|
XUÂN TRÊN ĐẤT PHẬT
MINH MẪN-30/01/09
Sương phủ dầy đặc,
10 giờ 30 đêm mà cứ như khuya lắm; chim chóc im bặt, cảnh vật ch́m vào u tịch.
Trong màn đêm, xa xa c̣n le lói ánh sáng mờ đục của những ngọn đèn từ các chùa
quanh khu vực Tháp. Cứ cách nhau vài răm mét có một ngôi chùa, càng gần Đạo
tràng, chùa càng nhiều, có chỗ chùa sát vách nhau. Ngoài chùa Tây Tạng c̣n có
nhiều chùa Miến Điện .
Chánh điện tuy bị bao phủ bởi khí lạnh và màn đêm, nhưng ánh sáng từ nội điện
cùng với hàng loạt ngọn đèn cầy thắp quanh chùa, chạy dọc hai bên lan can dẫn
xuống sân, làm cho không khí về đêm tăng phần huyền nhiệm. Giờ nầy tại Việt Nam
đúng Giao Thừa. gần 20 người vân tập về chánh điện, các nghệ nhân người Huế cũng
trịnh trọng trong chiếc áo tràng lam. Thầy Kiến Huệ chủ lễ, cô Khema Duy Na,
Nick Kharma thủ trống. Đèn thắp sáng khắp nơi, không gian im ắng làm cho mọi
người lẻ loi giữa sự giao hoà trong giờ phút nhiệm mầu của đất trời. H́nh như
mỗi người đều hướng về đất tổ, những kẻ tha phương mưu sinh đang chờ đợi cuộc
gọi chúc Xuân của người thân từ hướng Đông. Nơi đây không có nhạc Xuân rộn ră
trên TV, không có rộn rịp của gịng người đi lễ chùa đầu năm. Đối diện chùa độ
50m, những công nhân người Ấn trực đêm trong building bốn tầng, đứng từ cửa sổ
nh́n qua chùa Việt Nam, nghe chuông trống đón giao thừa, nh́n nhóm người tay cầm
nhang, tay đốt đèn hướng về quê mẹ cầu nguyện những điều tốt đẹp cho dân tộc,
cho đất nước. Susanto châm ng̣i pháo, tiếng nổ như xé bầu không gian u tịch,
một luồng sáng bay lên không trung, tiếp là tiếng nổ lớn làm tung toé các cḥm
sao pháo bông phủ một góc trời. Xa xa, thỉnh thoảng có vài tiếng nổ của pháo
mừng ngày độc lập Ấn độ. Mồng một tết năm nay trùng ngày quốc khánh của India,
một xứ sở từng bị Anh đô hộ, hàng triệu người bỏ mạng v́ đấu tranh giành độc lập
theo lời kêu gọi bất bạo động của Thánh Gandhi.
Trước một ngày, các tụ điểm đông dân cư, địa phương đều tổ chức meeting, ngày 26
tháng giêng 2009, các trường học kéo học sinh về Bodhgaya Temple, kèn trống inh
ỏi, cùng với lời mời của Management Committee, các tu sĩ, thân hào nhân sĩ, các
tôn giáo đảng phái đến tham dự. Khu vực Đạo tràng lại bùng dậy làn sóng người
trẩy hội!
Sau một đêm thức đón giao thừa, đốt lửa sinh hoạt mừng năm mới, dưới tán tre già,
mọi người ngồi vây quanh, kẻ hát người kể chuyện; Các nghệ nhân xứ Huế với giọng
thâm trầm của sông Hương núi Ngự, nhạc Huế lẫn nhạc Nam được lần lượt tŕnh bày.
Mở đầu chương tŕnh văn nghệ, nhạc bản Xuân Nầy Con Không Về nghe thật
năo nuột, đó là tâm sự của kẻ xa nhà khi Xuân đến. Năm xưa, 1978, lần đầu tiên
đi tù, nằm trong xà lim nơi đèo heo hút gió miền Trung, vọng đâu đây tiếng pháo
xa xa, báo hiệu tết đến, cũng bản Xuân Nầy Con Không Về của các bạn tù
trong các sam tập thể giữa đêm trường nơi rừng sâu, tưởng chừng ruột gan đứt
đoạn. Người cô độc c̣n như thế th́ những kẻ có gia đ́nh, có con cái, họ thấm
thía Ái Biệt Ly khổ như thế nào. Những người tù “mồ côi” nh́n anh em có thân
nhân thăm nuôi, quây quần bên thức ăn đón Xuân, buồn đă đành, những người được
bên ngoài thương tưởng gửi quà, họ nh́n đồ ăn mà nhớ đến t́nh cảm và h́nh ảnh
thân thương của gia đ́nh, họ cũng chẳng vui ǵ hơn, v́ những món họ đang có là
phần nhịn của vợ con khi cuộc sống lúc ấy chỉ có bo bo bột ḿ làm bữa ăn chính.
Hôm nay, tuy xa nhà, không gian có khác hơn, nhưng sống giữa xă hội bất đồng
ngôn ngữ, không cùng tập quán, kẻ tha hương cũng thấy trống vắng lạc lỏng mênh
mông. Tiếp theo, đặc biệt cô Nick Kharma đọc một đoạn kinh META SUTA ( TÂM TỪ)
làm cho không khi lắng đọng, h́nh như chư Thiên chung quanh cũng chắp tay lắng
nghe, ngọn lửa nhảy múa vui mừng, sáng ra, các chú nghệ nhân tḥng phong pháo
hồng nhạt từ hoa văn cổng Tam quan để đón chào mồng một. Dưới các nhánh tre,
những phong b́ đỏ mang gịng chũ: With Heartiest Wishes, tọn teng trước
gió, để mọi người hái lộc đầu Xuân, nội dung bên trong là những câu kinh Pháp Cú
do cô Kharma thực hiện. Tuy pháo nổ ḍn, nhưng một số viên lẻ vẫn rơi tung toé.
Khema và Kharma ra Tháp thật sớm, lễ Phật toạ thiền, mang về một số bánh bao của
Tây Tạng và bánh chiên của Ấn cho nội chúng dùng điểm tâm. 9 giờ kéo nhau ra lễ
và nhiễu Tháp. Khách thập phương cũng tấp nập đến lễ các chùa qunh tháp. Tuy đa
phần người Ấn theo Hindu và Hồi, nhưng họ vẫn đến chùa. Ngoài Đạo tràng và các
tự viện Phật giáo quốc tế, họ không có nơi nào để giải trí vui chơi. Đàn ông
Ấn chạy xe phân khối lớn, môtô từ 125 trở lên, ra đường ăn mặc lịch sự, nhưng
nhà ở th́ u ám tăm tối. Trong nhà hay ngoài đường luôn nồng nặc mùi xú uế phế
thải. Đặc biệt người Ấn rất đoàn kết; không bao giờ có kẻ say xỉn ngoài đường,
chẳng có cảnh đấu đá đánh nhau. Giao thông không hề có công an; xảy ra tai nạn
hai bên tự động giải quyết êm đẹp. Ngoại trừ có chết người th́ cảnh sát mới đến
làm việc. Buôn bán họ có thể nói thách, nhưng không biết lợi dụng đông người
trong mùa hành hương mà đồng loạt nâng giá. Giới trung lưu gia đ́nh rất nề nếp
tôn ti. Bán buôn họ không biết đon đả mời khách.
Tuy là xứ sở tôn giáo thần linh, vẫn xẩy ra tệ nạn giết người cướp của. Du khách
Việt, Úc từng là nạn nhân, nhất là người Nhật bị mất tích nhiều. Du khách ít ai
dám đi một ḿnh, vào các quán ăn, giải khát thỉnh thoảng cũng bị thuốc mê, may
lắm th́ bị lột sạch tiền bạc, nếu không th́ cũng bị mất mạng. Ở Ấn đất rộng mênh
mông,việc thiêu người chết quá b́nh thường và dễ dàng, v́ thế khó ai phát hiện
những vụ thủ tiêu nạn nhân. Tuy nhiên, trộm cắp vặt không thấy xảy ra. Chiếc xe
môtô để ngoài đường nhiều ngày vẫn c̣n. Vào Đạo Tràng bỏ xe ở ngoài cũng không
mất. Bên Ấn không có điểm giữ xe. Rất nhiều cái tương phản trong xă hội Ấn mà ít
có quốc gia nào có. Những người Việt ở Ấn lâu năm, họ than phiền là rất mệt mỏi
khi làm ăn hoặc giao dịch với người bản địa, họ rất trung thực với đồng hương,
nhưng với người nước ngoài, họ lại rất điêu ngoa. Muốn mua đất tại Án, phải có
tên người Ấn đứng chủ, v́ thế mà một số sư nước ngoài bị mất trắng. Mua gạch xây
chùa đến tận ḷ chọn loại một, khi chở đến, họ pha trộn loại hai hoặc không đủ
số lượng. Các trường học tại Gaya, kể cả đại học, đóng tiền có tên mà ít khi
thấy học sinh hoặc thầy giáo có mặt, mùa thi đóng tiền, họ cho bài về nhà làm,
ai có tiền nộp th́ được đậu. Sư cô Từ Tâm, người Việt quốc tịch Mỹ, mở lớp học
từ thiện mướn cô giáo bản xứ tốt nghiệp trung học cấp ba đến dạy, chính cô giáo
cũng không biết làm toán nhân. Phần lớn trẻ con các vùng xa thất học v́ quá
nghèo và không có trường công lập; có trường mở ra chỉ để nhận sự giúp đỡ từ
người ngoại quốc, mạnh thường quân ra về là trường tự động giải tán. Các tu sĩ
Việt Nam mở nhiều trường, phải mướn thầy giáo của họ dạy cho con em họ, thế mà
họ vẫn gây khó khăn cho các sư mỗi khi chưa có tiền trả lương. Sư Giác Viên lập
Tịnh Xá Kỳ Hoàn cách Khổ Hạnh Lâm gần 10km, đem tiền của từ Việt Nam qua để giúp
đồng bào trong làng, khuyến hoá con em đến chùa và độ cho trên mười em xuất gia,
bố mẹ muốn gửi con vào chùa để có cái ăn cái mặc, thỉnh thoảng chúng về nhà cả
tháng khi có lễ của Hindu, lúc có lỗi bị phạt quỳ nhang, cha mẹ chúng biểu t́nh
phản đối. Xét thấy chúng khó cảm hoá, trả lại nhà, gia đ́nh cũng làm đơn thưa
buộc chùa phải nhận lại. Sư Minh Thủy nói có sống gần họ mới biết tại sao họ
nghèo khổ, họ không biết đạo đức nhân quả, họ sống theo ngoại đạo mê muội, không
biết phải quấy. Họ cúng đất xây Tịnh xá, khi xây xong, họ làm đơn kiện buộc phải
bồi thuờng…
Công nhân lănh lương xong là nghỉ, ăn hết tiền mới trở lại làm việc; họ làm tà
tà cho hết giờ chứ không cần xong việc. góp ư chỉnh sửa, họ đều OK, nhưng đâu
lại vào đấy. V́ thế chẳng lạ khi thấy các chùa của nhiều quốc gia có mặt mà
không chùa nào độ được người bản xứ đi tu. Myanmar, Srilanka, Thái , Việt,
Bangladesh, China, Taiwan, Korea…cũng chỉ dành cho những người của Myanmar.
Srilanka, Thái, Việt, Bangladesh, China, Taiwan, Korea và một số người Âu châu
tu mà thôi. Người bản xứ chỉ đến làm thuê công nhật. Lương lao động rất rẻ, cao
nhất là 80 rubi một ngày, tương đương 28 ngàn đồng VN.
Cái chết đối với họ là chuyện quá b́nh thường, v́ thế người chết không cần thân
nhân đưa tiển, chỉ vài người khiêng xác trên tấm ván ra đồng đốt, nếu ở xa sông
Hằng. Không kèn trống ầm ỷ như VN, không có cảnh thương vay khóc mướn, tẻ nhạt
đến độ tàn nhẫn; ngược lại, đám cưới rất rộn ră, nhạc mở suốt ngày, nhà giàu tổ
chức phô trương qua các bang lân cận; Nhưng không có cảnh ăn nhậu bia bọt. Họ
nằm bừa băi trên đất hay bất cứ nơi đâu có thể, v́ họ quan niệm thân xác nầy
cũng là của đất, sẽ trở về với đất.
Họ rất sùng kính tín ngưỡng. Những khu vực xa đền thờ, mỗi chiều, quần chúng tụ
tập bên hông nhà, đặt ảnh nữ Thần dưới đất, năm bảy người xúm nhau đọc kinh
cầu nguyện. Một tháng không biết bao nhiêu cuộc lễ của tôn giáo. Gần chùa Việt
Nam có ao đất sét, nước tù đọng, đục ngầu, hằng ngày người dân địa phương đem
áo quần ra đó giặt, trẻ con đến đó phóng uế, trâu ḅ dê ngựa đến uống, cứ dăm
hôm lại có đám rước, chiếc xe đạp đặt tượng nữ thần Mặt Trời làm bằng rơm bọc
đất sét, sơn phết rất đẹp và sinh động, máy và loa cũng trên chiếc xe đó, trẻ
con và học sinh hơn chục người vây quanh đọc kinh, thoa bột màu trên mặt, hát ḥ
nhảy múa rồi bê tượng nữ Thần xuống ao trấn nước, để nữ Thần ở lại với Hà bá,
mọi người lại hân hoan nhảy múa và ra về, Có ngày gần mười đám diễn ra trên ao
ước như thế. Họ có gần 10 ngàn vị Thần chính thức và vô số vị Thần bán chính
thức tùy theo tập tục của mỗi địa phương, mỗi sắc tộc, Đức Phật Thích Ca là một
trong số Thần mà người Hindu tôn thờ. Tuy họ có nhiều chủng tộc, nhưng tiếng
Hindi được chọn làm ngôn ngữ phổ thông ngoài tiếng mẹ đẻ, tiếng Anh đứng hàng
thứ ba.
Riêng tại khu vực Bồ Đề Đạo tràng, Phật giáo cũng thường tổ chức lễ lộc trong
mùa hành hương . Đầu tháng giêng 2009 các sư Tây Tạng luân phiên tổ chức cầu
nguyện Hoà b́nh hơn 10 ngày; cúng dường trai tăng hàng ngàn vị. Bố thí đại trà;
Hôm qua đây, cũng tại chùa Tây Tạng cách Bồ Đề Đạo Tràng 50m, một người Việt tổ
chức trưng bày ngọc Xá Lợi Phật và nhị vị đại đệ tử Phật cho quần chúng chiêm
bái suốt ba ngày, cũng cúng trai Tăng cho tất cả tu sĩ các quốc gia có mặt, đặc
biệt chùa Tây Tạng nơi đây hoàn toàn dùng chay. Chính quyền địa phương hổ trợ
nhiệt t́nh cho mọi lễ lộc của Phật giáo. Có những đoàn Việt Nam đến thăm, họ
ngạc nhiên số người văng lai tại Bồ Đề hàng ngày đều tấp nập như lễ hội, nổi cộm
vẫn là bóng dáng các tu sĩ Tây Tạng, quần chúng Tây Tạng và người Âu châu tu
theo Tây Tạng.
Người Việt đón Tết, ra lẽ Phật tại gốc Bồ Đề trong không gian thanh tịnh, khí
lạnh phủ vây; mọi người nhộn nhịp tưởng chừng họ cùng đón Xuân, v́ thế kẻ tha
hương cũng bớt cảm thấy lẻ loi cô quạnh. Trong chùa, hương vị tết Việt cổ truyền
vẫn c̣n đậm nét trên bánh mứt. Mặt tiền chánh điện ngôi chùa Việt Nam vẫn hướng
về đất tổ quê cha, vẫn khóm tre có chim ca hát suốt ngày, xác pháo c̣n nằm bề
bộn một góc trên đất Phật như mọi cái bề bộn của người dân Ấn tồn tại hàng
ngàn năm qua. Vẫn thời tiết khắc nghiệt, vẫn những tương phản khó định nghĩa về
một đất nước đậm nét Thần linh. Riêng Phật giáo nơi đây, chỉ tồn tại qua những
Thánh tích và h́nh bóng tu sĩ nước ngoài, quần chúng Phật tử so với dân Ấn nó
chỉ bằng số không; đạo Phật vẫn tồn tại như sự tồn tại của cổ thụ Bồ Đề trải
qua nhiều thăng trầm hủy diệt; cũng thế, cái Tết Việt Nam vẫn tồn tại trong góc
thẩm sâu của tâm hồn người Việt xa quê. Những cộng đồng người Việt ở các quốc
gia phương Tây dẫu sao c̣n ấm áp khi Xuân về, nhưng Ấn Độ, hương vị Tết Việt Nam
mênh mông bàn bạc như cánh chim lạc bầy giữa khí lạnh mùa Đông. Rất may, nơi đây
là Thánh địa mà Đức Thế tôn đă đắc đạo. Xin cúng dường năng lượng nầy, từ trường
nầy về cho những người con viễn xứ Xuân lai.
MINH MẪN
30/01/09
|