Về Quê Có Chi
Vui?
Thích Nguyên Hiệp
Tết năm
nay tôi về quê. Quảng Trị tháng chạp
run rẩy, co ro trong mưa rét, hết
ngày này sang ngày khác. Trời đất
sũng nước, làm tăng thêm cái sự
nghèo khó của một vùng đất yên vị
nơi đoạn thắt lưng của cái h́nh cong
chữ S! Hướng Hoá, quê nhà của tôi,
trời ít mưa ít lạnh hơn, do v́ ảnh
hưởng khí hậu Lào. Quốc lộ 9, nối từ
Đông Hà lên Lao Bảo, một cửa ngơ
giao thương quan trọng của tỉnh, mà
phần lớn mang hàng về nhiều hơn hàng
đi, cuối năm hơi bận rộn, góp phần
làm cho vùng đất miền núi thêm chút
sôi động vào những ngày cuối năm!
Vùng
đất này từng là chiến địa, một chiến
địa khóc liệt, tôi nghe ba tôi nói
vậy. Tôi là kẻ sinh sau đẻ muộn,
không biết nhiều về nó mà chỉ nghe
người lớn kể lại và qua một vài
trang sách mà t́nh cờ đọc được đâu
đó. Nhưng cái di chứng của cuộc
chiến th́ tôi phần nào biết rơ, bởi
cái “trận địa” này đă trở thành quê
hương của tôi, khi gia đ́nh của tôi
“nhập” vào một đoàn di dân đến những
vùng “biên địa hạ tiện” với tên gọi
Vùng kinh tế mới. Sau những năm vào
và ra hợp tác xă, sau những năm bị
sốt rét hành hạ, sau những năm… ăn
củ ḿ thay cơm, cuộc sống rồi cũng
có những thay đổi, và người dân bắt
đầu nghĩ đến việc lập chùa để đáp
ứng nhu cầu tâm linh, mà bao nhiêu
năm v́ nhiều lư do, người dân đă
không nghĩ đến (và cũng có thể không
dám nghĩ đến).
Dựng chùa là một việc làm thiện, một
điều thiêng, nhưng có những thời
điểm không phải hễ làm điều thiện
điều lành th́ “người ta” cho phép
làm. Bởi v́ ở một thời điểm, khi mà
đ́nh chùa miếu máo bị biến thành nhà
kho hay cơ sở chăn nuôi th́ không dễ
ǵ người ta cho xây mới những thứ đó.
Nhưng v́ phát xuất từ nguyện vọng
chính đáng, nên rồi người ta cũng
không thể gây khó dễ và ngăn chặn
hoài được. Và v́ vậy, những ngôi
Niệm Phật đường bắt đầu lần lượt mọc
lên, trên những vùng đất kinh tế mới.
Và khi chùa mọc lên, người dân bắt
đầu đến chùa sinh hoạt, và có những
hoạt động văn hoá vào những ngày lễ,
th́ những tôn giáo khác cũng bắt đầu
vận động thiết lập cơ sở và mở chiến
lược truyền đạo, vừa âm thầm vừa
công khái!
Chúng tôi hồi nhỏ, thường sinh hoạt
GĐPT tại tư gia của một bác Phật tử,
v́ thời điểm đó ở địa phương không
có chùa. Rời quê một vài nằm, trở về
th́ thấy có một ngôi Niệm Phật đường
nhỏ, mọc lên trên một miếng đất vài
trăm mét vuông do một Phật tử cắt ra
từ mảnh vườn của ḿnh để cúng dường.
Miền núi mà vẫn không xin được đất
xây chùa! Vài ba năm về quê một lần,
niệm Phật đường vẫn là một Niệm Phật
đường nhỏ, và ngót nghét gần hai
mươi năm, nó vẫn chưa hoàn thiện
được h́nh hài của ḿnh…
Cuối năm ngồi cùng các bác các chú
trong Khuôn hội, nghe kể chuyện xa
chuyện gần, chuyện trong chuyện
ngoài, sao nghe quá nhiều nỗi niềm,
nhiều trăn trở, và đôi khi có cả bức
xúc. Các bác các chú so b́ với các
tôn giáo khác. Các đạo thờ Chúa, tín
đồ không bằng một phần ba Phật giáo,
vậy mà những nhà thờ của họ, cái nào
cũng gần cả chục tỉ bạc, đất đai gần
cả mẫu, lại nằm ch́nh ́nh gần quốc
lộ. Những Niệm Phật đường th́ thọt
lơm vào trong, cái nào chả ra cái
nào, nhiều khi đi ngang cũng chỉ
tưởng nó là một ngôi nhà dân. Tín đồ
Phật giáo và tín đồ của những tôn
giáo khác, mặt bằng kinh tế đều như
nhau, nhưng sao họ xây dựng cơ sở
được như vậy c̣n ḿnh th́ không?!
Tôi ngồi nghe mà không biết nói ǵ.
Nhiều lần đi qua những nơi, phần lớn
là thành thị, thấy những ngôi chùa
to lớn, đôi khi có cả sang trọng và
tiện nghi, chẳng hề có ao ước ǵ,
bởi không háo hức lắm với chuyện
“Chùa to Phật lớn”. Các Phật tử ở
quê họ không mong muốn chùa to Phật
lớn, bởi họ biết có to có lớn cũng
chẳng có người coi ngó, không khéo
lại trở thành vật chưng bày và chỉ
để cho bụi bám, nhưng họ cần một
ngôi niệm Phật đường tương đối để
đáp ứng những nhu cầu cần thiết của
họ. Nhưng biết làm sao khi cơ chế
của Phật giáo không giống những tôn
giáo khác. Khi việc phát triển Phật
giáo (nếu có) hầu hết đều mang tính
cá nhân và tự phát, mạnh ai nấy làm.
V́ vậy tốt hơn không nên so b́ chùa
nơi này với chùa nơi kia, bởi ngôi
chùa nào cũng có cái “nghiệp” của
riêng nó. Chùa phố phải khác chùa
quê, chùa trung ương phải khác chùa
địa phương, chùa của lănh đạo phải
khác chùa của thường dân; và như vậy
phận chùa luôn gắn với phận người,
và chức năng của mỗi ngôi chùa cũng
khác đi! Nhưng ở đây không phải là
vấn đề lớn hay nhỏ, mà là chuyện
thiếu quan tâm hạ tầng cơ sở từ phía
trung ương, chuyện phân phối không
hợp lư các nguồn cho những nhóm nhỏ
trong một cộng đồng lớn, và c̣n là
sự phát triển bất cân xứng và rơ
ràng không lấy ǵ làm bền vững của
một tổ chức.
Các tôn giáo khác ở vùng này họ lấy
nguồn đâu để xây dựng cơ sở, và lấy
nguồn đâu để thực hiện công tác
truyện đạo của họ mà luôn được kết
hợp với công tác từ thiện, một cách
thức truyền bá rất hiệu quả của họ,
mà với khoảng thời gian 20 mươi năm,
các người truyền đạo đă “Tin Lành
hoá” hầu hết các bản trong vùng, và
một số gia đ́nh người kinh nghèo
cũng đă bắt đầu đi theo? Nghe nói,
“người ta” cũng có lo ngại về việc
đó, nên xa gần nhỏ to bảo các bác
trong Khuôn hội “quan tâm” giúp các
bản quanh vùng. “Quan tâm” th́ dễ
thôi, các bác bảo, nhưng lấy ǵ để
đi quan tâm, thời gian đâu để quan
tâm và quan tâm như thế nào mới là
chuyện khó. Có thể nhịn đói mà đem
tam quy ngũ giới, đem luân hồi
nghiệp báo vô thường vô ngă mà đi
nói với người Thượng được chăng?!
Không có ăn có mặc th́ sức đâu mà
nghe thuyết giảng đạo lư!
Trong lịch sử, ở Việt Nam cũng như ở
Hàn Quốc, và có thể một vài nước
khác nữa, mỗi khi Phật giáo bi đẩy
lùi bởi một hệ tư tưởng khác, bị
thất sủng ở “thượng tầng”, th́ nó
thường rút về miền quê để lánh nạn;
và có những lúc Phật giáo bị ruồng
bỏ cả hàng trăm năm, nhưng vẫn không
ai có thể huỷ diệt được nó. Nó tiềm
tàng vào trong đời sống dân chúng,
mà chủ yếu là đời sống dân quê, và
khi có điều kiện th́ xuất hiện và
phát triển trở lại. Hàn Quốc từ thế
kỷ 14 đến đầu thế kỷ 20, khi tư
tưởng Nho giáo nắm quyền thống trị,
Phật giáo bị đẩy lùi, tăng sĩ không
được phép vào kinh đô, lễ hội không
được tổ chức, chùa chiền bị đập bỏ
hoặc bị đống cửa, vậy mà không ai
diệt được Phật giáo. Đầu thế kỷ 20
khi hoàn cảnh thay đổi, nó đă phát
triển trở lại. Ấy vậy nhưng giữa thế
kỷ 20, chẳng có ai đàn áp cả mà
người ta lại bỏ Phật giáo. Như vậy
xuất h́nh lộ diện ở thành thị chưa
được bao lâu Phật giáo lại phải rút
về miền quê, và cũng may nhờ có miền
quê mà hiện nay Hàn Quốc c̣n có vài
chục phần trăm dân số là Phật tử.
Nhưng mà nếu không tính trước th́
làng quê không sớm cũng muộn, sẽ
không c̣n là “địa bàn” hoạt động của
Phật giáo nữa. Và không chừng sau
này khi bị đẩy lùi, lại không biết
lùi về đâu…
Ngày chủ nhật, tôi rũ đứa em vào các
bản quanh vùng chơi, xem các bản bây
giờ có ǵ mới, có ǵ thay đổi. Cái
nghèo không thay đổi, tối tăm vẫn
tối tăm, nhưng niềm tin th́ thay đổi.
Giàng của họ đă được biến thành Chúa
trời. Buổi sáng tiếng cầu kinh từ
nhà vị trưởng làng phát ra râm ran.
Họ đă biết dùng lịch Tây, và biết
nghỉ lên rẫy lên nương sáng chủ nhật.
Đứa em thấy tôi đi khắp bản, hỏi
rằng tôi có dự định ǵ mà quan sát
kỷ dữ vậy. Dự định ǵ nhỉ? Mọi việc
người ta đă làm xong hết rồi! Đầy đủ
ban ngành, với đủ nhân sự lừng lẫy
chức vị vẫn không làm được ǵ, một
kẻ vô tài như tôi th́ làm được ǵ
ngoài mấy ḍng cảm nhận có phần ta
than này? Biết làm sao! Các làng quê
(lẫn làng bản) bây giờ đâu phải chỉ
dành riêng cho một tôn giáo nào. Tôn
giáo nào hành hoạt tốt th́ thành
công trong công việc của họ ở đó. Ai
không nhanh nhẹn th́ tất phải đến
trể, không trí tuệ th́ bị thua cuộc.
Tất yếu phải vậy. Mà đâu riêng ǵ
vùng đất này, nhiều những vùng nông
thôn hiện nay, nơi mà Phật giáo đă
có mặt từ lâu, th́ Phật giáo dù có
hành hoạt th́ vẫn trong t́nh trạng
“cầm chừng”. C̣n những nơi chưa có
bóng dáng Phật giáo, th́ hầu như chỉ
giao khoán cho những tôn giáo khác.
Các nhóm (không dám dùng từ tổ chức)
Phật giáo hiện nay chỉ lo Phát triển
ở thành thị (thực ra không phát
triển được ǵ), chỉ lo những “đại sự”,
mà thiếu đi sự quan tâm về các vùng
quê…
Tôi trở về chùa PHTH, tiện thể ghé
sang một ngôi chùa bên kia sông TH.
Chùa vừa mới được xây xong, đẹp đẽ
và khang trang. Thượng toạ Trụ tŕ
sau khi hỏi thăm, khuyên bảo rằng
các thấy các chú trẻ cần phải nên
phát bồ đề tâm, cần phải dơng mănh
tinh tấn và phải mang hoài bảo hoằng
pháp trong tâm. Tôi cảm thấy hỗ thẹn,
bởi thấy ḿnh kém cơi và không có
được một phẩm tính nào trong những
điều mà Thượng toạ khuyên. Quư thầy
ḿnh thường (hoặc thích) nói đến hai
từ hoằng pháp, và việc ǵ cũng gắn
với hai chữ hoằng pháp được, bởi nó
nghe trang trọng, thiêng liêng và
hay. Nhiều lớp học được mở ra để đào
tạo nên những người làm công tác
“hoằng pháp”, nhiều phái đoàn được
cử đi để thực thi sứ vụ hoằng pháp,
nhiều cuộc hội thảo được tổ chức để
bàn về việc hoằng pháp…, nhưng hiệu
quả tới đâu sau những lớp, khoá và
chuyến hoằng pháp ấy th́ ai cũng
biết rơ. TW đi hoằng pháp nếu có về
các tỉnh th́ điểm dừng chủ yếu là
các thành thị, Tỉnh có đi hoằng pháp
th́ cũng chỉ dừng lại ở Huyện, c̣n
dưới nữa, th́ bỏ mặc. Các chùa, Niệm
Phật đường, có thầy/cô trụ tŕ hay
không, được chỉ đạo và có nhận được
sự trợ giúp ở trên hay không, th́ tự
mà “hoằng pháp” lấy. Các cuộc đi
hoằng pháp, phần lớn giống như đi
hành hương, kéo cả đoàn vừa đời vừa
đạo đông đảo, băng rôn cờ dong trống
đánh rinh rang, chủ yếu khoách
trương h́nh ảnh (hoặc điều chỉnh
h́nh ảnh), về vùng sâu vùng xa để mà
làm ǵ!
Tôi gặp lại thầy bạn, thầy hỏi tôi
về quê có chi vui. Tôi nói có nhiều
niềm vui lắm: rằng quê tôi bây giờ
xă nào cũng đă có niệm Phật đường,
và dù hầu hết đều do cư sĩ tại gia
quản lư nhưng vẫn sinh hoạt đều đặn;
rằng chùa ở thị trấn cũng đă có một
đạo tràng Niệm Phật mỗi nữa tháng,
một lần được hơn trăm người, do một
thầy và một sư cô ở TTH phát tâm ra
hướng dẫn, dù đạo tràng hầu hết đều
người lớn tuổi, đều là những Phật tử
thuần thành, những người mà dù có bị
đánh cũng không bỏ đạo! Niềm vui chỉ
có chừng ấy, không ǵ nhiều, nhưng
được hỏi cũng liều phạm giới thứ tư
mà bảo rằng rất nhiều niềm vui, cũng
bắt chước người ta mà tán nhăng tán
cuội để cho vừa ḷng kẻ trên người
dưới. Bởi kể ra những điều như trên,
không chừng lại bị rầy la là tại sao
không chịu làm mà cứ trách móc, chụp
thêm cho cái mủ này kia nữa th́ càng
khốn…
Về quê có chi vui? Có những câu hỏi
đôi khi được đưa ra hết sức b́nh
thường và vô tư, nhưng tự dưng khiến
người khác phải nghĩ ngợi!
(Nguồn:http://phapluanonline.com) |