|
PHẦN THỨ NH̀
CÁC BẬC SIÊU PHÀM Ở MIỀN THẤT SƠN
CHƯƠNG V
LƯỢC SỬ
(1)
ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ
GS Nguyễn Văn Hầu.
Nói
về đoạn Đức Thầy thuyết pháp giảng đạo mà không nói đến việc Ngài hay dùng cách
nói lái và đồng âm dị tự tức là c̣n sơ sót vậy. Nếu cụ Trạng Tŕnh
ngày xưa có dùng cách nói lái trong lời tiên tri của cụ (2) th́ ngày nay Đức
Thầy cùng ưa dùng cách nầy trong những câu chuyện hay trong Sám giảng của Ngài.
Bà
thân của anh Sáu Giúp ở thôn Phú Lâm đi Ḥa Hảo nghe thuyết pháp về có thuật lại
trong khi giảng đạo, Đức Thầy có nói: "Đàn bà bây giờ ưa bán chồng quá!"
Thấy ai cũng sửng sốt không hiểu, Đức Thầy mới nói, "Bán chồng là bóng chàng!"
Với
cách nói lái trên đây, Đức Thầy đă dùng những chữ thầy tăng, tôi thiểu và
nhất là câu, "Tôi là thầy tu" để nói chuyện với viên Tham Biện, Chánh Chủ
Tỉnh Cần Thơ (tất nhiên là người Pháp) vào năm 1940.
Về
sự dùng đồng âm dị tự, chúng tôi xin kể sau đây vài giai thoại:
1. Một hôm nọ, Đức Thầy hỏi chư tín đồ câu này: "Phải
tu như con rùa hay con cua đinh?" Ai nấy đều nói phải tu như con rùa, v́ thuở
nay người ta vẫn cho rằng con rùa biết tu chớ không ai nghe nói con cua
đinh biết tu . Nhưng Đức Thầy nói: "Phải tu như con cua đinh v́
nó có vè chứ con rùa không có vè." (Ư Đức Thầy
muốn nói người tu phải có sự dè dặt và không nên không dè
đối với mọi việc ǵ.).
2. Lúc Đức Thầy ở Sài G̣n gần Sở Hiến Binh Nhựt, có
vài tín đồ ỷ lại nơi sự che chở của quân Phù Tang nên dường như không dè dặt
trong mọi hành động. Đức Thầy nói, "Hễ ỉ th́ ướt"
(Ỷ lại th́ mang tai).
C. Ra Kệ Giảng
Đă
thuyết pháp, chữa bịnh Đức Thầy lại c̣n viết ra nhiều cuốn Sám
giảng. Những tác phẩm ấy, phần nhiều thuộc loại văn vần. Ngài viết một mạch
không cần suy nghĩ và khỏi dùng giấy nháp. Ta có thể nói rằng Ngài viết mau lẹ
và dễ dàng hơn cả ông Aleyone Krishnamurti viết cuốn "Aux Pieds du
Maitre." (3)
Dưới đây, xin kể sơ những tác phẩm của Đức Huỳnh Giáo Chủ:
1.
Cuốn thứ nhứt nhan đề "Sám Giảng Khuyên
Người Đời Tu Niệm," viết theo điệu thượng lục hạ bát hồi tháng 9 năm Kỷ Măo
(1939) tại Ḥa Hảo và gồm 910 câu, khởi đầu bằng câu:
Hạ ngươn nay đă hết đời.
Trong quyển này, Đức Thầy đánh thức bá tánh vạn dân bằng cách
tiên tri những cảnh lầm than khốn khổ mà nhân loại phải trải qua trong thời kỳ
can qua binh lửa:
Thấy đời ly loạn bất an,
Khắp trong các nước nhộn nhàng đao binh.
Ng̣i buồn nói chuyen bông lông,
Khắp trong trần hạ máu hồng nhuộm rơi.
Giàu sang như nước trên nguồn,
Gặp cơn mưa lớn nó tuôn một giờ.
Mèo kêu bá tánh lao xao,
Đến chừng rồng rắn máu đào chỉnh ghê.
Con ngựa lại đá con dê,
Khắp trong trần hạ nhiều bề gian lao.
Khỉ kêu cũng bị xáo xào,
Canh khuya gà gáy máu đào mới ngưng.(4)
Đời c̣n chẳng có mấy năm,
Khắp trong các nước thây nằm bằng non.
Cha th́ chẳng thấy mặt con,
Vợ th́ chồng chẳng được c̣n tại gia.
Đức Thầy
cũng tường thuật lại việc Ngài hoá hiện ra ngfười đui cùi đói rách, buôn gánh
bán bưng, khi già lúc trẻ, khi dốt lúc quê, khi nam lúc nữ, v.v... để đi dạo lục
châu thử ḷng bá tánh, giác tỉnh người đời bằnng vè, ca, thi giảng...
Dưới đây xin kể vài người (trong số nhiều người) đă chứng minh những sự
hoá hiện nói trong cuốn Sám giảng trên đây:
1. Ông Cựu Hương Chánh Cao Văn Viết ở thôn B́nh Thạnh
Đông (Châu Đốc) nh́n nhận có thấy người cùi gây lộn bằng tiếng Tây tại Châu Đốc
y như trong câu "Giả ra gây lộn nói tiếng Tây!" trong quyển thứ nhất.
2. Anh Tôi ở Hoà
Hảo bơi xuồng theo không kịp một ông già chèo ghe khẳm mà đi nước
ngược. Ông già này có kêu anh mà nói: "Mầy ăn thịt trâu nhiều quá chèo theo tao
sao nổi!" Xem lại quyển thứ nhứt, ta thấy những câu:
Ghe Điên vốn thiệt ghe be;
Mà lại Điên nhè nước ngược thẳng xông.
Ra oai thuyền chạy như dông,
3. Cô Lê Thị Cứng
tức Tư Cứng ở gần nhà Đức Thầy có mất một cây lănh
và rất nhiều quần áo. Cô khóc lóc buồn rầu. Khi đó có một chiếc ghe (trong đó có
bốn người) ghé lại nhà cô để coi bói. Một trong bốn người này (tức là ông thầy
bói) sau khi xem xong bèn nói với cô: "Của đă mất th́ thôi, cô không nên buồn
rầu; vụ trộm này do bà con của cô điềm chỉ. Cô rán làm rồi sau sẽ khá bằng hai."
(5)
Ở
làng Ḥa Hảo, ai cũng biết rằng mấy câu dưới đây (trong quyển nhứt) nói về
trường hợp của cô Tư Cứng:
Có người ở xóm bằng nay
Bị mất trộm rày đồ đạc sạch trơn.
Du thần bày tỏ nguồn cơn,
Rằng người nghèo khó đang hờn phận duyên.
Điên ghe vội vă quày thuyền,
Dùng khoa coi bói giải phiền phàm nhơn.
Coi rồi bày tỏ nguồn cơn,
Xin cô đừng giận đừng hờn làm chi.
Sau
lại Đức Thầy sai bào đệ của Ngài là cậu Út Huỳnh Thạnh Mậu đem trao cho cô Tư
Cứng hai bài thi tứ cú dưới đây. Ngài dặn nói rắng là của ông thầy coi bói hôm
nọ cậy đưa cho cô:
Kích động thiện tâm lụy xót xa,
Thoàn loan trở gót dụng tiên khoa.
Khuyên giải phàm nhơn tan sầu muộn
Vật dụng gia đ́nh khó kiếm ra.
Thương đó ḷng đây rất thiết tha,
Thiên định số căn mới xảy ra.
Đoái thấy tà gian Trung Trực ghét,
Nhưng v́ vận hạn chảng phui ra.
4. Ông tài công Hợi ở Hoà Hảo cũng nh́n nhận có hai người lạ mặt lại
nhà ông, một người th́ giă gạo, một người th́ bán thuốc Sơn đông. Ông bán thuốc
Sơn đông mời cô Tư Cơ mua một ve thuốc bổ trị phong và dặn nên pha với nước nóng
chớ đừng pha với rượu v́ nó kỵ thai. Khi đó có anh Huỳnh Văn Gọn (sau này là Đại
Đội Gọn) và một người bạn của anh là anh Khâm lại coi, bảo cô này đừng mua v́
anh nói thuốc Sơn đông đi bán dạo mà hay ho ǵ.. Lúc đó, thân phụ của anh Gọn là
ông út Huỳnh Văn Quốc lại rầy anh (6). Người bán thuốc Sơn đông có nhổ răng cho
một người ở xóm đúng như những câu này:
Rồi đi dạo xóm một khi,
Đi lên nhà th́ giă gạo mà chơi.
Hai thằng ở xóm bằng nay,
Nó nói ngày rày thuốc chẳng có hay,
Người cha đi lại thấy rầy,
Thiệt mấy đứa nầy căi cọ làm chi.
. . . . . . .
Xóm này kẻ ghét người ưa;
Ghé vào nhà nọ nhổ bừa cái răng.
5. Ông Lê Văn Hẳng tức Năm Hẳng ở thôn Kiến An (Chợ Mới) có nh́n nhận
với chúng tôi rằng lúc đó một ông già tóc râu bạc trắng, đạo mạo khác thường có
ghé nhà ông thuyết Đạo ngâm giảng (ứng khẩu) rất hay). Dị nhân ấy giảng rất
nhiều, nhưng ông chỉ nhớ có hai câu khuyên ông như vầy: (7)
Ḿnh người tu niệm vậy mà
Nói chi lớn tiếng người mà khinh khi.
Chính ông Hẳng cũng quả quyết rằng ông có cúng tiền đi non Bồng.
Mấy
chuyện ấy quả thật ăn khớp với những câu dưới đây trong quyển thứ nhứt:
Có người xưng hiệu ông Quan,
Tên thiệt Vân Tràng ở dưới Dinh Ông.
Thấy đời cũng bắt động ḷng,
Ghé vào tệ xá thẳng xông lên nhà.
Ḿnh người tu niệm vậy mà
Nói chi lớn tiếng người mà khinh khi.
Người nhà cảm tạ một khi,
Cúng năm cắc bạc tiền đi non Bồng.
Điều nên để ư là:
Trong lúc mà Đức Thầy gọi là "Đi dạo lục châu" th́ Đức
Ông mất chiếc ghe lườn có mui. Đức Ông cố t́m măi mà không được. Đức Thầy lcười
và cho Đức Ông bài thơ dưới đây:
Thoàn nhỏ ly gia vị tất nan,
Bửu sanh du lịch lục châu giang.
Kim Sơn thương măi toàn lê thứ,
Thức tỉnh bá gia giấc mộng tràng.
2.
Cuốn thứ nh́ nhan đề "Kệ Dân của Người Khùng,"
viết tại Hoà Hảo theo điệu thất ngôn ngày 12 tháng 9 năm Kỷ Măo (1939) và
gồm 476 câu, khởi đầu bằng câu:
Ngồi Khùng trí đoái nh́n cuộc thế.
Cũng như trong quyển nhứt, ở đây Đức Thầyvừa tiên tri những tai nàn sắp đến, vừa
khuyên bá tánh lánh dữ làm lành:
Đến chừng đó bốn phương có giặc,
Khắp hoàn cầu thiết thiết tha tha.
Vậy sớm mau kiếm chữ ma ha,
Th́ Phật cứu khỏi nơi khói lửa...
Trung với hiếu ta nên trau sửa,
Hiền với lương bổn đạo rèn ḷng,
Thường nguyện cầu siêu độ Tổ Tông,
Với bá tánh vạn dân vô sự.
Đời Ngươn hạ nhiều người hung dữ
Nên xảy ra lắm sự tai ương...
Ngoài ra Đức Thầy không ngần ngại đánh đổ những sự mê tín dị
đoan của những nhà sư chỉ chỉ dụng thinh âm sắc tướng và bồ đề chuổi hột để mê
hoặc bá tánh thập phương. Dưới đây là vài lời thơ giản dị, lưu loát và đầy lương
tri của Ngài:
Theo Thần Tú tạo nhiều chuông mỏ,
Mà xưa nay có mấy ai thành...
Làm hiền lành hơn tụng hơ hà,
Hăy tưởng Phật hay hơn ó ré...
Nếu làm đám được về Cực Lạc,
Th́ giàu sang được trọn hai bề,
Ỷ tước quyền làm ác ê hề,
Khi bỏ xác nhiều tiền lo lót...
Những giấy tiền vàng bạc cúng thôi,
Chớ có đốt tốn tiền vô lư...
Tu vô vi chẳng cúng chè xôi,
Phật chẳng muốn chúng sanh lo lót.
Kẻ nghèo khó tu hành ngay thẳng,
Không cầu siêu Phật bỏ hay sao?
Hơn
thế nữa, Đức Thầy không
quên những bậc thượng trí thượng căn nên Ngài cũng giáo thuyết thêm những điều
vừa cao siêu, vừa đầy chơn lư:
Phật tại tâm chớ có đâu xa,
Mà t́m kiếm ở nơi non núi....
Đạo Thích Ca nhiều nẻo cao sâu,
Phải t́m kiếm cái không mới có.
.
GS Nguyễn Văn Hầu.
(C̣n tiếp)
CHÚ THÍCH:
(1) XIN LƯU Ư: Đây chỉ là LƯỢC SỬ của Đức Thầy. T́m đọc quyển "Tiểu sử của ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ" đầy đủ hơn.
(2)
Ví dụ: Tiên tri rằng cha con thằng Khả ngày sau sẽ làm ngă mộ bia của Ngài, cụ
Trạng có viết sẵn phía sau tấm bia câu này: "Cha con thằng Khả, làm ngă bia tao,
làng bắt đền tam quán." Chừng bia ngă, hàng chữ lộ ra, người ta mới biết là cụ
Trạng đă tiên tri việc này. Suy ra họ biết cụ Trạng nói lái và dặn làng bắt đền
một quan tám.
(3)
Ông A. Krishnamurti mỗi đêm phải xuất vía đến cho Thầy (một vị chơn tiên) dạy
một đoạn. Sáng ra ông chép lại những lời dạy ấy. Nhiều lần như vậy mới rồi quyển
sách nói trên.
(4)
Đức Thầy tiên tri về cuộc Thế Giới Đại Chiến thứ hai, khởi đầu năm Kỷ Măo (Mèo,
1939), kéo dài qua các năm Th́n, Tỵ, Ngọ Mùi, Thân (Rồng, Rắn, Ngựa Dê, Khỉ:
1940, 41, 42, 43, 44) và kết thúc vào năm Dậu (Gà, 1945).
(5) Quả thật hiện giờ cô Tư Cứng khá lắm v́ nhờ mua bán vải tại chợ Mỹ Lương (Hoà
Hảo).
(6) Theo lời ông Út thuật lại th́ sáng hôm ấy, Đức Thầy có dặn ông coi chừng
phần xác của Đức Thầy. Sau khi căn dặn, Đức Thầy nằm dài trên một chiếc ghế bố (đầu
day vô nhà, chơn duỗi thẳng ra ngoài đường lộ) từ sớm mai đến lối 11 giờ sáng.
Lúc đó Đức Thầy nằm im lặng, ngực chỉ thoi thóp với những hơi thở yếu ớt và đều
đều. Có một lần Đức Thầy mở mắt ra bảo ông Út đi hái một mớ bông trăm-063i rải
chung quanh chỗ Đức Thầy nằm.
Trong khi ông Út làm phận sự "coi chừng" nói trên, ông có lẽn bước ra ngoài
đường tiểu tiện. Chính trong lúc đó là lúc ông gặp anh Gọn và anh Khâm trong vụ
bán thuốc Sơn đông và có rầy hai anh này. |