Cháu Nội
Văn Hào Nga Tolstoi Mở Đường Cho Mỹ Vào Tây Tạng
 |
| Phái
đoàn Mỹ qua Tây Tạng 1942-1943 - Tolstoy và
Dolan |
Một thất bại khác của Hoa Kỳ tại
Á Châu mà ít người biết, chính là Tây Tạng.
Chính quyền của Tổng thống
Franklin D. Roosevelt không chỉ bị ngạc nhiên tại
Á châu với vụ Nhật tấn công Trân Châu Cảng ngày
bảy tháng 11 năm 1941. Ông c̣n bị ngạc nhiên về
Tây Tạng.
Lúc đó, với Hoa Kỳ, Á châu vẫn
c̣n là một lục địa xa lạ.
Hoa Kỳ mới là một cường quốc
toàn cầu từ sau Thế chiến I và chỉ t́m hiểu nhiều
hơn về Á châu từ Thế chiến II, từ vụ Trân Châu
Cảng Pearl Harbor. Khi Nhật Bản trở thành mối đe
dọa cho toàn khu vực Đông Á, người Mỹ lật đật đi
học về địa dư Á châu và các nhà chiến lược quân sự
mới đi vẽ địa đồ. Chuyện ấy trở thành cấp bách khi
quân Nhật vào tới Miến Điện và cắt đường liên lạc
từ Nam Á vào Hoa Lục.
 |
| Dolan
tại Lhasa cùng hai nhà quư tộc Tây Tạng năm
1942. |
Nếu muốn chặn đà bành trướng của
Phát xít Nhật, có khi Hoa Kỳ phải yểm trợ cho
Trung Quốc và một con đường tiếp vận khác có thể
là từ Ấn Độ vào Hoa Lục. V́ chuyện Hoa-Ấn, người
Mỹ mới quan tâm đến một quốc gia trung lập nằm
giữa hai nước là Tây Tạng. Với các nhà chiến lược
gia Hoa Kỳ, bản đồ Tây Tạng lúc ấy là một khoảng
trống bát ngát, trắng toát. Chẳng phải v́ tuyết
phủ mà v́ họ không biết ghi những chi tiết ǵ lên
trên.
Những ngươi làm chánh sách của
Hoa Kỳ khi ấy mới đọc sách của các học giả để biết
lờ mờ rằng quốc gia huyền bí đó theo đạo Phật,
được cai trị bởi một thằng bé lên sáu mà dân chúng
gọi là Phật vương hay Phật sống ǵ đó. Với các nhà
chiến lược gia Hoa Kỳ, Tây Tạng là một nước khép
kín, không muốn tiếp xúc với bên ngoài, và nói về
Tây Tạng, người Trung Hoa gọi đó là chư hầu của
họ. Muốn kiếm đường yểm trợ Trung Quốc qua Ấn Độ
và Tây Tạng th́ có khi nói thẳng với Trung Quốc là
hay nhất!
Hỏi Trung Quốc là hỏi chính
quyền của Tổng thống Tưởng Giới Thạch của Trung
Hoa Dân Quốc, đang vừa chống Phát xít Nhật vừa tấn
công quân Cộng sản của Mao Trạch Đông. May quá! Họ
Tưởng cho biết rằng ông kiểm soát được t́nh h́nh
Tây Tạng và cán bộ của ông có thể hướng dẫn một
phái đoàn của Hoa Kỳ tiếp xúc với triều đ́nh Tây
Tạng tại Lhasa. Thế là Mỹ yên tâm.
Nói chuyện với "người lớn" xong
là mọi việc coi như xong!
 |
| Lá cờ
Mỹ đầu tiên trên đất Tây Tạng - 1942 |
Hoa Kỳ khi ấy cũng mới học bài
Tây Tạng như Đế quốc Anh trước đó nửa thế kỷ.
Và cũng phạm sai lầm tương tự.
Năm 1893, nước Anh kư với nhà
Đại Thanh một ḥa ước về Tây Tạng rồi chưng hửng
phát giác là sự thật lại không đơn giản như thế.
Nhà Đại Thanh không kiểm soát được Tây Tạng và cái
gọi là chủ quyền của Trung Quốc trên đất Tây Tạng
là một huyền thoại xuất phát từ tinh thần chủ quan
Đại Hán!
Mười năm sau, Đại tá Francis
Younghusband mới cầm đầu một phái bộ ngoại giao mà
thực chết là một đơn vị viễn chinh của Đế quốc Anh
đặt chân vào Tây Tạng trong tinh thần của Francis
Garnier và Henri Rivière của Pháp tại Việt Nam. Uy
hiếp để khống chế. Mục tiêu của Anh khi ấy là để
chặn đường... Đế quốc Nga trong "ván cờ lớn" giữa
Anh và Nga tại Trung Á.
Giờ đây, Hoa Kỳ mới rơ là Tây
Tạng đă đuổi các viên chức Trung Quốc ra khỏi lănh
thổ và tuyên bố độc lập từ khi nhà Đại Thanh sụp
đổ sau cuộc Cách Mạng Tân Hợi năm 1911! C̣n cán bộ
của Chính quyền Trung Hoa Dân Quốc do Tưởng Giới
Thạch lèo tèo phái vào th́ đă bị gạt ra. Lhasa
than phiền sự xâm nhập ấy và quyết liệt bảo vệ chủ
quyền của ḿnh! Chân rết của Tưởng Giới Thạch
không hề duỗi đến vùng đất heo hút này. Lập trường
của Nội các Lhasa, gọi là Kashag, là đón nhận Phái
bộ của Hoa Kỳ th́ được, nhưng qua sự thu xếp của
người Tây Tạng, chứ không qua cán bộ của họ Tưởng!
Tổng thống Roosevelt bèn yêu cầu
Chuẩn tướng "Wild Bill" Donovan, người chỉ huy cơ
quan Office of Strategic Services (tiền thân của
CIA) t́m cách lập đường giây tiếp xúc. Hai người
được Donovan phái vào nói chuyện với Nội các
Kashag của Tây Tạng và họ đến Lhasa vào tháng 12
năm 1942, một năm sau vụ Trân Châu Cảng. Mật hiệu
của dự án liên lạc ấy là FE-2, một công tác t́nh
báo do Roosevelt chấp thuận vào tháng Năm 1942,
với một lá thư của Tổng thống Mỹ gửi tới đức Đạt
Lai Lạt Ma với danh hiệu "Tăng thống", lănh đạo
Phật giáo Tây Tạng chứ không phải là lănh đạo quốc
gia Tây Tạng! Cho an toàn về ngoại giao!
 |
| Cuộc
đào thoát làm rung chuyển đế quốc đỏ - Đức Đạt
Lai Lạt Ma trên b́a báo Time - 1959 |
Viên chức Mỹ cầm đầu phái bộ này
là Đại úy gốc Nga, Ilya Tolstoy - cháu nội văn hào
Tolstoy - người vẫn hănh diện giữ tước vị Bá tước
của Nga và có quen biết với giới quư tộc Anh tại
Ấn Độ!
Sinh năm 1903, ông tốt nghiệp
trường Nông lâm súc tại Moscow, sau lưu vong qua
Mỹ, học canh nông tại trường Iowa State
University. Người kia là Trung Úy Brooke Dolan II,
sinh năm 1908, một sĩ quan uyên bác, tốt nghiệp
Princeton và Harvard, am hiểu Tạng ngữ, Hán ngữ và
Phật học. Mười năm trước, ông đă từng thám hiểm
vùng Đông Bắc Tây Tạng và miền Tây Trung Quốc cho
Hàn lâm viện Khoa học Tự nhiên của Philadelphia.
Ông là người đầu tiên đem ra một con gấu trúc
giant panda và sau này tử nạn năm 1945 khi vào cứu
đồng đội rớt máy bay đằng sau pḥng tuyến địch tại
Trùng Khánh!
Tướng Donovan thực đă chọn đúng
người cho phái bộ đầu tiên này. Họ vào đến Tây
Tạng và ăn Tết Quư Mùi 1943 tại Lhasa sau khi gặp
nhiều giới chức Tây Tạng.
Tháng Ba năm ấy, Donovan tường
tŕnh lên Tổng thống rằng phái bộ đă hoàn tất mỹ
măn cuộc tiếp xúc. Nội các Kashag đồng ư cho phép
Mỹ chuyển quân cụ qua Tây Tạng để yểm trợ Trung
Quốc; đổi lại, Hoa Kỳ thiết lập quan hệ ngoại giao
để công nhận nền độc lập Tây Tạng. Hay ít ra, Nội
các Kashag nghĩ như thế.
Sự thật không hẳn như vậy.
Những người hiểu biết như
Tolstoy và Dolan kính trọng Tây Tạng chừng nào th́
Tổng thống Mỹ lại coi thường Tây Tạng chừng đó.
Phái bộ hai người nàykhông có thẩm quyền về ngoại
giao, là chuyện c̣n có thể điều chỉnh được. Chuyện
không điều chỉnh được là cái nh́n nông cạn đầy
miệt thị của Tổng thống Roosevelt.
Ngày 26 tháng Ba 1943, ông trả
lời cho tờ tŕnh của vị chỉ huy t́nh báo Mỹ về kế
hoạch tiếp xúc với Tây Tạng như sau:
Anh Bill thân:
Cám ơn đă gửi lá thư của Kashag.
Tôi chưa hề thấy một con Kashag. Tôi không bao giờ
muốn thấy. Nhưng lần này th́ tôi biết, và biết rơ,
rằng thà gặp một con c̣n hơn là một con!
Gởi anh lời chúc tốt đẹp nhất,
Kư tên Franklin D. Roosevelt
 |
| Ngày
22-11-2005, tại Bạch Ốc, TT Bush nhận khăn Tây
Tạng do Đức Đạt Lai Lạt Ma tặng. Sau đó khi đi
Bắc Kinh ông công khai nói chủ tịch Hồ Cẩm Đào
nên gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma. |
Cuối thư, Tổng thống Mỹ ghi thêm
ở đoạn tái bút: Tôi mới biết rằng Kashag là một
Nội các. Nhưng những nhận xét ở trên vẫn có giá
trị.
Phải có lời b́nh giải về lối
chơi chữ tưởng là có duyên của Roosevelt. Thời ấy,
dân Mỹ có một thành ngữ phổ biến từ bài thơ "Con
Ḅ Tím" - Purple Cow - của Gelett Hurgess: "Tôi
chưa hề thấy một con ḅ tím, và không hề mong thấy
nó".
Sự thản nhiên và vô tâm của một
người lănh đạo nước Mỹ trong thời chiến sẽ c̣n
được nhiều thế hệ lănh đạo nối tiếp duy tŕ. Đúng
ba mươi năm sau, Richard Nixon cũng sẵn sàng giành
cho các nước nhỏ của Á châu số phận của con vật tế
thần khi cần hợp tác với Trung Quốc.
V́ vậy, việc Trung Quốc xâm lăng
hay vi phạm nhân quyền tại Tây Tạng có thể được
thấy trước, từ 1942. Từ 65 năm trước!
Khi lănh đạo Hoa Kỳ thờ ơ với
Tây Tạng như vậy th́ việc làm đầu tiên của Mao
Trạch Đông sau khi giải phóng Hoa Lục là giải
phóng luôn Tây Tạng! Tháng 10 năm 1950, Hồng quân
của Mao chiếm luôn các tỉnh miền Đông của xứ này.
Tây Tạng vốn là kho tài nguyên khoáng sản và lâm
sản vô tận trên một diện tích thực ra lớn bằng Tây
Âu, mà lại chỉ có vài triệu dân rất thưa thớt. Sau
này, người ta c̣n biết thêm là Tây Tạng có cả dầu
hỏa, borax và một trữ lượng đáng kể, có thể nhiều
nhất thế giới, về... uranium, nguyên liệu chế bom
nguyên tử!
Trong khi thế giới bên ngoài
quay lưng lại thảm họa "cách mạng" kiểu Mao tại
Hoa Lục - khiến vài chục triệu người thiệt mạng -
th́ người dân Tây Tạng cũng chịu chung số phận:
Cải cách ruộng đất, Bước nhảy vọt vĩ đại, Cách
mạng văn hoá vô sản vĩ đại, v.v... Cùng với việc
xâm chiếm và tàn sát dân Tây Tạng từ 1950 đến
1959, cuộc cách mạng vô sản - và vô thần - của Mao
sau đấy đă khiến một triệu người Tây Tạng bị hy
sinh trên một dân số chỉ có vài triệu.
Mười năm sau khi Mao Trạch Đông
tạ thế, Tây Tạng vẫn là một thuộc địa bị khai thác
tàn tệ khiến một viên Bí thư đảng của "Đặc khu tự
trị" này phải giật ḿnh. Ông ta là Hồ Cẩm Đảo và
chỉ bắt đầu trùng tu hạ tầng của vùng đất này từ
năm 1985. Việc nới lỏng ách cai trị hà khắc khiến
dân Tây Tạng thất đôi chút hy vọng hồi sinh. Nhưng
cuộc nổi dậy của họ vào tháng 10 năm 1987 bị thẳng
tay đàn áp. Người có công trong đợt trấn áp đó là
đương kim Chủ tịch Trung Quốc, Tổng bí thư Hồ Cẩm
Đào.
Sau khi nghĩ rằng đă "bang giao"
với Lhasa, Hoa Kỳ không hề có phản ứng khi Tây
Tạng bị Hồng quân của Mao tấn công năm 1950 - cùng
một lập trường với các cường quốc kia là Anh và
Ấn. Khi hơn hai chục ngàn "Giải phóng quân" của
Mao được phái tới vùng phụ cận của Lhahsa, vào năm
1952, Mỹ cũng không có phản ứng. Có lẽ thái độ này
của Hoa Kỳ cũng góp phần khuyến khích Trung Quốc
can thiệp mạnh hơn vào Chiến tranh Cao Ly, một
cuộc chiến làm Tổng trưởng Ngoại giao Mỹ Dean
Acheson bị bất ngờ!
Nếu vậy, phải nh́n lại Á châu và
quan niệm lại việc ngăn chặn đà bành trướng của
Trung Quốc. Cùng với việc xây dựng tiền đồn cho
Thế giới Tự do tại Đông Nam Á là Việt Nam th́ có
việc yểm trợ Tây Tạng.
Hoa Kỳ nghĩ đến việc giúp đỡ
phong trào kháng chiến của dân Tây Tạng chống đạo
quân xâm lược của Trung Quốc. Bằng cách cho cơ
quan t́nh báo CIA kết nạp và huấn luyện các du
kích quân Tây Tạng. Căn cứ huấn luyện là một vùng
núi cao tại Colorado - cũng hiểm trở như địa h́nh
Tây Tạng - và trước sau họ đào tạo được 300 người.
Trước sau là trong ṿng 12 năm, từ 1956 đến 1968,
dưới ba triều đại Tổng thống là Eisenhower,
Kennedy và Johnson.
Thành tích chính thức là lấy
được một số tài liệu của quân đội Trung Quốc,
nhưng cái giá phải trả là nhiều du kích quân Tây
Tạng hy sinh, bị cầm tù và một số nhỏ th́ đành
sống lưu vong ở ngoài. Họ được gọi là nhửng kẻ Mồ
côi của Chiến tranh lạnh.
Và kết quả là mấy ngàn dân Tây
Tạng bị Hồng quân tàn sát v́ lư cớ "Đế quốc can
thiệp vào Lhasa" để mở cuộc tấn công vào Thủ đô
Tây Tạng mùa Xuân Kỷ Hợi - dù khi đó chỉ có tám
người da trắng có mặt tại Lhasa, hầu hết là các
học giả Anh và Hoà Lan. Thành tích thực tế ít nói
ra là một số kháng chiến quân Tây Tạng được CIA
huấn luyện có kín đáo yểm trợ bằng truyền tin và
giao liên vụ đào thoát của đức Đạt Lai Lạt Ma ra
khỏi Lhasa vào tháng Ba năm 1959.
Thực tế th́ trong 12 năm can
thiệp ấy, CIA đă có biệt tài được thấy sau này ở
khá nhiều nơi khác. Các nhân viên phụ trách việc
huấn luyện không hiểu biết ǵ về văn hoá và lịch
sử Tây Tạng, chỉ nghĩ rằng xứ ấy theo đạo Phật mà
không nh́n ra Phật giáo cũng là phần hồn của chủ
nghĩa quốc gia dân tộc xứ này. Không một người nào
trong các nhân viên CIA đă đặt chân lên đất Tây
Tạng, chỉ vài một biết đôi chút về Tạng ngữ và bản
đồ họ dùng để thả những kháng chiến quân được họ
huấn luyện tại Colorado là tác phẩm phác thảo của
phái bộ Younghusband của Anh, vào năm 1904!
Thật chẳng khác ǵ việc CIA huấn
luyện Biệt kích miền Nam cho thả toán ra Bắc hay
yểm trợ người Hmong trong cuộc chiến trong bóng
tối bên lề cuộc chiến Việt Nam!
Chưa hết, hoạt động của CIA cho
kháng chiến quân Tây Tạng c̣n bị cản trở bởi -
cũng lại chuyện xưa - bộ Ngoại giao Mỹ. Đại sứ Hoa
Kỳ tại Ấn Độ, John Kenneth Galbraith là một đại
trí thức và cố vấn thân tín của Tổng thống John
Kennedy. Với Galbraith, chỉ có Ấn Độ là đáng kể,
Tây Tạng là đáng tởm, man rợ, và rất thiếu vệ
sinh. Ông ra sức cản trở kế hoạch yểm trợ, thả
toán và thuyết phục được Kennedy về một quyết định
quái gở: yểm trợ tối thiếu và chỉ có thể tiếp tục
nếu như có sự đồng ư của Chính quyền Ấn, khi ấy
lại đang muốn ḥa dịu với Bắc Kinh!
Mà bề nào th́ đến Richard Nixon,
Hoa Kỳ cũng muốn hoà dịu với Bắc Kinh. Khi Ngoại
trưởng Henry Kissinger đi đêm với Chu Ấn Lai th́
kế hoạch yểm trợ Tây Tạng của CIA mặc nhiên kết
thúc, chuyện Việt Nam của Mỹ cũng vậy.
Một người trong cuộc của tấn bi
kịch ấy chính là đức Đạt Lai Lạt Ma. Thời ấy, Xuân
Kỷ Hợi 1959, Ngài mới 24 và có lẽ không biết chi
tiết về dự án của CIA. Người quyết định có thể là
vị Tổng quản Phala trong Triều đ́nh Tây Tạng, một
nhân vật ái quốc và tuyệt đối trung thành với
Ngài.
Sau này - mươi năm về trước -
khi được hỏi về chuyện xưa, vị lănh đạo Tây Tạng
ngỏ ư cảm tạ cơ quan CIA đă góp phần yểm trợ các
kháng chiến quân giúp Ngài trốn khỏi Lhasa. Điều
ấy không sai. Chính nhân viên CIA trong cuộc kể
lại gần đây là CIA không hề tổ chức việc đào thoát
của đức Đạt Lai Lạt Ma. Kế hoạch đă được một số
rất ít người trong Nội các Kashag trù tính và thi
hành vào lúc cuối cùng, khi hết hy vọng thỏa hiệp
với quân xâm lược. Trong số các chiến binh người
Khampa đi bảo vệ đức Đạt Lai Lạt Ma, một vài người
đă được CIA huấn luyện và họ dùng phương tiệm
truyền tin để liên lạc với nhau trên đường đào
thoát.
C̣n về kế hoạch yểm trợ của CIA
cho kháng chiến quân Tây Tạng? Đức Đạt Lai Lạt Ma
nhận xét: Rằng Chính phủ Hoa Kỳ đă can thiệp vào
Tây Tạng không để giúp dân Tây Tạng mà chỉ v́
chiến thuật thách đố Trung Quốc trong thời Chiến
tranh lạnh mà thôi.
Đấy là chuyện 1959, qua 1969,
khi Richard Nixon muốn bắt tay với Trung Quốc rồi
th́ đến Đài Loan cũng bị bỏ rơi, rồi bị trục xuất
khỏi Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc để nhường chỗ
cho Bắc Kinh, nói chi đến Tây Tạng?
Cho đến ngày nay, các Chính
quyền Hoa Kỳ vẫn không dám công nhận Tây Tạng và
các vị lănh đạo Mỹ chỉ gặp đức Đạt Lai Lạt Ma với
tư cách riêng. Không mấy khác Roosevelt năm xưa.
Dù không nói ra, người Tây Tạng
ngày nay đều đă học được bài học vận dụng Hoa Kỳ.
Họ không muốn bị lôi vào những
đấu tranh nội bộ của chính trường Mỹ và tránh lấy
những lập trường gây mâu thuẫn với quan điểm chính
thức của Hoa Kỳ. Nhưng, họ xây dựng sức mạnh từ
dưới quần chúng lên, từ người dân Hoa Kỳ.
Khác với ngày xưa, dư luận Mỹ
nay nh́n Tây Tạng với con mắt hiểu biết và nhiệt
thành hơn. Họ trở thành một sức ép rất lớn cho
Chính quyền. Và chính Tổng Thống Bush đă hoan hỉ
nhận khăn Tây Tạng do Đức Đạt Lai Lạt Ma tặng. Sau
đó khi đi Bắc Kinh ông công khai nói chủ tịch Hồ
Cẩm Đào nên gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma.
Người làm xoay chuyển t́nh h́nh
chính là đức Đạt Lai Lạt Ma. Ở vào thế ngoại giao
rất yếu, Ngài đă xây dựng được một lực vận động
rất mạnh nhờ uy tín và đức độ của ḿnh và nhờ sức
đấu tranh bền bỉ của người Tây Tạng lưu vong.
Năm ngoái, Lưỡng viện Quốc hội
Mỹ đă trao tặng đức Đạt Lai Lạt Ma huy chương cao
quư nhất của Lập pháp Hoa Kỳ, Congressional Gold
Medal, tương đương với Presidential Freedom Award
của Hành pháp./.