition and logical redundancy).
V́ lư do này, tác phẩm của Lama Tông Khách Ba số lượng tuy không nhiều, nhưng
chất lượng thật siêu phàm, minh giải những điểm mà người b́nh thường cảm thấy mù
mờ mâu thuẫn, không thể lư giải. Lama Tông Khách Ba đặc biệt mổ xẻ những điểm
hóc búa này, phân tích cặn kẽ, giải thích rơ ràng.
Tây Tạng trong quá khứ có ba bậc thầy được xem là "hiện thân của đức Mạn Thù.
Xếp theo thứ tự lịch sử th́ có Sakya Pandita, Longchen Rabjampa và Lama Tông
Khách Ba. Ba vị được xem là hiện thân của đức Mạn Thù, tôi nghĩ điều này chính
xác vô cùng. Ví dụ ngài Sakya Pandita là một bậc học giả thông tuệ về Nhận Thức
Luận [Epistemology]. Tôi không biết ngài có viết ǵ nhiều về Trung Quán hay
không, nhưng tác phẩm về Nhận Thức Luận của ngài th́ thật không thể tưởng tượng
nổi. Ngài tu học với sư phụ là Panchen Sakya Shri, cũng là bậc thầy tinh thông
Phạn tự. Cứ đọc thử bộ Rig-ter, sẽ thấy trí thông tuệ của ngài về Nhận Thức Luận,
thật đáng kinh ngạc. Ngài tinh thông cả năm món khoa học (ngũ minh). C̣n ngài
Longchen Rabjampa th́ tinh thông kinh điển, biết rành mọi truyền thống tu tập.
Và cuối cùng là Lama Tông Khách Ba, như tôi có đă nói, là bậc học giả thông tuệ
phi thường. Cả ba vị đều xứng với danh hiệu "hiện thân của đức Mạn Thù".
Trong số 18 bộ luận do Lama Tông Khách Ba trước tác, chúng ta có bộ Lamrim
Đại Luận dành cho hiển pháp, Ngarim Đại Luận, dành cho mật pháp, và
Tinh Túy Chân Hùng Biện [Essence of True Eloquence] là bài pháp tinh yếu
cho cả hai bộ luận nói trên.
HẾT NGÀY 2
Ngày 3
by
hongnhu
on Thu Feb 05, 2009 6:09 pm
NGÀY 3
Lama Tông Khách Ba nói trong Chứng Đạo Ca như sau:
Pháp này thu gọn / tinh túy chánh pháp
của lời Phật dạy / V́ vậy dù chỉ, / đọc nghe một lần
cũng sẽ có được / vô vàn công đức
như là tu tập / toàn bộ chánh pháp.
Giáo pháp chúng ta sắp sửa tu học đây là dựa vào Đèn Soi Đường Giác Ngộ[i]
của ngài Atisa, cùng các luận giải của bài pháp này, luận giải của luận giải, và
sổ tay tu học, tất cả đều cho thấy tinh túy của toàn bộ Phật Pháp hiển mật cùng
luận giải của các bậc thầy xứ Ấn đều có thể xếp lại thành một đường tu nhất quán,
dành cho một người, tu trong một đời, mà không lẫn lộn tŕnh tự tu chứng. V́ vậy
khi học theo sách Lamrim là phải ứng phó với trọn vẹn 84000 pháp môn của Phật,
và như vậy cũng giống như là tu học trọn vẹn 84000 pháp môn. Lama Tông Khách Ba
nói rằng đọc tụng hay lắng nghe pháp lamrim này dù chỉ một lần cũng tích tụ công
đức tương đương với công đức thuyết giảng lắng nghe toàn bộ chánh pháp của Phật.
Ngày hôm nay chúng ta cầm trong tay luận Lamrim này là để tu học trọn vẹn tinh
túy của 84000 pháp môn Phật dạy. Đặc biệt bộ Lamrim Đại Luận này lại do Lama
Tông Khách Ba hoàn tất với lực gia tŕ nhiệm mầu của chư Phật chư Bồ tát. Đúng
như lời Lama Tông Khách Ba nói,
[i]"nhờ năng lực gia tŕ của chư Phật và các bậc trưởng tử, tôi hoàn tất Tŕnh
Tự Đường Tu Giác Ngộ. Nguyện sách này sẽ mang sự nhiệm mầu đến cho tâm người cầu
giải thoát, vĩnh viễn giữ ǵn gia tài của Phật."
Bộ Lamrim Đại Luận do Lama Tông Khách Ba soạn tác tại Radeng Monastery. Khi nói
"mang sự nhiệm mầu đến trong tâm người cầu giác ngộ", điều này có nghĩa
là khơi động trí tuệ, chuyển tâm vô kỷ luật thành tâm thuần dịu, lập tức an định
và nhờ vậy người tu tự nhiên càng lúc càng ít phạm lỗi, trở thành bạn hiền của
tất cả chúng sinh trong đời này, kể cả các loài kiến sâu. Có thể là hơi khó làm
bạn với loài rận, phải không? Nhất là khi chúng chờ ḿnh ngủ say để mà cắn... và
muỗi cũng vậy... tôi không biết đối xử tốt với chúng có được chúng thương lại
hay là không. Các loài súc vật khác, ḿnh thương chúng th́ chúng thương lại.
Nhưng tôi nghĩ loài muỗi chắc không có khả năng này. Vậy th́ ngoại trừ một số ít
ra, c̣n lại tất cả chúng sinh, mang trái tim thương yêu ra tặng th́ tất cả sẽ
trở thành bạn hiền, thân thiết với ḿnh. Nhờ đó thoát được sự sợ hăi bất an đối
với người khác. Ví dụ như trong xă hội Tây Tạng, bất kể là hiểu biết nhiều hay
ít về Phật Pháp, những người có được tín tâm th́ cho dù bị cầm tù, hành hạ nhiều
năm, thậm chí bị giết chết, cũng đều tặng lại cho người hành hạ ḿnh lời cầu
nguyện b́nh an. Có câu chuyện xảy ra ở Tu Viện Tashi Kyil bên Tây Tạng, có vị
thầy Geshe thông tuệ bị cầm tù, sau đó bị xử tử. Ngay trước lúc hành h́nh, thầy
đọc câu kệ này:
Nguyện đạo sư hộ niệm / cho con gánh tất cả
ác nghiệp cùng khổ nạn / của tất cả chúng sinh.
Nguyện hạnh phúc công đức, / tặng hết cho chúng sinh
được hạnh phúc an lạc.
Sau đó thầy bị hành h́nh. Có phải là đáng phục hay không ? Khi tâm của chúng ta
an định, tự nhiên đời sống cũng sẽ hạnh phúc vui vẻ hơn. Đây là lẽ đương nhiên.
Hoà b́nh và hạnh phúc trong đời chỉ đến từ bên trong, không thể t́m ở bên ngoài.
V́ vậy, pháp tu chuyển tâm là lối đi thâm diệu nhất đưa đến miền hạnh phúc. Phần
lớn chúng ta đều nghĩ rằng muốn hạnh phúc th́ phải có tiền tài, danh vọng, quyền
lực, gia đ́nh, nhưng đây là lối suy nghĩ thiển cận, không khác ǵ súc vật. Loài
thú chỉ cần đứng trong đàn, có cỏ xanh, nước uống, không hiểm nguy ŕnh rập, là
chúng cảm thấy an ổn yên vui. Nếu làm người mà lại nghĩ rằng hạnh phúc chân
chính nằm trong bối cảnh vật chất, như là nhà cửa, tài sản, danh vọng, gia đ́nh,
th́ so với thú vật không khác, thật nông cạn lắm. Nếu có thể giữ tâm an định
trong cảnh bất hạnh, đây mới là đặc điểm của loài người, đây mới là dấu hiệu của
trí thông minh. Thú vật khi gặp nguy hiểm là chạy trốn, như con nai bị săn trong
câu chuyện của ngài Milarepa, hốt hoảng chạy quàng đến động của ngài, toàn thân
mồ hôi ướt đẫm. Nếu chúng ta không thể kham nổi khó khăn nghịch cảnh bên trong
và bên ngoài th́ chẳng khác ǵ loài súc vật. Chuyển được khổ đau sinh lăo bệnh
tử, biến cảnh bất hạnh thành sức mạnh, đó mới là thông minh. Không phải sinh vật
nào cũng có khả năng làm được điều này, chỉ có loài người, nhờ trí thông minh.
Khi đối diện với nghịch cảnh, thay v́ lo âu sợ hăi, hăy nên can đảm tự tín trực
diện đối đầu. Ở các tôn giáo khác, người ta cầu nguyện Thiên Chúa, cầu nguyện
thần linh che chở cho ḿnh thoát nỗi sợ. Phật giáo có nhiều phương pháp giữ tâm
an định. Hơn vậy, chúng ta lại c̣n chấp nhận tai ương, thậm chí c̣n mong gánh
thêm vào. Lama Thoyon, có lẽ là người Mông Cổ, khi viết tác phẩm tuyển tập giáo
pháp ḍng Kadampa, đến cuối sách ngài hồi hướng công đức nguyện vĩnh viễn sinh
vào cơi dữ, một khi sinh vào nơi đó, nguyện vĩnh viễn gánh hết khổ đau của chúng
sinh, chẳng bao giờ thành Phật. Thật đáng kinh ngạc! Tôi thật chẳng bao giờ có
được ư nghĩ như vậy. Mặc dù tôi có thể tưởng tượng được "tâm bồ đề như người đưa
thuyền". Lời nguyện này đă để lại nhiều ấn tượng trong tâm tôi, cho thấy rơ ḷng
can đảm không t́ vết của ngài Thoyon.
Bài pháp Cúng Dường Đạo Sư nói rằng:
Nguyện v́ mỗi chúng sinh / mà đi vào địa ngục / trong một thời gian dài. "
Để toàn thành hạnh tinh tấn trên đường tu vô thượng bồ đề, ngài Thoyon nguyện
không thành Phật quả, lại c̣n v́ chúng sinh mà vĩnh viễn sống trong cơi dữ, điều
này cho thấy ḷng can đảm vượt bực của ngài. Nhờ tu chuyển tâm, chúng ta có thể
chuyển mọi bất hạnh biến thành thuận duyên tu giác ngộ. Một người tầm cỡ này sẽ
chẳng bao giờ c̣n lư do ǵ để cảm thấy đau đớn khổ sở. Như câu kệ trong Nhập Bồ
Đề Hành Luận mà tôi vẫn thường nhắc đến:
Cưỡi ngựa bồ đề, / du hành cảnh vui
Ai người có trí / lại không tinh tấn?
Bao giờ không gian c̣n
Chúng sinh c̣n
Nguyện tôi c̣n ở lại
Xua tan khổ nạn cơi thế gian
Nếu có được ḷng can đảm, thấy rơ mục tiêu của đời sống này, sao cho làm việc ǵ
cũng đều mang lợi ích đến cho người khác, được như vậy niềm hạnh phúc vĩnh cữu
sẽ đâm chồi nảy nở trong tim. V́ vậy mà trong Lamrim Đại Luận, Lama Tông
Khách Ba nguyện rằng Lamrim sẽ "tạo sự nhiệm mầu trong tim" người tu, để
cho người tu có thể "vĩnh viễn tiếp nối việc làm của Phật". Hiểu Phật
Pháp bằng lư trí, hăy tu tập hành tŕ rồi san sẻ kinh nghiệm tốt đẹp của ḿnh
với người khác, trở thành tấm gương. Rồi người khác lại truyền thông điệp này đi
xa hơn, đưa Phật Pháp truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Từ đó mà có lời
nguyện cuối sách Lamrim Đại Luận như tôi có đă trích dẫn ở bên trên.
Chúng ta cần học Lamrim Đại Luận trong khóa học mùa xuân năm nay, cần cố
gắng chu toàn tâm nguyện của thầy Tông Khách Ba. Chúng ta không đến đây cho qua
thời giờ, cũng chẳng phải v́ không có việc ǵ khác tốt hơn để làm. Chúng ta đến
đây là v́ một lư do quan trọng, liên quan đến mỗi người trong chúng ta, cho đời
này và mọi đời sau. Tu Phật Pháp phải đúng với Phật Pháp, tu đại thừa phải đúng
với nguyên tắc của đại thừa. V́ lư do này, thính chúng và giảng sư đều phải giữ
tâm cho đúng cách trong suốt pháp hội.
HẾT NGÀY 3
Ngày 3
by
hongnhu
on Thu Feb 05, 2009 6:59 pm
Lamrim Chenmo - NGÀY 3
Lama Tông Khách Ba trong Chứng Đạo Ca có nói như sau:
Pháp này thu gọn / tinh túy chánh pháp
của lời Phật dạy / V́ vậy dù chỉ, / đọc nghe một lần
cũng sẽ có được / vô vàn công đức
như là tu tập / toàn bộ chánh pháp.
Giáo pháp chúng ta sắp sửa tu học đây là dựa vào bài pháp Đèn Soi Đường Giác
Ngộ của ngài Atisa, dựa vào luận giải của bài pháp này cũng như luận giải
của luận giải và sổ tay tu học. Tất cả đều cho thấy tinh túy của toàn bộ Phật
Pháp hiển mật cùng luận giải của các bậc thầy xứ Ấn đều có thể xếp lại thành một
đường tu nhất quán, dành cho một người, tu trong một đời, theo một tŕnh tự tu
chứng nhất định. V́ vậy tu học Lamrim là ứng phó với trọn vẹn 84000 pháp
môn của Phật, cũng giống như là tu học trọn vẹn 84000 pháp môn. Lama Tông Khách
Ba nói rằng đọc tụng hay lắng nghe pháp Lamrim này, dù chỉ một lần, công
đức tích tụ tương đương với công đức thuyết giảng lắng nghe toàn bộ chánh pháp
của Phật. Ngày hôm nay chúng ta cầm trong tay luận Lamrim này là để tu
học trọn vẹn tinh túy của 84000 pháp môn Phật dạy. Đặc biệt bộ Lamrim Đại
Luận này lại do Lama Tông Khách Ba hoàn tất với lực gia tŕ nhiệm mầu của
chư Phật chư Bồ tát. Đúng như lời Lama Tông Khách Ba nói,
"nhờ năng lực gia tŕ của chư Phật và các bậc trưởng tử
tôi đă hoàn tất Tŕnh Tự Đường Tu Giác Ngộ.
Nguyện điều này tạo sự nhiệm mầu trong tâm người cầu giải thoát,
để vĩnh viễn tiếp nối việc làm của Phật."
Bộ Lamrim Đại Luận do Lama Tông Khách Ba soạn tác tại Radeng Monastery.
Khi nói "tạo sự nhiệm mầu đến trong tâm người cầu giải thoát[i]", điều này có
nghĩa là khơi dậy nguồn trí tuệ, chuyển tâm vô kỷ luật thành tâm thuần dịu, lập
tức an định và nhờ vậy người tu tự nhiên càng lúc càng ít phạm lỗi, trở thành
bạn hiền của tất cả chúng sinh trong đời này, kể cả các loài kiến sâu. Có thể là
hơi khó làm bạn với loài rận đấy, quí vị thấy sao? Nhất là khi chúng chờ ḿnh
ngủ say để mà cắn... Cả loài muỗi cũng vậy... chẳng biết xử tốt với chúng có
được chúng thương lại hay không. Các loài súc vật khác, hễ ḿnh thương chúng th́
chúng thương lại. Nhưng loài muỗi chắc không có khả năng này. Vậy th́ ngoại trừ
một số ít ra, c̣n lại đối với tất cả chúng sinh, hăy mang trái tim thương yêu ra
tặng, tất cả sẽ trở thành bạn hiền, thân thiết với ḿnh. Nhờ đó chúng ta sẽ
thoát được nỗi sợ hăi bất an khi gặp người khác. Ví dụ trong xă hội Tây Tạng,
bất kể là hiểu biết nhiều hay ít về Phật Pháp, người có được tín tâm cho dù bị
cầm tù, bị hành hạ nhiều năm, thậm chí bị giết chết, cũng đều tặng lại cho người
hành hạ ḿnh lời nguyện b́nh an. Có câu chuyện xảy ra ở Tu Viện Tashi Kyil bên
Tây Tạng như sau: có một thầy Geshe thông tuệ bị cầm tù, sau đó bị xử tử. Ngay
trước lúc hành h́nh, thầy đọc câu kệ này:
[i]Nguyện đạo sư hộ niệm / cho con gánh tất cả
ác nghiệp cùng khổ nạn / của tất cả chúng sinh.
Nguyện hạnh phúc công đức, / tặng hết cho chúng sinh
được hạnh phúc an lạc.
Sau đó thầy bị hành h́nh. Có đáng ngạc nhiên hay không? Khi tâm của chúng ta an
định, tự nhiên đời sống cũng sẽ hạnh phúc vui vẻ hơn. Đây là lẽ đương nhiên. Ḥa
b́nh và hạnh phúc trong đời chỉ đến từ bên trong, không thể t́m ở bên ngoài. V́
vậy, pháp tu chuyển tâm là lối đi thâm diệu nhất dẫn đến miền hạnh phúc. Phần
lớn chúng ta đều nghĩ rằng muốn hạnh phúc th́ phải có tiền tài, danh vọng, quyền
lực, gia đ́nh, nhưng đây là lối suy nghĩ thiển cận, không khác ǵ cầm thú. Loài
thú chỉ cần đứng trong đàn, có cỏ xanh, nước uống, không bị hiểm nguy ŕnh rập,
là chúng cảm thấy an ổn yên vui. Nếu làm người mà lại cho rằng hạnh phúc nằm ở
phương tiện vật chất, như là nhà cửa, tài sản, danh vọng, gia đ́nh, th́ so với
thú vật không khác, thật nông cạn lắm. Phải biết cách làm sao giữ tâm an định
trong cảnh bất hạnh, đây mới là đặc điểm của loài người, đây mới là dấu hiệu của
trí thông minh. Thú vật gặp nguy hiểm th́ chạy trốn, như con nai bị săn trong
câu chuyện của ngài Milarepa, hốt hoảng chạy quàng đến động của ngài, toàn thân
ướt đẫm mồ hôi. Nếu chúng ta không gánh nổi nghịch cảnh bên trong và bên ngoài,
như vậy so với súc vật nào có khác ǵ? Chuyển khổ đau sinh lăo bệnh tử, biến
nghịch cảnh thành sức mạnh, đó mới là thông minh. Không phải sinh vật nào cũng
có khả năng làm được như vậy, chỉ có loài người, nhờ trí thông minh vượt bực.
Gặp phải nghịch cảnh, thay v́ lo âu sợ hăi, chúng ta hăy nên can đảm tự tín,
trực diện đối đầu. Người tu theo các tôn giáo khác th́ chí thành cầu nguyện
Thiên Chúa, cầu nguyện thần linh che chở cho ḿnh thoát nỗi sợ. C̣n Phật giáo
đặc biệt dạy cho chúng ta nhiều phương pháp để giữ tâm an định. Không những vậy,
lại c̣n chủ động chấp nhận tai ương, thậm chí c̣n cầu mong gánh nhiều thêm vào.
Lama Thoyon, có lẽ là người Mông Cổ, khi viết tác phẩm tuyển tập giáo pháp ḍng
Kadampa, đến phần hồi hướng cuối sách, ngài phát nguyện vĩnh viễn sinh vào cơi
dữ, vĩnh viễn gánh hết khổ đau của chúng sinh, chẳng bao giờ thành Phật. Thật
đáng kinh ngạc ! Tôi thật chẳng bao giờ có được ư nghĩ như vậy, mặc dù vẫn hiểu
có loại tâm bồ đề gọi là "tâm bồ đề ví như người đưa thuyền". Lời nguyện
này đă để lại nhiều ấn tượng trong tâm tôi, cho thấy ḷng can đảm không t́ vết
của ngài Thoyon.
Bài pháp Cúng Dường Đạo Sư nói rằng:
Nguyện v́ mỗi chúng sinh / mà đi vào địa ngục / trong một thời gian dài. "
Để toàn thành hạnh tinh tấn trên đường tu vô thượng bồ đề, ngài Thoyon nguyện
không thành Phật quả, v́ chúng sinh mà vĩnh viễn sống trong cơi dữ, ḷng can đảm
của ngài thật là vượt bực. Nhờ tu chuyển tâm, chúng ta có thể chuyển bất hạnh
thành thuận duyên trên đường tu giác ngộ. Được như vậy sẽ chẳng bao giờ c̣n lư
do ǵ để cảm thấy đớn đau khổ sở. Như trong câu kệ trích từ Nhập Bồ Đề Hành
Luận mà tôi vẫn thường nhắc đến:
Cưỡi ngựa bồ đề / du hành cảnh vui
Ai người có trí / lại không tinh tấn?
Bao giờ không gian c̣n
Chúng sinh c̣n
Nguyện tôi c̣n ở lại
Xua tan khổ nạn cơi thế gian
Có được ḷng can đảm, thấy rơ mục tiêu của đời sống này để việc làm nào cũng đều
mang lợi ích đến cho người khác, được như vậy, niềm hạnh phúc vĩnh cữu sẽ đâm
chồi nảy nở trong ta. Trong Lamrim Đại Luận, Lama Tông Khách Ba nguyện
rằng Lamrim sẽ "tạo sự nhiệm mầu trong tim"người tu, để người tu
có thể "vĩnh viễn tiếp nối việc làm của Phật". Người tu phải dùng trí tuệ
để hiểu Phật Pháp, rồi tinh tấn tu hành, rồi san sẻ kinh nghiệm tốt đẹp của ḿnh
với người khác. Tu sao cho chính ḿnh trở thành tấm gương cho người khác noi
theo, đưa Phật Pháp truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Cho nên mới có lời
nguyện cuối sách Lamrim Đại Luận như tôi vừa trích dẫn bên trên. Chúng ta
cần học Lamrim Đại Luận trong khóa học mùa xuân năm nay, cần cố gắng chu
toàn tâm nguyện của Lama Tông Khách Ba. Chúng ta không đến đây cho qua thời giờ,
cũng chẳng phải v́ không có việc ǵ khác tốt hơn để làm. Chúng ta đến đây là v́
một lư do quan trọng, liên quan đến mỗi người trong chúng ta, cho đời này và mọi
đời về sau. Tu Phật Pháp phải theo đúng Phật Pháp, tu đại thừa phải theo đúng
nguyên tắc của đại thừa. V́ lư do này, thính chúng và giảng sư đều phải giữ tâm
ḿnh cho thật đúng cách trong suốt pháp hội.
HẾT NGÀY 3
Ngày 4
by
hongnhu
on Sat Feb 07, 2009 9:34 pm
NGÀY BỐN
Đạo sư Gungthang Tenpe Donme nói rằng:
Tái sanh làm người, được một lần này,
là sống với nguy cơ sống lănh phí, không đạt đến được với mục tiêu của kiếp
người.
Xin hăy giữ chặt lời khuyên khẩn thiết này!
Chúng ta lấy năm hợp thể, hoặc lấy tâm của ḿnh, để mà cảm nhận về "cái tôi".
Chúng ta luôn tự nhiên cảm thấy "tôi muốn vui, tôi không muốn khổ", nhưng lại cứ
măi chạy theo hạnh phúc và khổ đau trước mắt, lầm lẫn cho rằng đây là hạnh phúc
khổ đau vĩnh cửu, v́ vậy mà chỉ biết theo đuổi hạnh phúc của đời này, nhất là
loại hạnh phúc vật chất. Rốt lại mọi điều mong cầu đều không thể đạt, cứ phải
đối diện với khổ đau trùng điệp. V́ tâm bất thuần mà phát sinh vọng tưởng, tự
khiến ḿnh khổ đau triền miên vô hạn. Nay chúng ta đă t́m được con đường chỉ dẫn
phương pháp chặt bỏ gốc rễ khổ đau, đạt nguồn an lạc vĩnh viễn, vậy cần tận dụng
cơ hội hiếm hoi quí giá này, không để phí uổng. Mặc dù chúng ta phần lớn đều
muốn tu theo Phật Pháp, có được chút tín tâm, nhưng v́ giải đăi biếng lười nên
cứ hẹn lần sau này hẳn tu. Cuộc đời cứ vậy trôi qua trong lười biếng. Khi c̣n
trẻ th́ bận rộn với chuyện trong đời, lo đeo đuổi sự nghiệp, cho rằng chuyện tu
hành là chuyện của người già. Cứ vậy một năm thoáng chốc đă xong. Từng ngày,
từng tuần, từng tháng, cuộc đời trôi qua trong phút giây! Khi đến Ấn Độ vào năm
1959, chúng ta nuôi thật nhiều hy vọng, nghĩ rằng sẽ làm được nhiều việc trước
năm 2000. Năm 2000 đă qua. Bây giờ đă là cuối tháng 02 năm 2005. Vài tháng trước,
chúng ta háo hức chờ đợi pháp hội Lamrim này. Bây giờ đă vào ngày thứ tư. Thời
gian cứ thế mà trôi, thấm thoát đến tuổi về chiều. Trí nhớ không c̣n được như
xưa, hối hận sao thời trẻ không lo tu. Rồi than văn sao trí óc bây giờ không c̣n
khả năng suy nghĩ, chỉ c̣n biết hướng về đạo sư và Tam Bảo để cầu nguyện cho
kiếp sau. Đến khi chết mới thấy bản thân đă không hết ḷng tu theo Phật Pháp,
phí uổng thời gian cho những pháp tu hời hợt, bé mọn, chỉ c̣n mong sau khi ĺa
đời được người khác hộ niệm giúp cho. Thật quá vô vọng! Trước khi chết hăy gắng
tu cho khéo. Người tu giỏi là người chết với tâm an lạc hạnh phúc. Người tu khá
là người chết với ḷng tự tin. Người tu trung b́nh là người chết không hối tiếc.
Nếu trước thềm cửa tử quí vị có được ḷng tự tín nói với thân nhân rằng khi ĺa
đời quí vị không cần ai hộ niệm v́ đă biết tận lực tu hành, chẳng phải tốt lắm
sao? Phần lớn chúng ta đều chết trong nuối tiếc, lo âu, hỗn loạn. Cả những người
ngày thường hay huênh hoang, đến khi chết hiện rơ nguyên h́nh, chẳng biết số
phận ḿnh rồi sẽ ra sao. Họ chết với tâm hối lỗi tràn trề.
Vậy chúng ta cần phải lắng nghe lời khuyên của Gungthang Rinpoche như đă nói lúc
năy. Cái chết đương nhiên sẽ đến, nhưng bao giờ cái chết đến thật chẳng ai có
thể nói trước. Chúng ta luôn cho rằng chưa chết ngay đâu, sức khỏe c̣n tốt thế
này, lại có đủ mọi điều kiện sinh tồn. Tuy vậy, chẳng ai có thể bảo đảm chắc
chắn 100% rằng ḿnh sẽ không chết. Có nhiều việc trong ngoài có thể bất ngờ xảy
ra, chẳng ai có thể đoán trước ! Vậy chết là đương nhiên, nhưng không biết bao
giờ chết. Đến khi chết, chỉ có công phu hành tŕ mới giúp được ta. Quí vị cần
phải học hỏi, tư duy, tu tập (văn tư và tu) khi c̣n trẻ, tràn đầy nhựa sống,
tràn đầy sức khỏe. V́ muốn tu tập hành thiền th́ bắt buộc phải có niềm tin xác
quyết nơi pháp tu, v́ vậy cần phải nghe pháp. Nghe rồi phải biết tư duy suy nghĩ,
phân tích tới lui nhiều lần kỹ lưỡng chứ đừng nhắm mắt vội tin. Đến khi có được
ḷng tin xác quyết nơi pháp tu, hăy biến từng ngày sống trở thành từng ngày tràn
đầy ư nghĩa bằng cách tập cho quen với pháp tu, huân tập trong pháp tu. Cứ như
vậy, trọn cuộc đời c̣n lại mới thật sự có ư nghĩa, bất kể là c̣n lại năm năm,
mười năm hay năm mươi năm. Nếu tập cho ḿnh thói quen văn tư và tu ngay khi c̣n
trẻ, cứ như vậy đến lúc tuổi già sẽ vẫn có khả năng suy nghĩ mạch lạc sáng suốt.
Không ai bắt buộc quí vị phải có ḷng tin. Quí vị cũng có thể đi chổng đầu xuống
đất nếu muốn. Nhưng nếu đă có ḷng tin nơi Phật Pháp, đă biết quan tâm tới thế
giới tinh thần th́ điều quan trọng nhất là phải học. Phải tu ngay bây giờ, ngay
hôm nay. Tinh túy của Phật Pháp là tâm bồ đề, là thương lo cho người khác hơn cả
bản thân. Phải cố gắng phát huy và tăng cường tâm bồ đề này để có thể v́ chúng
sinh mà thành Phật Nói tóm lại, chúng ta cần hy vọng và nỗ lực bước bước chân
đầu tiên trên con đường thành tựu Phật quả, ngay bây giờ, ngay trong kiếp hiện
tiền.
HẾT NGÀY 4
Ngày 5
by
hongnhu
on Thu Feb 12, 2009 4:48 pm
Lama Tông Khách Ba trong Chứng Đạo Ca nói rằng:
Khi vào cơi chết / không thể biết chắc
ḿnh sẽ không rơi / vào cơi ác đạo
Chỉ có Tam Bảo / là đủ khả năng
che chở cho tôi / thoát cơn sợ hăi.
V́ vậy phải gắng / giữ tâm qui y
cho thật vững chắc, / đừng để sơ sót
phá hạnh qui y. / Muốn được như vậy
phải hiểu nghiệp quả / sống thuận chánh pháp
làm mọi thiện hạnh / tránh mọi ác pháp.
Thầy là hành giả / đă tu như vậy.
Các con ai người / đang cầu giải thoát
hăy tự thuần dưỡng / đúng theo lối này.
Chúng ta sinh vào một cơi thoạt nh́n thấy rất thoải mái an lạc, đó là cơi người.
Chúng ta hiện đang sống rất b́nh an, nhưng đời sống trôi qua trong thế giới đầy
trắc trở này, để kết thúc bằng cái chết. Đây là tánh chất của sự sinh ra: có
sinh th́ có tử. Bao giờ ḍng tâm thức này chấm dứt? Thật khó nói. Thật ra, điều
này sẽ không bao giờ xảy ra, ḍng tâm thức sẽ măi nối dài. Kiếp sau sẽ đi vào
cơi lành hay cơi dữ, chúng ta hoàn toàn không có khả năng chọn lựa. Ví dụ bây
giờ là buổi sáng, chúng ta hy vọng đến chiều vẫn sẽ b́nh an vô sự, nhưng lại
không có khả năng chủ động. Nếu việc bất hạnh th́nh ĺnh xảy ra, phá tan hạnh
phúc của ḿnh, chúng ta cũng chẳng biết làm sao. Sự việc chỉ tùy vào nhân duyên
trong hiện tại hay trong quá khứ mà xảy ra.
Tương tự như vậy, sướng khổ đời sau cũng tùy nơi nghiệp báo, chúng ta không có
quyền chọn lựa. Bao giờ có khả năng điều khiển tâm ḿnh, giữ tâm an định nơi
thiện pháp, dùng năng lực thành tựu tâm linh để chuyển tâm, đến lúc đó sẽ có khả
năng chọn kiếp tái sinh, điều khiển tương lai, nhưng việc này trong hiện tại
chúng ta chưa làm được. Đến khi trút hơi thở cuối cùng, cảnh an lành của đời
sống hiện tại chấm dứt, nh́n lại thấy sao tâm ḿnh đă quá quen thuộc với nhiễm
tâm ác hạnh, chừng đó có thể biết chắc đời sau sẽ phải đọa sinh cơi dữ. Kinh
Bản Luật của đức Phật nói rằng:
Chúng sinh từ cơi lành vào cơi dữ, nhiều như vi trần trong cơi thế.
Chúng sinh từ cơi dữ vào cơi lành, ít như bụi trên đầu móng tay.
Số lượng loài người đương nhiên là ít hơn loài súc sinh. Nếu cứ như vầy mà chết
đi, chúng ta có nhiều hy vọng sinh vào cơi dữ. Lúc đó sẽ phải chịu khổ đau cơi
địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh, kéo dài không dứt. Hiện giờ chúng ta không trực
tiếp thấy được cơi địa ngục và ngạ quỉ, nhưng có thể thấy được loài súc sinh. Vô
cùng tội nghiệp, chẳng thể tự giúp ḿnh, cứ chịu khổ đau bệnh tật, âu lo hoảng
hốt. Chúng ta nay được sanh làm người nhưng lại không biết đặt ḿnh vào vị trí
của súc sinh, chỉ biết nh́n bằng đôi mắt bàng quang, như xem hát, xem tranh.
Thật ra, chúng ta phải xét từ kinh nghiệm cá nhân để hiểu rằng khổ đau loài súc
sinh thật sự vượt quá sức chịu đựng của ḿnh. Bản thân của chúng ta có nhiều
nguy cơ đọa sinh vào nơi đó, vậy muốn tránh th́ phải làm sao? Phải tránh mười ác
nghiệp, là nguyên nhân sinh vào cơi dữ, và phải làm thiện nghiệp. Chúng ta cần
huân dưỡng mọi nhân tố tốt lành ngay trong đời này để kiếp sau có thể sinh vào
cơi lành. Tích lũy nhân lành, cứ như vậy nhất định sẽ sinh vào cơi lành. Luật
nhân quả sẽ bảo đảm điều này cho chúng ta. Nhân nào sinh quả nấy, không nhân th́
cũng không quả. Chỉ nói đầu môi chẳng ích lợi ǵ. Đây là lẽ tự nhiên của duyên
sinh. Nếu gieo nhân th́ sẽ hái quả. Đầy đủ nhân duyên và không có chướng ngại,
chắc chắn sẽ đạt được mục tiêu mong cầu. Chúng ta cần huân dưỡng đầy đủ nhân
duyên cần thiết để sinh vào cơi lành. Vậy chốn qui y chân thật chính là tâm của
ḿnh. Tâm bất thuần sẽ gây khổ năo, tâm thuần sẽ mang lại niềm an lạc hạnh phúc.
Do đó Phật nói:
'tâm bất thuần là khổ, tâm thuần là an lạc.'
Đức Phật c̣n nói :
chúng ta làm chủ chính ḿnh.
Muốn được an vui th́ phải sống cẩn trọng. Để tâm cẩu thả, hạnh phúc chẳng thể
đến. Phật tử không để ư đến tâm ḿnh, cũng chẳng cố gắng thuần phục tâm ḿnh,
chỉ biết cầu khẩn đạo sư, cầu khẩn Tam bảo, nghĩ rằng làm vậy sẽ được chở che,
thật là lầm lẫn. Không tự lo th́ không ai có thể lo cho ḿnh. Nhân duyên bên
ngoài chỉ có thể giúp ích đôi chút. Quan trọng nhất là phải tự ḿnh hàng phục
tâm ḿnh.
Bằng cách nào? Nơi qui y thật sự, đó chính là quả giải thoát, là trạng thái tận
diệt nhiễm tâm nhờ áp dụng biện pháp hóa giải. Vậy đâu là pháp hành tương ứng
với nơi qui y này? Đừng làm việc ác. Ngưng mọi hành vi sai trái th́ tạm thời dứt
được việc ác. Mặc dù đây chưa phải là tận diệt mọi ác nghiệp, nhưng dứt bỏ việc
ác th́ đến được với trạng thái tạm thời tận diệt. Trước mắt hăy tạm xem đây làm
nơi chốn qui y của ḿnh. Thấy được sự tai hại của việc ác, biết rằng làm ác sẽ
thọ sinh ác đạo, từ đó nỗ lực áp dụng chánh niệm để dứt bỏ mọi việc ác, làm được
như vậy nhất định sẽ không thọ sinh cơi dữ. Nói chung, muốn làm lành lánh ác th́
phải hiểu mối tương quan giữa nhân và quả, đặc biệt phải hiểu mọi động cơ hành
động đều gieo thành cái nhân, từ đó trổ quả vui buồn sướng khổ mà chúng ta
thường gọi là nghiệp. Phật là bậc thầy dạy về nhân quả, hướng dẫn chính xác đâu
là điều cần phải làm: thiện nghiệp; và điều cần từ bỏ: ác nghiệp. Pháp là phương
pháp Phật dạy, chắc thật không sai lầm, chỉ cách muốn sinh cơi lành th́ phải làm
sao, muốn tránh cơi dữ th́ phải làm sao. Và Tăng là những người bạn đạo chân
chính tu theo Phật Pháp, trở thành tấm gương sáng cho chúng ta noi theo. Nhờ lực
gia tŕ của Phật Pháp Tăng mà chúng ta đến được với trạng thái giải thoát rốt
ráo chân thật. Nói về lợi ích lâu dài th́ Phật Pháp Tăng là nơi qui y cứu cánh
của người cầu giải thoát, là bậc cứu độ chân chính. Nói về lợi ích trước mắt th́
Phật Pháp Tăng bảo đảm kiếp tái sinh tốt đẹp, không rơi ác đạo. Muốn nhận lực
gia tŕ của Tam Bảo th́ phải qui y Tam Bảo, phải giữ giới hạnh qui y, đặc biệt
là phải hành tŕ thuận theo nhân quả. Nhờ vậy nhận được lực gia tŕ, thoát được
nỗi sợ hăi trước mắt và lâu dài về sau. V́ vậy mà qui y Tam bảo, giữ giới qui y,
thâm tín nhân quả, cố gắng thoát cảnh ác đạo. Lama Tông Khách Ba nói rằng:
Tam Bảo chắc chắn sẽ ǵn giữ cho tôi, v.v.
Muốn tu th́ phải biết cách tu. Muốn biết cách tu, trước tiên phải nghe pháp.
Không những vậy, phải là pháp tu trọn vẹn đầy đủ, không sai lầm thiếu sót, dễ
dàng thực hiện. Pháp Lamrim Đại Luận hội đủ tất cả mọi điều kiện cần thiết này.
V́ vậy quí vị phải lắng nghe một pháp tu như vậy.
HẾT NGÀY 5
Ngày 6
by
hongnhu
on Thu Feb 12, 2009 5:57 pm
Hỡi những người không tham cầu lạc thú thế gian
Nỗ lực tận dụng thân người đầy thuận tiện
Bước theo con đường làm đẹp dạ Như Lai
Hỡi kẻ thiện duyên, xin hăy lắng nghe với tâm trong sáng
Trong hiện tại chúng ta đang hưởng thụ mọi lạc thú tuyệt vời trong cơi luân hồi.
Thông thường, thân thể không đau đớn, sức khỏe tốt, gia đ́nh êm ấm, người thân
tốt lành, được vậy th́ gọi là hạnh phúc. Sống trong đời, nếu mọi nhu cầu vật
chất đều có đủ th́ chúng ta xem đấy là một đời sống hạnh phúc. Dĩ nhiên đây cũng
là hạnh phúc, nhưng là thứ hạnh phúc không bền. Cao sang rồi cũng sa sút. Hạnh
ngộ kết thúc trong biệt ly. Đời sống chấm dứt trong cái chết. Bất cứ điều ǵ
trong cơi luân hồi này rồi cũng sẽ đến lúc ch́m trôi. Khỏe mạnh, giàu sang,
nhiều thân nhân bằng hữu, đời sống có yên ổn thuận tiện đến đâu chăng nữa, chỉ
cần chút việc cỏn con cũng đủ khiến tâm xáo trộn. Đời sống này sẽ luôn là như
vậy, trừ phi chúng ta biết tư duy cho đúng đắn.
Thử nghĩ xem, nếu lạc thú cơi luân hồi là bền vững th́ trong số sáu triệu người
sống trên cơi địa cầu này, ít ra cũng phải có vài người sống vui, không lo âu
vướng bận. Nhưng thực tế là không ai được như vậy cả. Kẻ giàu sang quyền quí sẽ
v́ những ǵ ḿnh có mà vướng bận âu lo. Nghèo khó cũng là nguyên do khiến con
người đau khổ. Ngay cả miếng ăn thức uống hàng ngày cũng là nguyên nhân gây khổ
đau. Có người hiếm muộn v́ không con, khổ sở than văn đủ điều. Có người lại khổ
v́ quá đông con, muốn hạn chế sinh đẻ nhưng lại lo lắng v́ lư do đạo đức. Dù có
danh vọng, dù không danh vọng, dù nhiều thân nhân bằng hữu, dù đơn chiếc một
ḿnh, khổ đau lúc nào cũng có mặt. Trừ phi chúng ta biết cách dùng tâm ḿnh một
cách đúng đắn, bằng không làm ǵ cũng sẽ gặp vấn đề. Chúng ta không hề muốn việc
bất hạnh, bất tường, bất như ư, cứ xảy ra cuồn cuộn như sóng nhồi thế kia. Tự
hỏi "phải chăng tánh chất của khổ đau là như vậy? Phải chăng khổ đau luôn cố
định, không bao giờ thay đổi?" Suy nghĩ cho tận tường sẽ thấy khổ đau sinh ra từ
tâm ô nhiễm bất thuần. Lại hỏi "phải chăng tâm vốn bất thuần như vậy?" Chắc chắn
là không phải. Có những nguyên nhân, những yếu tố khiến tâm trở nên bất thuần.
Kinh điển Ấn độ cổ và kinh điển Phật Giáo gọi yếu tố này là "nhiễm tâm phiền năo".
Phật giáo đặc biệt nói rằng nhiễm tâm phiền năo này có rất nhiều loại, đi từ thô
đến tế.
Nói cho cùng, chính cái tâm chấp ngă, chấp vào cái tôi, được nhận diện là nhiễm
tâm, là vọng tâm, bao gồm nhiều loại chấp ngă thô tế khác nhau. Tâm bất thuần
bắt rễ từ nhiễm tâm phiền năo, c̣n nhiễm tâm phiền năo th́ bắt rễ từ tâm chấp
ngă. Xét kỹ sẽ thấy tâm chấp ngă là tâm nhận biết sự vật qua cái nh́n sai lệch
méo mó. Mọi vấn đề trong cuộc sống đều bắt rễ từ đây. Chặt ĺa gốc rễ, cây tự
nhiên sẽ héo. Ngăn suối từ nguồn, suối tự nhiên sẽ cạn. Tương tự như vậy, chặt
đứt gốc rễ nhiễm tâm phiền năo th́ khổ đau sẽ đoạn diệt. Đọc tiểu sử của đức
Milarepa có thể thấy được điều này. Đức Milarepa bề ngoài trông giống kẻ bần
cùng, nhưng bên trong có được niềm an vui hạnh phúc bao la không giới hạn. Thời
nay chúng ta có thánh Gandhi hay ngài Vinobabhave. Tôi có được trực tiếp diện
kiến ngài Vinobabhave. Trông giống một hành khất, nhưng là người có tầm nh́n lớn
rộng, gánh vác đại sự, hoàn toàn không lo lắng cho nhu cầu vật chất của chính
ḿnh, khác với chúng ta luôn lo lắng quá nhiều cho bản thân. Tôi không có cơ hội
gặp mặt thánh Gandhi nhưng tướng dạng của ngài xem cũng giống kẻ ăn xin, đúng
không? Tuy vậy, ngài là người cực kỳ can đảm và thông minh, biết sống thiểu dục
tri túc, phát huy ḷng vô úy. Những đức tánh này chỉ có thể có được nhờ ḷng tự
tín, quả quyết và sáng suốt. Nếu có được cái nh́n sáng suốt th́ sẽ thiểu dục tri
túc. Dựa vào hoàn cảnh vật chất bên ngoài để t́m thỏa măn th́ sự thỏa măn này
rất tạm bợ, giống như loài cầm thú, chẳng có ǵ đáng nói. Hơn nữa, như đă nói,
có sinh th́ có tử, chẳng lư do ǵ lại vui với sự sinh ra. Phật giáo gọi đây là 'khổ
v́ sinh'. Từ trong thai mẹ đă khổ, dù bây giờ không c̣n nhớ. Rồi khi chào đời
lại càng khổ sở trăm vàn. Tôi có nghe kể một câu chuyện, không rơ có đúng sự
thật hay không. Chúng ta đều biết thai nhi không biết thở, phải chờ đến khi chào
đời, trẻ sơ sanh hít một hơi dài để lá phổi mở ra. Nghe nói lúc đó người ta nắm
chân dốc ngược trẻ sơ sanh, phét vào lưng cho trẻ bật khóc để hít mạnh vào cho
lá phổi nở ra.
Mẹ tôi kể rằng tôi vừa mới chào đời đă ị một băi nhăo nhoẹt . Rơ ràng thân thể
này ngay từ lúc bắt đầu đă là một điềm hung. Nh́n lại sẽ thấy từ khi sinh ra cho
đến cuối cuộc sống, chúng ta cứ liên tục sống trong những điềm hung. V́ sao lại
như vậy? Là v́ có thân này và tâm này cho nên nghiệp và vọng tâm mới phát sinh.
Bây giờ chúng ta cần phải xét xem có cách nào để đoạn dứt đời sống với cái thân
và tâm như vậy hay không. Chúng ta nghĩ rằng đây là điều có thể làm được, tuy
vẫn c̣n chút hoài nghi, nhưng có khuynh hướng tin là chuyện có thể làm được. Dù
lúc mới đầu chúng ta chưa thể khẳng định điều này bằng nhận thức đúng đắn, nhưng
có được khuynh hướng tin đây là điều khả thi. Bao giờ có được cảm giác "đây là
điều có thể thực hiện được", chừng đó có thể đoạn ĺa sự liên tục của đời sống
nghiệp báo này. Rồi phải dấn thân vào đường tu. Việc thế tục cho dù không biết
chắc, chúng ta cũng vẫn làm. Đúng thật là như vậy. Chúng ta không thể mưu kế
sinh nhai nếu chỉ chọn làm những việc chắc ăn trăm phần trăm. Chúng ta chỉ có
thể nhắm chừng để liệu việc, sống từng ngày, từng tháng, từng năm với những điều
không chắc chắn. Không thể nói chắc trăm phần trăm việc này sẽ đưa đến kết quả
nào. Không ai có thể biết trước được, từ bậc thủ nguyên một quốc gia cho đến bậc
cha mẹ trong gia đ́nh, hay là học sinh, sinh viên. Kinh Pháp Cú có nói,
người sống trong cơi thế gian theo đuổi những việc làm tự họ không biết rơ hậu
quả.
Nếu đă là như vậy, cái khổ thọ sinh cũng đáng cho chúng ta nỗ lực tận diệt, dù
vẫn c̣n hoài nghi chưa biết chắc có làm được hay không. Chịu khó suy nghĩ về hai
mặt quảng thâm của giáo pháp Phật dạy sẽ thấy kiếp này rơ ràng là chúng ta đang
sống vui, bất kể kiếp sau ra sao. Niềm vui này có thể tự ḿnh cảm nhận được. Sức
khỏe tốt, có thể làm bạn với mọi người. Mọi điều bất hạnh đều không đáng kể nếu
chúng ta có được khả năng chuyển bất hạnh thành đường tu. Thật ra, nếu đă thấy
được rằng điều bất hạnh sớm muộn ǵ cũng sẽ đến, tự nhiên tâm sẽ tràn đầy nghị
lực, chẳng bao giờ tuyệt vọng tự sát.
Thỉnh thoảng buồn bă xuống tinh thần, chỉ cần nhớ lại câu nguyện như là:
không gian c̣n, chúng sinh c̣n..., hay là câu: như đất, như nước, lửa,
gió... nguyện tôi cũng làm muôn vàn chất liệu nuôi sống vô lượng chúng sinh.
Tức khắc sẽ cảm thấy an ủi, thoải mái. Đây không phải v́ ngu xuẩn mà đều nhờ sức
mạnh của trí tuệ. Suy nghĩ khoáng đạt rộng răi như vậy, nhất định sẽ được nhiều
lợi lạc. Không phải v́ điên khùng, mê tín, hay tuyệt vọng. Thông thường khi bị
căng thẳng, người ta hay uống thuốc an thần, nhưng làm như vậy chỉ khiến cho tâm
mất bén nhạy. Tác dụng của thuốc an thần là để cho tâm ù ĺ, mất trí nhớ, nhờ
vậy được chút thư giăn.
Cũng có nhiều người lớn tuổi thích đi đi du lịch để giết thời gian. Thật thảm
thương, lang thang nơi này, chốn nọ, nói cho cùng vẫn chỉ là biểu hiện của ḷng
tuyệt vọng. Ở nhà không thấy vui nên t́m đến chốn lạ để trốn nỗi lo. Tâm xao
lăng chạy theo cảnh mới, quên mất lo lắng buồn phiền. Nhờ vậy mà cảm thấy thoải
mái. Cách t́m quên này thật quá tuyệt vọng. Khi gặp vấn đề, phải dùng trí tuệ để
giải quyết. Thêm vào đó, nếu biết cách chuyển nghịch cảnh thành yếu tố tích cực,
có thế mới thật là thông minh. Sự thật là càng tu tập suy nghĩ về các giáo pháp
quảng và thâm của đức Phật sẽ càng thêm an ổn, tràn đầy tự tín và nghị lực. V́
vậy mà có câu kệ như vừa nói. Lạc thú trong cơi thế gian này thật sự chẳng đáng
ǵ.
Hỡi những người không tham cầu lạc thú thế gian...
Hăy nhắm đến loại hạnh phúc lâu bền lớn rộng hơn. Hăy nỗ lực cố gắng sao cho
kiếp người này thật sự có ư nghĩa. Nhờ kiếp người này chúng ta mới có thể tận
dụng tiềm năng của tâm ḿnh. Nếu sinh ra không được làm người th́ chẳng thể suy
nghĩ. Mặc dù luân hồi có thể tận diệt, nhưng nếu không được làm người th́ ngay
chính điều này chẳng thể nghĩ tới. Thử nh́n loài súc sinh mà xem, chúng đánh
nhau rất giỏi, nuôi con cũng rất giỏi. Loài nào cũng đầy nhiễm tâm phiền năo,
tuy không giỏi tự hại ḿnh và hại người bằng loài người. Nói chung chỉ có con
người mới có khả năng nghĩ đến cội rễ của luân hồi và sự tận diệt của khổ đau.
Ngay cả trong loài người, chỉ những ai có đầy đủ hoàn cảnh tự tại và thuận tiện
mới có khả năng suy nghĩ. V́ vậy phải nỗ lực làm sao cho kiếp người của chúng ta
đây trở nên có ư nghĩa. Nếu bản thân không cố gắng, chỉ biết trông mong cầu
nguyện nơi Tam Bảo và đạo sư, liệu có ích ǵ? Với thái độ như vậy, gặp việc bất
hạnh th́ lại trách móc nơi chốn qui y của ḿnh, nghĩ rằng "tôi cầu nguyện thiết
tha như thế mà chẳng được ǵ cả, Tam Bảo chắc không có thật ". Năng lực gia tŕ
chỉ có thể phát xuất từ bên trong, đừng chờ đợi ở sức mạnh bên ngoài. Khi nói "nỗ
lực", chữ này có nghĩa là bản thân của quí vị phải cố gắng chuyên tâm tinh tấn,
bất kể mọi nghịch cảnh bên ngoài.
Câu tiếp theo
Bước theo con đường làm đẹp dạ Như Lai
Khi dồn sức vào một pháp tu có hệ thống, đầy đủ, không sai lầm, v́ nhân tố đầy
đủ chính xác như vậy cho nên kết quả cũng sẽ đúng như mong đợi. Nếu tu theo
đường tu sai lầm th́ phí công mà chẳng được ǵ. Nếu tu theo đường tu không sai
lầm nhưng không đầy đủ th́ cũng chẳng thể thành tựu, cũng sẽ hoài công. Tu theo
pháp tu chính xác nhưng thứ tự đảo ngược th́ khó ḷng đạt mục tiêu mong cầu. V́
vậy "con đường làm đẹp dạ Như Lai" là trọn vẹn hệ thống đường tu quảng thâm, nhờ
đường tu này mà đức Phật thành đạo. Bước theo đường tu này th́ được gọi là "bước
theo con đường làm đẹp dạ Như Lai".
Lama Tông Khách Ba nói rằng người tu như vậy cần chuyên tâm lắng nghe:
Hỡi kẻ thiện duyên, xin hăy lắng nghe với tâm trong sáng
Như lời thúc hối trên đây của Lama Tông Khách Ba, quí vị hăy tự xét xem ḿnh có
đă hội đủ những điều kiện tiên quyết nói trên hay chưa, có đă trở thành bậc đệ
tử chân chính hay chưa. Nếu đă đủ rồi, nên cảm thấy vui; nếu chưa đủ, hăy nỗ lực
để t́m cho đủ. Đủ rồi th́ thành bậc đệ tử mà Lama Tông Khách Ba gọi là "kẻ thiện
duyên", là người đă bước vào đường tu chân chính, mỗi bước mỗi gần hơn với trí
toàn giác, sớm muộn ǵ cũng sẽ đạt quả giác ngộ. C̣n tôi, đạo sư ngồi trước mắt
của quí vị đây, tôi đă tận lực cố gắng để trở thành kẻ thiện duyên. Bây giờ đă
vào tuổi 70. Tôi không biết chắc ḿnh có đă được như vậy hay chưa, vẫn c̣n ước
ao được trở thành kẻ thiện duyên, như kẻ ngồi cuối hàng ngưỡng mộ người ngồi
hàng đầu, hy vọng rồi sẽ được như vậy. Quí vị hăy cùng tôi cố gắng.
Đạo Sư Gungthang nói rằng "đời sống nhởn nhơ vui đùa chẳng đưa đến quả giải
thoát". Nói rất đúng. Nếu tu chỉ để giải trí cho qua th́ giờ, làm như vậy
chẳng đi đến đâu. Tu tập một cách thờ ơ, mong dễ dàng thành chánh quả, đây là
chuyện không tưởng. Nên nhớ rằng đức Phật đă phải nỗ lực trong suốt ba thời kỳ
vô số để tích tụ vô lượng công đức. Đọc trong Mật pháp Kim Cang Thừa thấy nói
chỉ cần một đời, hay ba năm, là có thể thành Phật, chúng ta nhiều khi có khuynh
hướng suy nghĩ thiển cận, chờ đợi thành tựu xảy ra ngay tức th́. Đến khi sự việc
không như ḿnh mong đợi th́ dễ dàng mất ḷng tin, tự nhủ rằng: "nói cái ǵ mà ba
năm ba tháng nhập thất!". V́ vậy ngay từ đầu chúng ta phải nhớ câu chuyện của
đức Phật, đă phải tu nhiều lần vô lượng kiếp mới thành chánh quả, nhớ rằng trong
nhiều bộ kinh điển đức Phật có nói phải đi qua năm chứng đạo, mười địa bồ tát.
Nay chúng ta bước theo đường tu này, cần có đủ nghị lực và quyết tâm để trải qua
nhiều đời, nhiều đại kiếp, kiên tŕ tu tập.
HẾT NGÀY 6
Ngày 7: Tâm Bồ Đề
by
hongnhu
on Fri Feb 13, 2009 5:12 am
Ngài Tịch Thiên là vị bồ tát nổi tiếng nhất trên đời. Tác phẩm Nhập Bồ Đề
Hành Luận của ngài là cội rễ của pháp tu chuyển tâm (lo-jong). Pháp chuyển
tâm chủ yếu nhắm vào việc phát tâm bồ đề. Nói chung mọi pháp tu trong Phật giáo
đều là để luyện tâm và chuyển tâm, nhưng chữ chuyển tâm ở đây đặc biệt được dùng
trong phạm vi nhất định, ứng vào với sự dụng công đoạn diệt tâm ái ngă bằng cách
tu tâm bồ đề và thuần dưỡng tâm nguyện vị tha vô lượng. Đây là nội dung bài pháp
Nhập Bồ Đề Hành Luận của ngài Tịch Thiên. Nói về pháp tu Lamrim (Tŕnh
Tự Đường Tu Giác Ngộ) và Lojong (pháp tu chuyển tâm), phải nói rằng gốc của
Lamrim là bộ luận Ngọn Đèn Soi Đường Giác Ngộ của ngài Atisha; và
luận này lấy gốc từ hệ kinh Bát Nhă cùng các bộ Bảo Hành Vương Chính
Luận [Ratnavali] và Kinh Tập Luận [Sutra Samucchaya] của ngài Long
Thọ, và Tập Bồ Tát Học Luận [Shiksha Samucchaya ] của ngài Tịch Thiên.
C̣n pháp tu Lojong chủ yếu lấy gốc từ Phổ Diệu Kinh [Lalita
Vistara Sutra], một trong những bộ luận về kinh này là Nhập Bồ Đề Hành Luận
của ngài Tịch Thiên. V́ vậy trong bộ luận của ngài Tịch Thiên có câu nói
rằng:
Tôi xin đảnh lễ / người có tâm này
Thành kính qui y / cội nguồn hạnh phúc
Người biết thương yêu / cả kẻ hại ḿnh
Những hàng này trích từ chương "Lợi Ích Tâm Bồ Đề". Điều ǵ quí nhất thế gian,
quí nhất trên toàn ba cơi? Nhất định phải là t́nh thương. Đối với sự vật ở bên
ngoài, người này thấy đẹp, người kia lại chê xấu. Điều ǵ loài người thấy đẹp,
loài vật chưa chắc đă thích. Tương tự như vậy, điều ǵ loài người thấy đẹp, chưa
chắc chư Thiên đă ưa. Chỉ có t́nh thương yêu là thuần nhất, bất kể một ai, chư
thiên, loài người, thú vật, chúng sinh cơi địa ngục hay cơi khác, ai ai cũng đều
thấy đẹp. Nói về tri kiến tánh không, hiện hữu không tự tánh, có rất nhiều người
không chấp nhận, kể cả Phật tử. Nhưng ḷng vị tha, t́nh thương yêu, tấm ḷng từ
bi bác ái, những điều này bất kể truyền thống tôn giáo nào cũng đề cao. Ngay cả
người không tôn giáo cũng xem trọng t́nh thương yêu. Ngay cả người cháy bừng lửa
hận cũng vẫn cảm thấy vui khi có ai thương yêu chăm sóc cho họ. Họ sẽ không bất
măn với người lo cho họ. Tôi nghĩ t́nh thương yêu là điều mà ai ai cũng đều quí.
Vậy muốn mở ḷng thương yêu th́ phải làm sao? Liền trước mắt, khi thấy người
khác đau đớn khổ sở, chúng ta cảm thấy xót thương. Điều này rất tốt, nhưng vẫn
giới hạn. Cùng với nỗi khổ hiển hiện trước mắt [khổ khổ], chúng sinh hăy c̣n
phải chịu khổ v́ biến chuyển [hoại khổ], chịu khổ v́ hiện hữu trong cơi luân hồi
[hành khổ]. Các loại khổ này đều bắt rễ từ nhiễm tâm phiền năo và tập khí của
phiền năo. Chúng sinh luôn bị chi phối v́ những điều này. Tâm vị tha muốn chúng
sinh thoát khổ, thoát cả nguyên nhân tạo khổ, đây chính là tâm đại từ, là t́nh
thương không ǵ có thể sánh, cội nguồn của tất cả mọi thiện đức. Làm cách nào
tâm đại từ đại bi lại sinh ra thiện đức? Khi khởi tâm đại bi, tâm này sẽ khiến
chúng ta phát sinh nguồn nghị lực muốn gánh khổ cho chúng sinh, từ đó phát chí
nguyện muốn tu thành Phật. V́ chúng sinh mà nguyện tu thành Phật, v́ vậy cuối
cùng sẽ đạt Phật quả. Phát tâm đại bi là đánh thức hạt giống đại thừa. Tâm này
rạng ngời tối hảo. Chỉ cần hiểu được tâm này là đă có được cảm giác mừng vui sâu
thẳm tận đáy ḷng. Người có tâm bồ đề không những luôn thương yêu mong mỏi chúng
sinh thoát khổ, mà t́nh thương này c̣n được trí tuệ hỗ trợ, nhờ vậy tâm nguyện
biến thành thực tại, người tu thật sự có khả năng tận diệt khổ đau.
Người như vậy sẽ hành tŕ sáu hạnh ba la mật, thành vị bồ tát miên mật tu phương
tiện và trí tuệ. Chỉ cần nh́n thấy một vị bồ tát như vậy là đă có được vô lượng
lợi ích. Như câu kệ nói rằng:
Tôi xin đảnh lễ / người có tâm này
Chỉ cần nh́n thấy, hay nghe nói về một người như vậy, bất kể nghĩ sao, cũng đều
được lợi ích. Là v́ cốt tủy pháp tu của bồ tát là t́nh thương yêu vô lượng, là
tâm đại từ đại bi, cho nên bất kể đang làm ǵ, nói ǵ, nghĩ ǵ, bồ tát cũng đều
chan chứa yêu thương. V́ vậy chỉ cần nh́n thấy, nghe nói, nghĩ về, hay chạm vào
một vị bồ tát, chúng ta đều được vô vàn lợi ích, cho dù có tôn kính hay không.
Như ngài Tịch Thiên đă nói:
Người biết thương yêu / cả kẻ hại ḿnh
Hại người có tâm bồ đề mặc dù sẽ tạo mối ác duyên với người ấy, nhưng rốt lại
vẫn sẽ được lợi ích nhờ sức mạnh của t́nh thương, của nguyện lực và chân lư của
bậc bồ tát ấy.
Thành kính qui y / cội nguồn hạnh phúc
Người biết thương yêu / cả kẻ hại ḿnh
Nói tóm lại, dù trong ba cơi sinh tử luân hồi, hay trên đường tu tiểu thừa, hay
đại thừa, kể cả đại thừa mật tông, hay lúc đă thành Phật, bất kể đang ở giai
đoạn nào, tâm vị tha luôn là nền tảng. Chúng ta được đôi chút hạnh phúc thế gian,
tất cả có được là nhờ ḷng vị tha biết thương yêu người khác. Khi c̣n tu học,
chúng ta v́ từ bi mà giữ ḿnh không hại người. Rồi tâm từ bi dần lớn mạnh, chúng
ta chỉ c̣n biết làm điều lợi ích cho người khác. Nhờ tâm vị tha mà mau chóng có
được đầy đủ mọi điều kiện để toàn thành ước nguyện cho chúng sinh, có được tâm
huyễn ảo nhỏ nhiệm hay tâm huyễn ảo thanh tịnh của bồ tát, rồi cuối cùng đạt
được Phật quả, tận diệt mọi hư vọng, thành tựu mọi thiện đức, bao gồm hai mươi
bảy thiện hạnh của Phật. Ánh sáng thiện hạnh của Phật vĩnh viễn chiếu soi khắp
chúng sinh, đều là v́ tâm đại bi. Nên ngài Nguyệt Xứng trong Nhập Trung Luận
Thích nói rằng:
Hoa màu của Phật / có được là nhờ / nơi tâm đại bi
cũng như nhờ nước / mà hạt trổ mầm
tốt tươi trĩu hạt / thọ dụng dài lâu
nên ngay từ đầu / thành tâm đê đầu / kính lễ đại bi.
Câu kệ này cho thấy tâm đại bi quan trọng ở đoạn đầu, đoạn giữa và đoạn chót.
Chúng ta vô cùng may mắn có được một phương pháp hành tŕ đáng quí như vậy, chỉ
làm điều lợi ích cho người khác, không bao giờ gây hại cho ai. Có được duyên
lành nghe giáo pháp này, cảm thấy ưa thích, tin tưởng trân quí, không ngại khó
khăn, luôn tận sức hướng tâm về tâm đại bi, được như vậy đủ thấy công đức của
chúng ta rất lớn. Nay tôi làm đạo sư giảng pháp, có được cơ hội nói về tâm bồ đề,
thật là một thiện duyên rất lớn. Đệ tử nghe pháp cũng vậy, vô cùng may mắn mới
có được cơ hội nghe giảng về tâm bồ đề, về tâm vị tha trân quí người khác hơn cả
bản thân. Phát khởi được tâm nguyện phi tha này là bước vào con đường hạnh phúc
chân chính. Chúng ta ai cũng mong cầu hạnh phúc, không ai muốn khổ đau. Muốn đạt
niềm an lạc chân chính, không ǵ tốt hơn tư duy về tâm bồ đề.
Đây là điều tôi vẫn thường nghĩ, và thường nói ra, khi đọc câu tụng trong
Lama Choepa [Cúng Dường Đạo Sư]:
Là đạo sư, bổn tôn / là thiện thần, hộ pháp;
chốn qui y duy nhất / của con từ bây giờ
cho đến khi thành Phật; / xin mở tâm từ bi
hộ niệm giữ ǵn con / đời này, cơi trung ấm,
và mọi kiếp về sau; / giúp con thoát sợ hăi
cơi luân hồi, an lạc; / ban cho mọi thành tựu;
Vĩnh viễn làm bạn hiền / phá tan mọi chướng ngại.
Tất cả những điều nói trên đều là tâm bồ đề, là điều có khả năng giúp chúng ta
trong đời này, và cả trong cơi trung ấm [thời gian sau khi chết và trước khi tái
sinh]. Nếu giữ được tâm bồ đề ở thời điểm mạng chung th́ chắc chắn sẽ tái sinh
vào cơi tốt lành. V́ sao? Sinh vào cơi dữ chỉ v́ ác nghiệp, mà tâm bồ đề lại có
khả năng thanh tịnh được mọi ác nghiệp. Sinh vào cơi lành là nhờ công đức; không
công đức nào lớn hơn công đức tâm bồ đề.
Xin mở tâm từ bi / hộ niệm giữ ǵn con
đời này, cơi trung ấm, / và mọi kiếp về sau.
Tâm bồ đề sẽ giúp chúng ta thoát sinh tử luân hồi. Bằng cách nào? Chúng ta đă
luôn để cho tâm chấp ngă hủy hoại chính ḿnh, hủy hoại người khác, v́ vậy mà
trôi lăn trong sinh tử luân hồi. Bồ tát nhờ có trí tuệ, thấy rơ được điều này,
v́ vậy chẳng thể tiếp tục ưa thích tâm chấp ngă, chẳng thể tiếp tục để tâm chấp
ngă điều động chi phối bản thân. Vậy chính tâm bồ đề là điều giúp chúng ta thoát
sinh tử luân hồi. Mặc dù đạt niết bàn giải thoát không phải là mục tiêu chính
của tâm bồ đề, nhưng khi tu tâm bồ đề th́ tuy không cầu mà vẫn tự nhiên có được.
Chỉ có tâm bồ đề mới có thể đưa chúng ta thoát khỏi niết bàn an lạc cá nhân.
Không đường tu nào khác có khả năng làm được việc này. Nói "ban cho mọi thành
tựu", là v́ tâm bồ đề có khả năng toàn thành mọi mục tiêu ước nguyện của
chúng ta, trong đời này, kiếp sau, trước mắt hay là rốt ráo cứu cánh. Ngay cả
những nhu cầu nhỏ nhặt thường nhật như giấc ngủ, có tâm bồ đề cũng sẽ được yên
hơn. Có tâm bồ đề th́ tinh thần vui vẻ, cơ thể khỏe mạnh, giấc ngủ yên lành, ăn
uống ngon miệng, ai ai cũng đều thành bạn, kể cả thú vật, chim muông. Chẳng vui
lắm sao! Sẽ sống thật lâu, không già trước tuổi, cũng sẽ không chết non. Với tâm
bồ đề, với trái tim tốt lành như vậy, khi c̣n trẻ sẽ sống ḥa hợp với mọi người;
lúc trung niên sẽ không gây phiền phức cho ai, luôn giúp đỡ người khác. Cả khi
già yếu cũng sẽ được an định. Bằng không, để ḿnh trở thành người già khó chịu
th́ con cháu sẽ cằn nhằn. Tệ hơn nữa, chúng có thể nghĩ rằng "Thiệt là phiền!
Mấy ông bà già này c̣n chưa chịu chết!" Trẻ con cũng vậy, đứa nào dễ thương
thường được cho quà; đứa nào thích đánh lộn hay dữ dằn độc ác vẫn hay bị mất
phần, chẳng ai muốn cho quà, cũng chẳng mấy ai quan tâm. Có được tấm ḷng từ ái
th́ luôn được an vui, khi trẻ, khi trung niên, lúc tuổi già, đời này hay kiếp
sau vẫn đều luôn hạnh phúc. Trái tim từ ái là phẩm vật cúng dường khiến chư Phật
hoan hỉ. Hăy phát triển tâm này để làm vui ḷng chư Phật, chư bồ tát. Và trái
tim từ ái của ḿnh sẽ luôn là bạn của ḿnh. Như trong câu tụng Lama Choepa
có nói: "vĩnh viễn làm bạn hiền". Và cũng chính tâm từ ái là điều có
khả năng "phá tan mọi chướng ngại". Tôi đă từng nói qua điều này: cho đến
nay, tôi chưa gặp người nào muốn hại tôi cả. Nếu gặp người như vậy, tôi không rơ
ḿnh có mở tâm bồ đề ra với họ hay không. Tuy vậy, khi thư thả tôi thường nghĩ
rằng: "Kẻ thù của tôi là ai? Đang ở đâu? Tôi thật cảm thấy thương xót cho họ."
Tất cả chúng sinh đều là "bạn" của ḿnh. Chúng ta không bao giờ nên loại bỏ kẻ
thù, những người gây khó khăn chướng ngại cho ḿnh, hay là những người hung ác.
Với những người như vậy lại càng cần phải răi tâm từ bi, thương yêu chăm sóc cho
họ. Không nên loại bỏ ai cả. Như vậy chẳng phải tâm bồ đề là điều có khả năng "phá
mọi chướng ngại" hay sao? Chúng ta có thể thiết tha khẩn cầu đạo sư của ḿnh
là v́ trong tim đạo sư có tâm bồ đề. Ngoài tâm bồ đề này ra, đạo sư đâu có ǵ
đặc biệt. Cũng chỉ là người như chúng ta thôi. Tuy vậy, v́ một bậc thầy có những
thiện đức bên trong rất xứng đáng, cho nên chúng ta mới gọi thầy "là đạo sư, là
bổn tôn, là thiện thần, hộ pháp". Vậy then chốt nằm ở chỗ vị thầy ấy có tâm bồ
đề hay không. Phải có tâm bồ đề mới xứng với lời xưng tán trên đây. Nói cho cùng,
dù c̣n trong sinh tử luân hồi, dù đang bước trên đường tu hay đă thành Phật, rốt
lại người bạn chân chính của chúng ta, viên ngọc như ư của chúng ta, nhất định
chỉ có một, đó là tâm bồ đề, là tinh thần vị tha vô ngă. Quí vị đă hiểu chưa?
V́ vậy ngài Thánh Thiên nói rằng:
Tôi xin đảnh lễ / người có tâm này
Thành kính qui y / cội nguồn hạnh phúc
Người biết thương yêu / cả kẻ hại ḿnh
Và ngài A Ti Sa nói rằng:
Tâm bồ đề này / như vầng nhật, nguyệt
Nỗ lực phát tâm / dù nhiều đại kiếp / cũng chẳng phí công.
Điều ngài Atisha muốn nói, đó là không có biện pháp chuyển tâm nào hữu hiệu hơn
tâm bồ đề, nên dù phải tốn nhiều đại kiếp để phát tâm bồ đề th́ cũng rất xứng
đáng. Thật là kỳ diệu. Vậy ngày hôm nay chúng ta phải cảm thấy ḿnh thật may mắn
có được cơ hội tham dự buổi thuyết pháp Đại Thừa này. Nhưng bấy nhiêu chưa đủ.
Cần phải hành tŕ, cần sống trong tâm bồ đề, bằng chính kinh nghiệm của ḿnh,
cần cố gắng hết sức để chuyển cái tâm bất thuần này thành thiện tâm, thành tâm
bồ đề vị tha. Phải luôn ư thức không bao giờ cố t́nh gây thương tổn khổ đau cho
bất cứ một ai. Quí vị nghe tôi nói rơ chưa?
Loại tâm từ bi này lớn mạnh nhờ vào rất nhiều nguyên nhân và hoàn cảnh [nhân
duyên], nhưng yếu tố quan trọng nhất vẫn là tri kiến tánh không. Chư thanh văn
và duyên giác phải mang tánh không về làm pháp hành chính yếu để giải thoát luân
hồi. C̣n bồ tát nếu lúc mới phát tâm bồ đề mà có được tri kiến tánh không hỗ trợ
th́ tâm bồ đề lại càng thêm mănh liệt. Tâm bồ đề phát xuất từ tâm đại bi, dựa
trên nền tảng không thể thiếu của trí tuệ tánh không, được vậy tâm bồ đề sẽ vững
vàng mănh liệt. Bằng không, sẽ chỉ là ḷng từ bi của kẻ phàm phu, chẳng có chút
trí tuệ. Tâm bồ đề của người có trí luôn được trí tuệ chứng tánh không hỗ trợ.
Thật là kỳ diệu! Con đường tinh yếu của trí tuệ và từ bi là con đường luôn được
trân quí, tin yêu, chan chứa nguồn cảm hứng.
Các bậc đạo sư ḍng Kadampa trong quá khứ đă mang tâm bồ đề về làm trọng tâm của
pháp tu giác ngộ tuần tự. Ngài Atisa trong bài pháp ngắn Ngọn Đèn Soi Đường
Giác Ngộ có nhiều câu kệ về tâm bồ đề. Có rất nhiều câu kệ nói về phương
pháp phát bồ đề tâm nguyện. Tâm bồ đề lại càng là trọng tâm của pháp tu Lo-jong
(chuyển tâm), là pháp tu chánh yếu của các bậc đạo sư ḍng Cựu Kadam. Học
xong pháp Lamrim, với nội dung chính xác đầy đủ, đúng tŕnh tự đường tu,
sau đó sẽ tự nhiên bước vào pháp tu Lojong. Miên mật chuyển tâm, giữ bộ
Nhập Bồ Đề Hành Luận của ngài Tịch Thiên ngay bên gối nằm. Các vị Kadampa,
đệ tử chân truyền của ngài Atisa, đều thanh tịnh trong sáng từ trong ra ngoài,
rất đáng tin cậy. Nhất là các vị "học giả Kadampa", lại càng lỗi lạc phi thường.
Chúng ta cần noi gương các ngài, ghi nhớ tầm quan trọng của chánh pháp. Có được
như vậy mới không uổng công chư cao tăng Ấn Độ, như Sáu Bảo Trang và Hai Tôn Giả,
đă viết ra biết bao kinh luận. Không th́ kinh sách chỉ để trên bàn thờ, thắp đèn
mà cúng. C̣n nếu muốn tự ḿnh trở thành học giả Kadampa th́ cần sách này để mà
tu. Kho kinh luận Kagyur và Tengyur là do các dịch giả Tây Tạng đă khổ công dịch
thuật, lại được các thánh giả Ấn Độ nghiêm cẩn chuẩn duyệt, đổ ra biết bao nhiêu
công sức để kinh luận không c̣n chút sai sót. Công khó của các vị sẽ không phí
uổng nếu chúng ta chịu khó noi theo truyền thống của các học giả Kadampa, tận
dụng nguồn kinh luận này. Có một số lịch sử gia nói rằng Đại Phương Trượng Thiện
Hải Tịch Hộ đến Tây Tạng khi đă ngoài 70. Mặc dù tuổi đă cao, sau khi đến Tây
Tạng ngài vẫn nỗ lực học Tạng ngữ. Ngài là một học giả lỗi lạc của Cựu Học Viện
Nalanda, nổi tiếng uyên thâm cả hai môn Trung Luận và Lượng Học. Nhưng khi học
Tạng ngữ, ngài gặp rất nhiều khó khăn, bắt đầu là mẫu tự tiếng Tạng. Tôi luôn
thắc mắc không biết ngài làm sao để mà phát âm cho đúng. Ngày nay có nhiều người
Ấn nói tiếng Tạng với giọng nói thật buồn cười. Trong quá khứ ở Tây Tạng, có thể
ở đâu đó vùng Gyantse, có một anh chàng người Anh học tiếng Tây Tạng, thầy giáo
lại dạy quí ngữ. Một hôm anh ta bị chó của một nhà quí tộc cắn. Khi mách lại với
nhà quí tộc, anh chàng người Anh kia lại dùng quí ngữ, gọi chân của ḿnh là "shab"
và gọi răng con chó là "tsem" ! Nói tiếng Tây Tạng giỏi quá đúng không? Có thể
là ngài Thiện Hải Tịch Hộ cũng vướng lỗi lầm tương tự khi dùng quí ngữ tiếng
Tạng. Và biết đâu ngài lại chẳng dùng chữ "kang-pa" thay v́ chữ "shab" để nói
đến chân của quốc vương King Trisong Detsen! Chúng ta cần tu học các bản kinh
luận cổ điển mà các học giả Kadampa đă từng tu học, và bất kể là tu học điều ǵ
cũng đều phải hành tŕ để mà chuyển tâm.
HẾT NGÀY 7
Ngày 8
by
hongnhu
on Sat Feb 14, 2009 1:50 am
Lama Tông Khách Ba nói rằng:
Tâm bồ đề chính là / rường cột của Đại Thừa
Là căn bản, nền tảng / của pháp tu vĩ đại
Thuốc hóa sắc thành vàng / của phước đức trí tuệ
Là kho tàng công đức / của muôn vàn thiện hạnh
V́ biết rơ như vậy / chư bồ tát giữ ǵn
Tâm bồ đề sâu kín / trong ḷng mọi pháp hành
Như hôm qua đă nói, tâm bồ đề là điều vô cùng mầu nhiệm thiêng liêng. Ngọc như ư
có thật hay không tôi không rơ, nhưng trái tim từ ái chắc chắn sẽ mang lại nguồn
an lạc tự tín, chúng ta sẽ cảm thấy thoải mái ngay lập tức, cả về lâu về dài
cũng vậy, đều được lợi ích lớn lao. Trong tất cả các loại tâm lư vị tha th́ tâm
bồ đề là rốt ráo nhất. Đây là tâm nguyện của kẻ có trí, rộng vô lượng vô biên.
Loại tâm vị tha được trí tuệ hỗ trợ này được gọi là rường cột của đường tu Đại
thừa, chúng ta nhờ vào đó mà đạt được trí toàn giác. Đường tu trí tuệ và phương
tiện của Đại thừa với tất cả những pháp hành quảng và thâm cần phải tu qua nhiều
đại kiếp dựa trên căn bản và nền tảng của tâm bồ đề.
Tâm bồ đề chính là / rường cột của Đại Thừa
Là căn bản, nền tảng / của pháp tu vĩ đại
Pháp tu của bồ tát – hành tŕ sáu hạnh ba la mật và bốn nhiếp pháp để thành thục
tâm ḿnh và tâm người – là pháp tu vô lượng vượt ra ngoài nhận thức của kẻ phàm
phu như chúng ta. Tất cả mọi pháp tu của bồ tát đều khởi động nhờ tâm bồ đề,
thành tựu nhờ tâm bồ đề. V́ vậy mà nói tâm bồ đề là căn bản và là nền tảng của
tất cả mọi pháp hành của bồ tát.
Thuốc hóa sắc thành vàng / của phước đức trí tuệ
Trí toàn giác có được là nhờ tích tụ đầy đủ hai kho phước trí. Hạnh phúc trước
mắt, dù chỉ là chút hạnh phúc bé nhỏ của một ngày sống, cũng chỉ có thể có được
nhờ vào công đức. Nói tóm lại, mọi nguồn hạnh phúc dù tạm thời hay miên viễn đều
đến từ công đức. Trong tất cả các loại công đức th́ công đức phát tâm bồ đề thù
thắng hơn cả, phát tâm nguyện vị tha muốn lợi ích chúng sinh bằng cách đưa chúng
sinh đến quả vị Phật. Đối với quả vị giải thoát và thành tựu rốt ráo nhất như
vậy, chúng ta không nên giữ cái nh́n thiển cận, không thể chờ đợi đạt kết quả
ngay tức khắc, phải phát tâm kiên tŕ theo đuổi tâm nguyện này cho đến cùng tận
không gian và thời gian. Có được nguồn nghị lực vị tha phi thường như vậy rồi
th́ mỗi phút mỗi giây chẳng cần dụng công cũng đều tích tụ được vô lượng phước
đức. Phương pháp tích tụ phước đức hữu hiệu nhất chính là tâm bồ đề. Nhờ tâm này
chúng ta tích tụ được lượng phước đức không thể nghĩ bàn, đồng thời cũng thành
tựu được kho trí tuệ giúp chúng ta đạt Trí Pháp Thân của Phật. Tất cả đều có
được là nhờ tâm bồ đề chứ không phải chỉ với chứng ngộ tánh không mà có thể đạt
được Trí Pháp Thân. V́ vậy mà nói:
Thuốc hóa sắc thành vàng / của phước đức trí tuệ
Là kho tàng công đức / của muôn vàn thiện hạnh
Như trong Bảo Hành Vương Chính Luận có nói, tâm bồ đề dù chỉ phút giây cũng đủ
viên thành hai bồ tư lương phước tuệ một cách dễ dàng nhờ "bốn yếu tố vô lượng".
V́ biết rơ như vậy / chư bồ tát giữ ǵn
Tâm bồ đề sâu kín / trong ḷng mọi pháp hành
Những điều vừa nói về tâm bồ đề là hoàn toàn đúng như sự thật, Chư bồ tát đă
phân tích như vậy bằng cái tâm không thành kiến, chư Phật đă giảng dạy như vậy
bằng cái tâm không thành kiến, hoàn toàn đúng với những ǵ Phật chứng biết về
thực tại. V́ vậy [Nhập Bồ Đề Hành Luận] có câu nói rằng:
Qua nhiều đại kiếp / Phật thấy ra rằng
chỉ có điều này / thật sự lợi ích
Chư bồ tát noi theo gót chân Phật cũng thấy tâm này thù thắng bậc nhất. Đây là
phương tiện thâm sâu nhất, mau chóng nhất, giúp chúng ta thành tựu mục tiêu cứu
cánh cho bản thân và cho tất cả. Các bạn Tây Phương luôn muốn điều ǵ nhanh nhất,
tốt nhất ! Vậy hăy nên tu tâm bồ đề. Muốn điều tốt nhất, thâm sâu nhất, chóng
vánh nhất, hăy tu tâm bồ đề ! Trên đời chẳng có ǵ hơn được tâm này !
V́ biết rơ như vậy / chư bồ tát giữ ǵn
Tâm bồ đề sâu kín / trong ḷng mọi pháp hành
Biết rơ điều này nên các đấng "đại hùng" bền bỉ theo đuổi mục tiêu làm lợi cho
người, lại khéo léo thành tựu lợi ích cho bản thân. Tôi nghĩ chư bồ tát luôn
biết cách toàn thành lợi ích của chính ḿnh [tự lợi] mặc dù cũng không bao giờ
từ bỏ lợi ích của chúng sinh [lợi tha]. Lợi ích cho bản thân th́ không ǵ bằng
thành tựu Pháp Thân, đây là mục tiêu tự lợi. Chư bồ tát biết rơ phương pháp thật
là chính xác và đầy đủ để mà thành tựu Pháp Thân. Mặc dù các bậc thanh văn muốn
được hạnh phúc và thoải mái, thế nhưng v́ không tu hạnh bồ tát nên không thể đạt
quả vị Phật. V́ vậy chư bồ tát vô cùng thông minh khéo léo. Tôi thường hay nói
đùa rằng nếu quí vị muốn ích kỷ th́ phải ích kỷ cho khôn khéo một chút. Ích kỷ
một cách ngu xuẩn, hẹp ḥi, thiển cận th́ chỉ thua lỗ mà thôi. Sống trong đời
cho dù không có tín ngưỡng cũng phải nên cố gắng chân thành sống v́ người khác,
được vậy sẽ có nhiều bạn, khi gặp nghịch cảnh chắc chắn sẽ có người cứu giúp.
Nếu chỉ biết quan tâm đến lợi ích cá nhân xem thường lợi ích của người khác th́
khi sống sẽ phải sống cô đơn một ḿnh, dễ bị người chê cười, khinh khi, nói xấu.
Rốt lại chẳng c̣n ai cạnh bên, không bạn, không người thân cho ta tin tưởng,
nương dựa. Nh́n qua bên phải lại nghĩ "người này chẳng đáng tin"; nh́n qua bên
trái, "người này chắc sẽ hại tôi, v́ tôi đă từng hại nó ". Nh́n ra phía trước
lại nghĩ, "người này chẳng thể trông cậy vào." Cứ như vậy, chẳng có ai cho ḿnh
tin tưởng. Ở đây, tôi đang nói đến đời sống xă hội chung chung, không liên quan
ǵ đến tôn giáo. Tâm bồ đề có khả năng giúp chúng ta làm lợi cho chính ḿnh và
cho người khác một cách dễ dàng. Người nào tu tâm bồ đề th́ gọi là "bồ tát đại
hùng", là người "giữ ǵn tâm bồ đề sâu kín trong ḷng mọi pháp hành". Tâm bồ đề
chưa có th́ bồ tát phát huy, tâm bồ đề đă có th́ bồ tát tăng cường, mang tâm bồ
đề về làm nền móng của pháp tu của ḿnh. Nếu chúng ta có thể mang pháp tu thiền
tánh không, thiền bổn tôn, thiền hai giai đoạn lừng danh của Kim Cang Thừa thâm
sâu kín mật, về làm chi nhánh của pháp tu tâm bồ đề, có như vậy mới là tu theo
Chánh Pháp, Mật Pháp Kim Cang Thừa và Đại Thừa.
Mật Thừa kín mật phổ biến rất rộn răi ở vùng Xứ Tuyết [Tây Tạng]. Khi xưa, các
đạo sư Ấn Độ giữ ǵn mật pháp một cách kín mật vô cùng, người Tây Tạng lại phổ
biến quá rộng. Vậy chúng ta bây giờ phải làm sao cho sự mở rộng này trở nên xứng
đáng, kẻo không lại mất đi năng lực hành tŕ kín mật.
Trong lịch sử Tây Tạng, tôi nghĩ có vị đại đạo sư ḍng Sakya tên Junga Nyingpo
của ḍng họ Khon, ngài nói rằng Mật Pháp ở Tây Tạng lúc bấy giờ đă suy đồi, nên
phải đưa ḍng mật pháp rất kín mật tại Ấn Độ vào lại Tây Tạng. Và rồi ngài đă
nhận được mật pháp từ các bậc đạo sư Ấn Độ như ngài Birwapa. Người Tây Tạng
chúng ta đă đi quá xa trong việc phổ biến mật pháp, vốn cần được tu tập một cách
kín đáo thâm mật. Nay th́ đă lan rộng khắp nơi. Tuy vậy, tu tập theo mật thừa
chỉ có ư nghĩa nếu có được mối quan tâm và chút kinh nghiệm thực chứng về tâm bồ
đề. Không biết ǵ về tâm bồ đề và tri kiến tánh không th́ cho dù có nhận mật
pháp quán đảnh, được đạo sư dẫn dắt, nhập thất nhiều năm trong cḥi tranh vách
đất cũng chẳng để làm ǵ. Khó lắm thay! Khó lắm thay! Trong đời sống xă hội cũng
vậy, có giải thích cho người khác biết về tâm bồ đề th́ như vậy mới thật là làm
điều lợi ích cho họ và cho xă hội nói chung. Chẳng nên đi quanh nói với thiên hạ
rằng nếu không cúng dường đạo sư th́ sẽ đọa địa ngục. Tôi thường hay kể câu
chuyện sau đây: Xưa kia có một vị sư trưởng sống tại vùng Kham Tây Tạng. Một hôm
có người đến cầu kiến, hỏi thăm thầy thị giả xem Sư Trưởng đang ở nơi nào. Thầy
thị giả cười nhạo rằng "thầy tôi đang ra ngoài hù dọa ông bà già!" Tôi nghĩ thầy
thị giả nói như vậy một phần v́ thân thiết với Sư Trưởng, nhưng đây thật sự là
một lời khuyên răn. Các vị đạo sư thèm thuồng tài sản cúng dường, cứ mang cảnh
địa ngục ra hù dọa người khác, đây thật sự là lợi dụng Phật Pháp để bốc lột Phật
tử. Là một vị thầy th́ phải nuôi dưỡng ḷng tin nơi tâm bồ đề, nơi tấm ḷng trân
quí người hơn bản thân, phải hướng về tâm bồ đề mà cầu nguyện, phải nói về tâm
bồ đề cho người khác nghe. Có làm như vậy mới giúp ích xă hội, mang hạnh phúc
đến cho bản thân và cho người khác. Sống trọn một đời không ác ư, không hại ai,
chắc chắn kiếp sau sẽ được lợi ích. Cho dù không tin có kiếp sau cũng vẫn được
sinh vào cơi tốt lành nhờ năng lực huân tập thiện tâm. V́ vậy chúng ta đều nên
thích thú nỗ lực thuần dưỡng thiện tâm này, đây chính là tinh túy của đường tu.
Hăy luôn ghi nhớ điều này.
|