|

Tôi
không hiểu tại sao làng tôi sau năm 1975 nhà nào cũng nuôi bò, nhưng những năm
50, 60 khi tôi còn nhỏ nhà nào cũng nuôi trâu.
Lúc ấy
nhà tôi có bốn con trâu mà Cộ là con trâu cầm bầy khôn ngoan, dũng cảm nhất nên
cả nhà ai cũng thương quý nó, nhất là cha tôi.
Khi
sang Mỹ định cư nhớ về làng cũ, nhớ về cha tôi đã già râu tóc bạc phơ suốt đời
vất vả trên đồng ruộng, tôi có làm một bài thơ về cha tôi lâu lâu giở ra đọc,
xin trích hai câu đầu:
"Cả đời chôn chặt với dòng sông
Yêu mến con trâu, quý ruộng đồng"
Cha
tôi làm nông, trước nhà gần cổng ra vào dưới tàng cây vú sữa rợp bóng mát có một
chuồng trâu khá rộng lợp bằng lá dừa về sau thay bằng tôn. Ngay tại đầu sân có
một giàn rơm hình vuông cao tới bụng, chính giữa trồng một cây trụ lõi cao thẳng
đứng, gọi là trụ rơm hay nọc rơm. Trên giàn, rơm rạ được vun thành đống xây tròn
chung quanh nọc rơm, trên đầu nọc rơm úp một cái gầu che mưa, là lương thực dự
trữ của trâu bò. Làng tôi, đại đa số là nhà nông, hầu như nhà nào cũng có chuồng
trâu và nọc rơm. Họ coi rơm rạ như là một vấn đề sinh tử quan trọng ưu tiên hàng
đầu của họ. Bước vào làng nổi bật những nọc rơm vươn cao dưới ánh mặt trời.
Tháng
Ba đồng lúa chín vàng, bầu trời xanh lơ, nắng đẹp, nông dân mang bồ ra đồng cắt
gốc đập bồ. Rạ thải ra được xếp ngay hàng thẳng lối trên ruộng, mỗi trưa chủ nhà
cho người đến trở rạ, phơi chừng hai ba nắng là khô. Chủ nhà huy động toàn nhân
lực trong nhà ra đồng cuốn rạ, bó lại thành từng bó, dùng chàng gánh về nhà. Kẻ
trên giàn, người dưới đất dùng cây có chảng hai đưa từng chàng rạ lên cao cho
người vun, phải vun cho xong ngay trong buổi chiều, không để lại ngày mai vì sợ
mưa rào bất thình lình.
Vụ
Tám là vụ mưa, ruộng ngập nước nên khi lúa chín được gặt bằng những cái vòng hái
đưa tới đưa lui thoăn thắt, nhịp nhàng bởi các bà và các cô thôn nữ lành nghề.
Lúa gié được bó lại thành từng bó chất lút chàng gánh về nhà là phần việc nặng
nề dành cho các ông và các chàng trai lực lưỡng. Lúa bó được chất thành từng
đống cao trên sân. Sáng hôm sau thức dậy, sân lúa đã thấy đầy người nói cười vui
vẻ, kẻ đạp lúa, người kĩu thóc... Khi thóc sạch được chia thành tám đống bằng
nhau, nhóm gặt chọn một, rồi chia đều ra cho các bạn gặt mỗi người nhận một phần
khoảng chừng nửa giạ. Thành quả của một ngày công quá ít ỏi, nhưng chịu khó đi
gặt mướn mãn mùa cũng được mười, mười lăm giạ thóc, bán lấy tiền may áo quần mới
cho con, và mua sắm một vài thứ:
"Thịt
mỡ, dưa hành, câu đối đỏ.
Nêu cao, tràng pháo, bánh chưng xanh"
- Trần Tế Xương
để vui
Xuân đón Tết cùng bà con chòm xóm.
Rơm thải
ra được chủ nhà rải đều trên sân phơi, khi khô sẽ được vun thành nọc rơm.
Gặp
năm mưa bão, rơm rạ bị ướt hết hay bị nước cuốn trôi là cả một nỗi lo âu "ăn
không ngon, ngủ không yên" của bà con nông dân vì năm tới sẽ không có lương thực
cho trâu bò. Tiền đâu để thuê mướn người cắt cỏ ròng rã suốt cả một mùa cày?
Cuối vụ nếu mùa màng bị sâu bọ phá hại, bị hạn hán hay lụt lội làm mất trắng,
thì nhà nông coi như phá sản, con cái phải nghỉ học ở nhà chận trâu hay đi ở đợ
ở mướn cho người. Những nỗi cơ cực của đời nông dân trong đó có con trâu không
có bút mực nào tả xiết. Xin hãy đọc vài câu ca dao, tục ngữ chuyên chở những nỗi
buồn mênh mang đã từng vang lên giữa đồng không mông quạnh:
- Lạy trời mưa xuống
Lấy nước tôi uống
Lấy ruộng tôi cày...
- Trông trời, trông đất, trông mây
Trông mưa, trông nắng, trông ngày trông đêm
Trông cho chân cứng, đá mềm
Trời im, bể lặng, mới yên tấm lòng
- Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta
Trâu cày vốn nghiệp nông gia
Ta đây, trâu đấy, ai mà quản công?
Mỗi
buổi chiều tà, khi lùa trâu về chuồng đóng cổng xong xuôi, thằng Lường đâu đã
hết nhiệm vụ? Nó phải rút rơm rạ vô chàng, gánh ra bỏ đầy máng ở đầu chuồng cho
trâu. Nửa đêm, cha tôi còn phải dậy bỏ rơm rạ cho trâu thêm một lần nữa. Khi sao
Mai mọc ở đằng đông chừng nửa cây sào, cũng là lúc tiếng chuông chùa Thiên Bửu
ngân lên từng tiếng boong boong... là cả nhà tôi thức dậy. Người nấu cơm nước,
kẻ học bài, kẻ lùa trâu, người vác cày ra ruộng, kẻ đi cấy. Cả người lẫn trâu
đều làm việc cật lực cho đến khi mặt trời đứng bóng mới trở về nhà. Ðúng là:
Trên đồng cạn, dưới đồng sâu
Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa
Công
việc của mục đồng vẫn chưa hết, sau khi bỏ rạ rơm cho trâu xong, phải cào phân
trâu khô cùng rạ rơm ẩm mục gom thành đống sẵn sàng đâu đó, để đến khi trời
chạng vạng tối bầy muỗi xuất hiện bay vo vo như ong vỡ tổ là châm lửa un khói để
đuổi muỗi cho trâu. Khắp xóm làng khi chiều xuống có đủ mọi thứ khói: khói bếp,
khói rơm rạ, khói un muỗi... đây đó, hòa lẫn, bay là là trên cành cây mái rạ đã
được các văn sĩ gọi là "khói lam chiều" nghe thanh bình, thơ mộng và nhàn tản
lắm. Công việc un muỗi tầm thường như vậy, nhưng lại là một công việc tối quan
trọng của nhà nông. Nếu thằng Lường vì lý do nào đó mà không làm thì tôi phải
tức tốc dẹp bỏ hết mọi chuyện học bài, làm bài, để nhảy vào thay nó. Nếu cả hai
đều không làm, thì đêm hôm đó dù đi làm về nhà có muộn cách mấy, cha tôi cũng
vào xách cây đèn bão ra treo tại đầu chuồng, lúi húi cào phân khô, rạ mục un
muỗi cho trâu đàng hoàng đâu đó xong xuôi rồi mới chịu vô nhà tắm rửa, ăn cơm,
nghỉ ngơi. Và sau mỗi lần như vậy, bọn tôi đều được ông nghiêm nghị gọi đến
để... nghe ông "ca" một bài ca con trâu:
- "Tao
nghe nói ở Cà Mau, người ta quý trọng con trâu còn hơn cả con người. Bởi vì con
trâu phải đi cày bừa nặng nhọc vất vả suốt ngày ở ngoài đồng để nuôi con người.
Nhờ nó mà con người có cái sống, cái ăn, cái mặc, cái học hành... Chính vì thế
mà ở trong đó ban đêm người ta giăng mùng cho trâu ngủ. Thiệt là nhân đạo hết
chỗ nói! Còn ở quê mình, nông dân nhà nào cũng nghèo xơ nghèo xác, mùng màn còn
không có cho người, lấy đâu cho trâu! Cho nên chiều xuống nhà nào nhà nấy cũng
đều phải lo un muỗi cho trâu. Nay chúng bay chỉ có mỗi công việc như thế mà cũng
không làm, thì tao chẳng biết chúng bay muốn gì? Hay là chúng bay muốn ăn roi
cày? Suốt đêm đàn muỗi sẽ tha hồ đốt, sẽ thi nhau hút máu, như thế thì mấy con
trâu làm sao ngủ được? Ngày mai chúng còn hơi sức đâu nữa để mà đi cày? Tại sao
chúng bay còn nhỏ tuổi mà lại không biết thương yêu con vật?"
Làng
tôi ba mặt là sông nên rất thuận tiện cho việc nuôi trâu. Con sông Lốt có nhiều
bến sông cát trắng, nước chảy trong vắt thật lý tưởng cho trâu nằm như bến Ông
Năm Xanh, bến Ông Gần gần nhà tôi. Có nhiều ruộng rộc nằm dọc theo con sông Ðục
thích hợp cho trâu cày bừa hơn bò, như rọc Bà Xã Ba, rọc Quẹo, rọc Biền Cát, rọc
Ông Bảy Chuyển, rọc Ông Năm Son, rọc Bà Xã Năm... Sau vụ Tám, hầu hết những
ruộng rọc đều ngập nước lênh láng, mọc nhiều cỏ lùng, cỏ lác, lúa chét, lúa
rài... hấp dẫn bầy trâu lội nước để ăn.
Tôi
chăn trâu từ lúc còn nhỏ ở bậc tiểu học, đến khi lên đệ Thất, đệ Lục, đệ Ngũ ở
trường Trần Bình Trọng, vẫn còn phải tiếp tục chăn trâu vào các ngày cuối tuần,
những ngày nghỉ lễ, nghỉ hè để thay cho thằng Lường về nhà thăm má thăm em nó.
"Con
trâu là đầu cơ nghiệp" của nhà nông. Suốt bao năm làm việc cực nhọc "trên đồng
cạn, dưới đồng sâu" cha má tôi đã dành dụm chút "vốn liếng" để mua về một con
trâu nghé cái đặt tên là Én.Lớn lên nó sinh được ba con con. Gần ba năm nó mới
sanh một lần, sanh như thế gọi là sanh thưa, ít ai muốn nuôi vì không có lợi,
nhưng cha tôi vẫn cứ nuôi. Cả ba con trâu con đều rất to con tốt tướng: con đực,
ông đặt tên là Cộ, hai con cái tên là: Bầy, Lũ. Con Cộ rất mau lớn, khi mới được
bốn tuổi thì nó trổ mã trông đã oai vệ rồi: cổ rô, ức to, lưng phẳng, da đen
bóng, hán rộng, hai đùi sau to bành ky, hai con mắt đen lay láy nằm dưới cặp
sừng cong đen như mun nhọn hoắt. Giữa hai cái sừng có một cái xoáy màu đen sậm
là những sợi lông đen óng ánh mọc cuốn tròn theo hình trôn ốc trông rất đẹp.
Nghe nói chính cái xoáy trâu này mà trâu con nào cũng gan bẫm, lầm lì, dữ tợn,
cọc cằn. Do đó khi thấy người nào có đóng một vài cái xoáy trâu trước trán thì
người ta nói những người đó cọc tánh. Cha tôi cưng con Cộ như con. Ông thường
vuốt ve, chăm sóc, tắm rửa nó mỗi ngày nên trông nó sạch sẽ càng thêm dễ thương,
dễ mến. Ông thường khoe:
- "Con
Cộ này cày rất chiến, lại nhẹ roi".
Tôi
thấy trên ruộng, ông cày dễ dàng, khỏe khắn, không vất vả cứ phải la hét om sòm
như nhiều ông cày khác. Lâu lâu mới nghe cha tôi cất lên hai tiếng ngắn ngủn như
Cộ tới (đi tới), Cộ dí (quẹo phải), Cộ thá (quẹo trái), Cộ dò (đứng lại) chỉ nhỏ
nhẹ thôi nhưng con Cộ đều thi hành răm rắp đúng theo ý ông. Ðứng trông con Cộ
kéo cày mà thương cho nó. Một mình nó thủ bên dí là bên nặng (hai con Én, Bầy
thay phiên nhau đi bên thá) nhưng nghiệt thay mỗi lần cày nó đều bị sang nài
suốt cả vụ như vậy. Cái sợi dây nài không đặt ở chính giữa của cái quải mà lại
đặt lấn sang phía bên nó, cho nên bao nhiêu sức nặng của đường cày phần lớn đều
đè trên vai nó, nó phải gánh thay cho con trâu cái đi bên cạnh, nhưng không bao
giờ thấy nó có thái độ vùng vằng bất mãn, phân lê phân bì, sợ khó sợ khổ hay
"mánh" gì hết. Nó luôn luôn trong tư thế sẵn sàng, luôn luôn tỏ ra mình là kẻ
cả, lúc nào cũng hùng dũng, mạnh mẽ lướt tới trước. Cày suốt một buổi ruộng sình
lún gần tới đầu gối, bốn chân lê lết bước hết muốn nổi, nhưng hễ mở cày ra thì
cái đầu nó cứ nghinh nghinh lên trời, cái chân nó cứ rượt rượt tới trước, bước
xăm xăm đi theo cái từ đồng này sang đồng khác. Tìm được nó để dẫn về là cả một
vấn đề trầy vi tróc vảy của hai cha con tôi: mệt phờ người. Vậy mà cha tôi chẳng
bao giờ đánh nó, ông chỉ giá giá cái roi cày trước đầu nó rồi mắng yêu:
- "Cày
thì thở, mở thì theo cái, chết đó nghe con!"
Hình
như hiểu được lời ông nói nên cái đuôi của nó cứ ngo ngoe phe phẩy như muốn tỏ
ra rằng nó đã biết lỗi. Tôi không hiểu tại sao suốt ngày trững mỡ "đi theo người
yêu" hết con này đến con khác chẳng thiết gì đến việc ăn uống như thế mà nó vẫn
cứ mập mạp khỏe mạnh như thường?
Khi
nó được sáu bảy tuổi thì trong làng không có một con trâu nào xịt lại nó. Con
trâu Chảng của Bà Xã Ba cầm bầy các năm qua có đôi sừng cong dài cả thước, mục
đồng đôi khi không cỡi trên lưng mà ngồi trên đầu nó, hai chân gác lên hai cái
sừng dài ca mấy câu vọng cổ khi nó cà rịch cà tang đi trên con đường làng, nhưng
nay già rồi đành phải chịu thua con Cộ của cha tôi sau hai trận đụng nhau bán
sống bán chết.
Bến
Ông Gần, nước chảy trong leo lẻo, rộng rãi là chỗ nằm nghỉ ngơi quen thuộc của
đàn trâu xóm tôi, cứ đến 11 giờ trưa hay 5 giờ chiều là chúng tự động kéo xuống
nằm. Ðàn trâu nằm yên trong nước trông giống như những tảng đá đen sì lúc ngúc,
thỉnh thoảng đầu cút xuống nước một chập thật lâu rồi từ từ ló cái mõm lên thở
phì phò văng nước ra trông khoái chí lắm, như thể chúng muốn khoe với nhau về
làn hơi dài vô địch của mình. Cả đàn đang nằm im như vậy nhưng khi con trâu Cộ
của cha tôi xuống bến, dừng lại tại mé nước, rướn cao cổ lên ù một hồi dài thì
cả đàn trâu đều đồng loạt đứng dậy nhướng mắt nhìn về phía con Cộ, đầu gật lên
gật xuống như thể chúng đang làm động tác "chào kính" vị chúa tể xếp sòng của
mình. Và sau khi con Cộ khịt khịt mấy tiếng ra hiệu "an tọa" gì đó thì cả đàn
đồng loạt nằm xuống. Những lúc ấy, tôi thấy con Cộ thực sự có quyền uy tột đỉnh
đối với bầy trâu chẳng khác gì các bậc vua chúa thời phong kiến xa xưa của xã
hội loài người vậy.
Cũng
nhờ bến sông này mà tôi biết nhiều kiểu bơi như: bơi ngửa, bơi chó, bơi sãi. Nhớ
có lần đi học về ngang qua bến Chùa Kỳ gặp nước lớn, một tay cầm sách vở, một
tay bơi nhưng tôi vẫn qua được bên kia sông an toàn. Sau này vào Nha Trang học,
tôi lại thêm một phen mê biển. Mỗi lần tắm, tôi thường nằm ngửa trên biển nửa
tiếng đồng hồ mới bơi vào bờ.
Mỗi
buổi trưa tại bến Ông Gần, sau khi thấy đàn trâu nằm yên đâu đó rồi, chúng tôi
bèn cỡi hết áo quần ra giặt phơi trên bãi cát, xong nhảy ùm xuống sông bơi ra
chỗ "bụi tre lở" là nơi nước sâu ngập lút đầu có hai dòng nước xoáy lòng chảo ở
hai bên và một dòng nước vận xà bang ùng ục ở giữa thật nguy hiểm có thể nhận
chết người như chơi. Bao nhiêu câu chuyện kể về ma Da nắm chân người tắm lôi vào
lổ tre chết đuối ba ngày nổi lên đều xuất phát từ bụi tre lở này. Nhưng mục đồng
chẳng sợ, trưa nào cũng vậy, chính tại bụi tre lở này là điểm tập trung để thi
bơi. Khi nghe đếm một hai ba là chúng tôi cả chục đứa, có cả con gái nữa, thi
nhau bơi sãi xuống tận bến nhà ông Tám Trạc ở phía dưới xa tới 200 mét, đứa nào
ôm được gốc sao tại đó trước nhất sẽ thắng. Ba đứa thắng nhất nhì ba sẽ được
chúng tôi thay phiên làm trâu để cỡi đi vòng vòng trên bãi cát. Tuy nhiên, thú
vị nhất vẫn là đi mò tôm và cá trầu tại khúc sông sau lưng nhà ông Hai Nhì là
vùng nước đứng và sâu tới nửa cây sào. Dọc theo hai bờ sông tua tủa những gốc
tre, có những gốc tre khô chặt ngắn lởm chởm chìm dưới nước lâu đời là nơi cư
ngụ của loài tôm càng. Con nào con nấy to bằng cổ tay có hai càng dài nằm ẩn
trong các ống tre cứ việc thò tay nắm đầu kéo lên. Còn cá trầu thì nằm im trong
các hang hốc ven bờ cỏ dùng hai lòng bàn tay úm thật nhẹ và dùng mười ngón tay
lừa thế tóm gọn. Tôm cá bắt được, có khi có cả mấy chục con, được mang hết lên
bến đốt lửa dùng ghim tre xỏ dọc nướng trui, nhất là tôm con nào con nấy trông
vàng rực thơm phức, chấm với muối ớt nặn chanh ăn mê thôi. Chúng tôi thường có
những bữa tiệc mục đồng đơn giản mộc mạc đầy tiếng cười hồn nhiên vô tư như vậy.
Lúc bấy giờ mặt trời không còn đứng trên đỉnh đầu mà đã đi lệch qua cây gáo trên
bến đến một gang tay mà đàn trâu vẫn còn mê dòng nước mát cứ nằm im chưa muốn
dậy. Trước niềm vui ấy nếu có ai đến hỏi chăn trâu sướng hay khổ thì chúng tôi
sẽ trả lời rằng:
- " Ai
bảo chăn trâu là khổ? Không, chăn trâu sướng lắm chứ, ngồi mình trâu…"
Con Cộ
yêu đồng ruộng, bến sông, đường làng giống như người, đi đâu nó cũng nhớ đường
trở về nhà. Về mặt này tuy là cùng chung một họ nhưng bò lại thua xa trâu, nên
người ta mới chê là "ngu như bò" và khen con trâu, con chó:
- "Lạc
đường nắm đuôi chó, lạc ngõ nắm đuôi trâu"
Khi vụ
Tám cày cấy xong xuôi, Cha tôi và tôi lại lùa mấy con trâu lên Tân Trúc gần Dục
Mỹ để gởi cho một người quen chận trâu lãnh tại đó, đến sau Tết mới lên lùa về
để chuẩn bị cho mùa trồng thuốc lá, gieo đậu xanh, hay mè... Tân Trúc là vùng
cao, cách một dãy núi Ðèo Cạnh, xa trên 10 cây số, vậy mà sáng hôm sau tôi lại
thấy con Cộ có mặt tại chuồng, chắc nó đã băng rừng lội suối đi suốt cả một đêm
không ngủ. Ba tôi gãi gãi hai cái tai nó và nói bằng một giọng trìu mến:
- "Con
đừng về nhà kiểu này nữa chỉ khổ cho chủ mà thôi. Vì sáng mai chủ lại phải mất
công dẫn con đi lên trên đó. Ở trên đó cao ráo, tháng Chín tháng Mười không bị
ngập lụt, lại có cỏ non cho con ăn, con biết không? Con cứ ở lại trên đó rồi sau
Tết chủ sẽ lên lùa con về."
Hình
như nó hiểu lời cha tôi nên các năm về sau nó không còn bỏ về nhà theo cái kiểu
"ba gai" ấy nữa.
Cha
tôi lúc nào cũng thương nó nhất là vào mùa cày, bất kể vụ Ba hay vụ Tám ông đều
bắt tôi dắt riêng một mình nó đi lẻ ăn trong các vườn tược, trên những bờ sông
bờ ruộng hay gò đống sau khi mở cày ra. Còn ông sau khi mở cày ra ăn vội ba hột
cơm trưa xong là mang đôi giỏ trạc mạ chạy te te lên vùng Vạn Thiện, Phú Sơn xa
hàng năm, bảy cây số để cắt cỏ... để rồi mỗi chiều về trên vai ông lúc nào cũng
có một gánh cỏ mật cỏ bắp nặng trĩu là món cao lương mỹ vị đặc biệt dành riêng
cho đôi trâu cày.
Một
ngày kia Ba tôi vô cùng đau buồn. Một trận đụng độ kinh hồn bạt vía giữa con
trâu Xe của ông Tám cuối làng và con trâu Cộ của cha tôi. Con Xe còn trẻ, to
con, mập mạp mới mua từ đồng Tân Lâm, Tân Tứ đem về nổi tiếng cày hay, bán lộn
giỏi. Hai con vật đụng nhau suốt một tiếng đồng hồ. Con Xe có lợi thế hơn ở cặp
sừng. Cặp sừng của nó là loại "sừng cúm" trời cho, không quá dài mà cũng không
quá ngắn, thật vừa vặn để khi nó lảy qua lảy lại thì hai cái mủi sừng của nó cứ
khoét chính xác như để vào ngay hai con mắt của đối phương, nếu không móc được
mắt thì cũng móc hầu, móc tai, móc hàm thật hết sức nguy hiểm! Vì thế mà con Cộ
nhà tôi bị thương nhiều chỗ máu chảy ra ướt mặt, chịu không nổi, đành phải quay
lưng bỏ chạy. Nhưng con Xe thuộc loại vua gan bẫm không chịu dừng lại mà cứ hối,
cứ rượt nà theo sau, lúc thì chém vào mông, khi thì lảy vào hai chân sau. Từ
cuối làng Ðiềm Tịnh hối lên tận các làng Phú Lễ, Bình Thái, Phú Văn. Người ta
thấy tội cho con Cộ quá nên chạy ra dùng gậy gộc la hét thị uy và cản đường, nó
mới chịu thôi. Cha tôi phải bỏ cả việc gánh mạ rải ruộng cấy chạy lên Gò Dinh
tại làng Phú Văn để dẫn con Cộ về thì trời đã tối xẩm. Ba tôi khóc ròng vì thấy
trên đầu nó bị thương nhiều chỗ còn rỉ máu tươi, mông cũng bị chém mấy đường sâu
rướm máu. Ðem Cộ về nhà, cả nhà xúm lại soi đèn xem vết thương của nó ai cũng
khóc mếu máo. Má tôi đi nấu nước muối, tôi và chị tôi bưng đèn chạy ra các hàng
rào kiếm hái lá dũ dẽ non. Cha tôi lấy nước muối rửa vết thương, lấy lá dủ dẻ
giã nhuyễn rịt vết thương cho nó. Tôi thấy hai con mắt nó long lanh ươn ướt như
cảm động trước hành động nhân từ của người chủ đã tận tình chăm sóc, thương yêu
và chia xẻ nỗi đau buồn thất trận của nó. Từ đó cả hai gia đình đều cố gắng cách
ly chúng. Suốt nửa tháng nó được nghỉ việc. Ngày nào cha tôi cũng đi cắt cỏ tươi
gánh về cho nó ăn. Má tôi thì lấy cám gạo lức trộn với chuối cây giã nhỏ đem ra
cho nó tẩm bổ. Còn tôi thì dẫn nó lẻ ăn trên các bờ ruộng mọc đầy cỏ non, chiều
về tắm rửa kỳ cọ cho nó. Hơn một tháng, vết thương lành lặn, sức khỏe sung mãn
trở lại, trông nó hùng dũng phong độ như xưa. Ngày nào nó cũng chém rầm rầm vào
gốc me gốc gạo. Nếu không báng vào các bờ ruộng cao thì cũng san bằng mấy cục gò
mối, húc bụi đất tung bay mù mịt. Hình như nó đang âm thầm toan tính chuyện "võ
công khổ luyện" để chờ ngày tái đấu?
Buổi
trưa hôm ấy trời trong vắt không một gợn mây, bầy trâu nhà tôi đang ăn cỏ tại Gò
Dền gần Ðập Ðiềm Tịnh. Trong một phút lơ là của mục đồng, con Cộ một mình đi xăm
xăm băng qua Ðất Lớn, ruộng Mả Khách, Gò Lẫm, ruộng Ðồng Ba - Ðất Sét, Gò Găng,
ruộng Hạn Ngũ, nhảy qua mương cái, băng qua viên gia bà Hai Lô - ông Ba Khuôn,
vượt qua hương lộ, băng qua viên gia ông BaYếu, ruộng Ông Xã Nhì, rồi leo lên gò
Ông Trịnh ngổn ngang mồ mả. Khi phát hiện con Xe đang gặm cỏ ở phía cuối gò giáp
ruộng Bờ Thềm, con Cộ lặng lẽ chẳng nói chẳng rằng, cũng không thèm nghinh
chiến, từ khoảng 50 thước xa, trong thế chủ động bất ngờ, nó cúi gầm cái đầu
xuống, gồng cái cổ rô bành ky lên, chạy một mạch như cuồng phong lao thẳng vào
chỗ con xe đang đứng, đánh một cái "rầm" dữ dội khủng khiếp vào đầu con Xe. Thừa
cơ hội con Xe trong một giây thất thần, chới với, nó dùng đôi sừng dài tấn công
tới tắp chém vào đầu vào hàm con Xe, đẩy con Xe lùi ra sau mấy bước. Hình như nó
rút kinh nghiệm lần trước nếu để con Xe lấy lại được thế cân bằng trận đấu, hai
bên mặt đối mặt đánh trực diện với nhau thì sớm muộn gì nó cũng bị thua đau
trước cặp sừng cúm là vũ khí lợi hại của con Xe. Cho nên với thế thượng phong
thần tốc, nó chớp lấy thời cơ và cơ hội bằng vàng đã "xốc cáng" được con Xe, vô
hiệu hóa hoàn toàn cặp sừng cúm thần sầu quỷ khóc ấy. Và bằng tất cả lòng thù
hận nung nấu trong lòng từ bấy lâu nay, vận dụng hết toàn lực nó đẩy tới, vừa
đẩy vừa chém túi bụi. Con Xe bị lâm thế độc, đầu nghiêng hẳn về một bên trong tư
thế cố hết sức vùng vẫy để gỡ ra nhưng không cách nào gỡ ra được. Thất thế, nó
cứ lui dần, lui dần để tìm cơ hội. Nhưng hễ con Xe lui một bước thì con Cộ lại
nhấn tới một bước, cố bám sát nút nhất định không chừa một khoảng hở nào. Khi
lùi đến cuối gò, hai chân sau của con Xe không còn điểm tựa nên bị hỏng chân,
toàn thân của nó mất thăng bằng ngã nhào xuống đám ruộng sình nằm ngửa chinh
hinh thì con Cộ nhào theo sử dụng cặp sừng dài như đôi song kiếm tha hồ chém vào
đầu, vào bụng, vào chân con Xe.
Cũng
may khi trận đấu vừa diễn ra đã có nhiều người ở lối xóm, những người đi chợ về,
kể cả các bà, các cô thôn nữ cấy gần đó cũng chạy đến, cùng trẻ mục đồng đứng
xem đông như ngày hội và khi thấy tình thế nguy kịch cho tính mạng của con Xe,
người ta mới ùa đến để can ra, kẻ dùng roi cày, gậy gộc, đòn gánh, người lấy rơm
rạ bó lại thành cây đuốc, con Cộ vừa bị đánh vào lưng vào đầu vừa bị đốt vào
đít hoảng quá bỏ chạy để lại con Xe nằm thở dốc trên bãi chiến trường đầy bùn
sình trộn lẫn máu tươi.
Chiều
hôm ấy cha tôi trở về nhà, má tôi lo lắng hỏi:
- "Sao,
nghe đám trẻ nói con trâu Xe của Chú Tám bị thương nặng lắm phải không? Ông
không xuống thăm chú xem sao? " Cha tôi trả lời vui vẻ:
- "Từ
chiều tới giờ tôi ở dưới nhà chú để giúp chú săn sóc cho con Xe, nó bị thương
nặng nhưng không đến nỗi nào. Tình trạng của nó cũng tương tự như con Cộ mình
bữa trước, chắc phải mất cả tuần mới đi cày được.
- Đang
thời vụ mà nghỉ cả tuần thì mạ già hết?
- Chú nó
cũng than như vậy, nhưng tôi có hứa với chú là sẽ sẵn sàng cày giúp cho chú nếu
ruộng chú bị bê." Má tôi đăm chiêu:
- "Ông
thấy chưa? Nuôi trâu đực đã không sinh lợi mà còn cứ phải hồi hộp, lo lắng và
khổ dài dài như vậy… Sao ông không thử tính lại xem cái nào có lợi thì làm?
-Ý má
mày nói sao? Có phải ý má mày muốn bán con trâu Cộ đi có phải không? Không!
Không được! Không dễ gì có một con trâu đưc khôn và cày tốt như vậy đâu. Chủ và
Vú đã từng nuôi một bầy trâu có cả chục con đực mà đâu có con đực nào khôn và
cày hay như con Cộ của mình. Con trâu mà hay thì người cày cũng đỡ mệt. Má mày
an tâm, bắt đầu từ ngày mai tôi sẽ treo một cái trống có gắn lục lạc ngay cổ của
nó y như hai con trâu của chú Bốn Hích và chú Hai Máy vậy, thì nó sẽ chịu phép
không còn cách gì đi theo cái và đi bán lộn nữa."
Một
năm sau tôi khăn gói vào Nha Trang để học. Kể từ đó tôi xa nhà, xa dòng sông,
bến nước, xa cánh đồng, xa những bờ ruộng mọc đầy cỏ non mà tôi và con Cộ đã
từng có một quảng thời gian dài khắng khít như một đôi bạn. Rồi sau đó tôi lại
bước vào đời quân ngũ miệt mài trên khắp các nẻo đường thập tử nhất sinh, tôi đã
không có một dịp nào để trở về thăm lại con trâu Cộ của cha tôi nữa.
Nhưng
tôi vẫn còn nhớ như in cái buổi chiều thắng trận của nó. Hôm ấy dù không được
mục kích tận mắt trận đấu vẻ vang oanh liệt của nó, nhưng tôi đã được đám bạn
mục đồng kể lại thật đầy đủ chi tiết. Tôi vô cùng nể phục nó. Dù không phải là
con người nhưng nó cũng đã có một ý chí bất khuất quật cường và đầy mưu trí dũng
cảm. Tôi chạy xuống gò Ông Trịnh mà lòng tràn ngập niềm hân hoan vô bờ bến. Tôi
đã la hét lên như một người điên để mừng nó thắng trận. Tôi thấy nó đang đứng
trên một gò đất cao vươn vai, đầu ngẩng lên, lưng thẳng, mặt mày rạng rỡ, hai
con mắt sáng trưng đen lay láy, trông nó thật là hiên ngang oai hùng! Nhìn đầu
cổ mình mẩy nó còn ướt đẫm mồ hôi và lấm lem những bùn đất, tôi biết là nó mới
vừa trải qua một cuộc hỗn chiến cam go. Tôi dang rộng hai tay ôm nó vào lòng.
Tôi vòng cánh tay qua cái cổ rô to bự sư của nó nhưng vẫn không ôm hết, Tôi mân
mê, rờ rẫm, và hôn hít nó. Nó vẫn đứng yên không một chút nhúc nhích cử động.
Đối với tôi nó vẫn tỏ ra hiền lành, trầm tĩnh như vậy. Tôi biết rằng không chỉ
một mình nó đang vui mà cả tôi, cả nhà tôi, nhất là cha tôi cũng đang vui mừng
hớn hở. Cha tôi đã cho nó nghỉ cày ba ngày để dưỡng sức, và mỗi ngày ông đều đi
cắt cho nó một gánh cỏ, coi như đó là phần thưởng danh dự mà nó phải được nhận
lãnh. Trong ba ngày, tôi như người phục dịch túc trực bên nó, tắm rửa nó, đập
muỗi mòng cho nó, dẫn nó đi lẻ ăn ngoài đồng ruộng, bờ sông. Mặt trời đã ngã
bóng, nắng chiều đã nhuộm tím trên dãy vúi Vọng Phu xa, nhưng tôi vẫn còn nấn ná
chưa muốn dẫn nó về. Bên kia sông những lô ruộng mới cấy, mạ non chưa bén rễ vẫn
còn một màu vàng hoe. Một đàn cò trắng bay lượn qua lượn lại trên bầu trời xanh
rồi cùng một lúc sà xuống đậu trắng cả ngọn cây gáo trơ vơ đứng giữa cánh đồng.
Con Cộ ngước cao cổ nhìn theo màu ráng chiều đỏ sẫm tận trời tây rồi ù lên một
hồi dài như tiếng gọi đàn, như muốn nhắc nhở đàn trâu còn đang say sưa gặm cỏ
trên Đất Lớn, Gò Lẫm, Gò Găng hãy mau mau cất bước trở về chuồng.
Đó
là những hình ảnh sau cùng đầy huy hoàng và ấn tượng của con trâu Cộ cầm bầy của
cha tôi, còn lưu trong ký ức của tôi ngày nào.
Vinh
Hồ
2/7/09 |