Hầu hết tất cả các tôn giáo sử dụng cảm xúc, tình cảm như là một
động lực thúc đẩy để đạt được những mục tiêu của họ. Cảm xúc, tình
cảm làm phát sinh niềm tin và sự tuân phục, vâng lời đối với giáo lý
và những cảm xúc này, đặc biệt đối với những loại cảm xúc làm phát
sinh niềm tin là một bộ phận cần thiết đối với tất cả các tôn giáo.
Hay nói cách khác, do vì niềm tin quá cần thiết đối với các tôn
giáo, nên cảm xúc được khích lệ. Ngược lại với tất cả những tôn
giáo, Phật giáo nhấn mạnh yếu tố trí tuệ, đặt niềm tin vào một chỗ
đứng quan trọng chỉ ở những giai đoạn khởi đầu. Thậm chí sau đó,
niềm tin được sử dụng một cách dè dặt, cẩn thận bởi vì trí tuệ được
xem là nhân tố quan trọng, chính yếu để đạt được mục đích.
Để hiểu rõ hơn về niềm tin, chúng ta cần phải phân tích kỹ những
loại niềm tin khác nhau. Nói một cách chung chung thì niềm tin có
thể được chia làm hai loại:
Loại niềm tin thứ nhất là loại niềm tin làm cản trở, chướng ngại cho
trí tuệ. Nó dựa trên sự kích động hoặc thậm chí dựa trên sự ép buộc,
chỉ có sự tuân phục, vâng lời không chất vất được cho phép. Loại
niềm tin này không cho phép trí tuệ phát huy. Niềm tin trong hầu hết
các tôn giáo đều thuộc loại trên. Như thế phải có niềm tin và phải
có sự phục tùng, vâng lời. Bất cứ điều gì tôn giáo dạy bảo đều phải
tuân phục, không có sự chất vấn. Nét đặc trưng này của tôn giáo được
biết đến với cái tên gọi là giáo điều, một học thuyết, giáo lý không
được chất vấn, có đặc trưng là trung thành triệt để với bộ mặt của
lý trí.
Loại niềm tin thứ hai là con đường đưa đến trí tuệ. Loại niềm tin
này kích thích, khêu gợi tính tò mò và là động cơ khích lệ cho sự
học hỏi, nghiên cứu. Trên cuộc đời này có nhiều điều chúng ta cần
phải học, phải biết. Nếu không có niềm tin, chúng ta sẽ không có
điểm khởi đầu hoặc là định hướng mà trong đó chúng ta khởi đầu việc
học, song khi niềm tin phát sinh, phát sinh nơi con người học là nơi
một học thuyết, giáo lý nào đó, thì chúng ta có được định hướng đó.
Niềm tin đặc biệt niềm tin nơi một người nào đó, làm thức tỉnh sự
quan tâm, thích thú của chúng ta và khích lệ chúng ta hướng đến để
đạt được mục tiêu trong vấn đề quan tâm đó. Có niềm tin nơi Tăng
đoàn, chẳng hạn, khích lệ chúng ta tiến đến gần các Ngài và học hỏi
từ các Ngài để có được sự hiểu biết rõ ràng hơn về những lời dạy.
Loại niềm tin này có thể được minh chứng thông qua ví dụ câu chuyện
về cuộc đời của Ngài Xá Lợi Phất, vị đệ tử đứng đầu của đức Phật.
Ngài bắt đầu quan tâm thích thú nơi giáo lý của đức Phật thông qua
việc nhìn thấy vị Tỳ-kheo Assaji trong lúc đi khất thực. Bị gây ấn
tượng bởi dáng vẻ bên ngoài của vị Tỳ kheo, đặc biệt một vài phẩm
chất đặc biệt, một vốn tri thức đặc biệt hoặc là sự chứng đắc về tâm
linh, Ngài đến gần Tỳ kheo và xin được học giáo lý. Đây là một ví du
điển hình cho loại niềm tin thứ hai.
Loại niềm tin thứ hai có ảnh hưởng tích cực và khích lệ việc học
hỏi. Loại niềm tin này còn tạo ra trọng điểm cho việc nghiên cứu,
học tập đó. Những động lực được thúc đẩy động cơ trong bất cứ định
hướng nào mà niềm tin có chiều hướng hướng đến. Chẳng hạn như nhà
khoa học có niềm tin đối với một giả thuyết đặc trưng nào đó, sẽ
định hướng yêu cầu của mình một cách đặc biệt đối với chiều hướng đó
và sẽ không bị những số liệu, dữ kiện không thích hợp phân tán. Hai
loại niềm tin này nên được phân biệt một cách rõ ràng. Loại niềm tin
hoạt động trong đạo Phật là loại niềm tin đưa đến trí tuệ và đó là
yếu tố đưa đến trí tuệ. Phật giáo là một tôn giáo tự do không giáo
điều. Loại niềm tin thứ hai được tìm thấy cả trong đạo Phật lẫn
trong khoa học. Loại niềm tin này có ba chức năng chính xét trong
mối quan hệ, tương quan với trí tuệ:
1. Nó khiến làm phát sinh và tăng trưởng sự quan tâm thích thú và là
động cơ khích lệ cho việc phát khởi việc học tập.
2. Nó cung cấp năng lực cần thiết trong quá trình theo đuổi việc học
tập đó.
3. Nó cung cấp định hướng hoặc là trọng điểm cho năng lực đó.
Ngoài những chức năng chính trên, niềm tin được định hướng rõ ràng
còn có một số đặc tính xa hơn nữa mà chúng ta có thể tìm thấy trong
hệ thống hành trì của Phật giáo. Mục đích của đạo Phật là sự giải
thoát, sự vượt ra khỏi hoặc là sự tự do. Đạo Phật muốn con người
được tự do, giải thoát khỏi những sự nhiễm ô, cấu uế, và khổ đau. Sự
tự do giải thoát này phải đạt được nhờ vào trí tuệ, sự hiểu biết về
chân lý hoặc là quy luật của tự nhiên, vũ trụ. Vị đệ tử cũng có khả
năng chứng đắc sự giác ngộ Chân lý này như bậc thầy đã chứng đắc và
tri thức của họ phụ thuộc vào chính bản thân vị ấy. Có một lần đức
Phật hỏi ngài Xá Lợi Phất: "ông có tin những gì ta đã giải thích cho
ông không?" Ngài Xá Lợi Phất đáp lại: Vâng, con thấy điều đó như
vậy. Đức Phật hỏi Ngài Xá Lợi Phất: Ngươi nói ra điều này chỉ vì
lòng tin ở nơi ta phải không? Xá Lợi Phất trả lời: Không, con trả
lời trong sự đồng ý không phải vì niềm tin ở nơi đức Thế Tôn nhưng
là vì chính con thấy rõ điều đó là như vậy. (Pubbakotthaka Sutta,
Saim. S.V.220).
Đây là một trường hợp khác của những nguyên lý của đạo Phật. Đức
Phật không muốn con người chỉ đơn thuần tin vào Ngài hoặc chấp lấy
Ngài. Ngài chỉ ra lỗi của niềm tin nơi những người khác bởi vì Ngài
muốn con người được tự do giải thoát. Sự giải thoát này hay sự tự
do, mục tiêu của Phật giáo, được đạt được thông qua trí tuệ, nhờ vào
tri kiến về sự thật.
Song trí tuệ phát sinh bằng cách nào? Đối với hầu hết nhiều người,
niềm tin là bậc thang bằng đá không thể thiếu được trong quá trình
phát triển của trí tuệ. Đối với những người suy nghĩ trong sáng,
những người có
Để đạt được sự giải thoát, điều cần thiết là chúng ta phải phát
triển tuệ và sự phát triển đó, ngược lại, phụ thuộc vào niềm tin.
Điều này cung cấp cho chúng ta ba giai đoạn được liên kết với nhau
giống như những sự liên kết trong một dây chuyền:
Niềm tin đưa đến trí tuệ và trí tuệ dẫn đến sự giải thoát.
Niềm tin là người khởi đầu của cuộc hành trình tìm kiếm chân lý, đưa
đến trí tuệ và đưa đến sự giải thoát. Mẫu điều kiện này là niềm tin
trong đạo Phật. Do vì niềm tin có quan hệ cả lẫn với trí tuệ và sự
giải thoát, nên nó có hai đặc điểm:
1. Niềm tin đưa đến trí tuệ. Nó được gắn liền với và đưa đến sự giải
thoát.
Niềm tin trong Phật giáo không ngăn cấm những chất vấn hoặc là sự
hoài nghi. Nó cũng không đòi hỏi tín ngưỡng hoặc là sự giam giữ bằng
bất cứ cách nào mà không có sự chất vấn. Cả Phật giáo lẫn khoa học
đều sử dụng niềm tin như là một nấc thang đá trong cuộc hành trình
tìm kiếm chân lý. Bây giờ thì vấn đề phát sinh là loại niềm tin nào
đưa đến trí tuệ? Đó chính là niềm tin rằng vũ trụ này hoặc là thế
giới tự nhiên hoạt động theo những quy luật thường xuyên và không
thể thay đổi được và những quy luật này có thể nằm trong tầm hiểu
biết của con người. Niềm tin này là phôi thai cho việc tìm cầu chân
lý nhưng vì chính bản thân niềm tin không có khả năng đưa trực tiếp
đến chân lý, nên nó phải được sử dụng để phát triển xa hơn nữa trí
tuệ. Ơ giai đoạn này, niềm tin trong Phật giáo và niềm tin trong
khoa học dường như rất tương đồng. Cả hai đều có một sự tin tưởng
vào những quy luật của tự nhiên và cả hai để tìm cách nỗ lực, phấn
đấu để biết được sự thật của những quy luật này thông qua trí tuệ.
Tuy nhiên, sự tương đồng chấm dứt ở tại đây. Từ điểm này trở đi, sự
tin tưởng trong Phật giáo và niềm tin trong khoa học chia cách nhau
và tìm những hướng đi của riêng mình.
Nguồn gốc của cả tôn giáo lẫn khoa học là sự nhận thức những vấn đề
khổ đau trong cuộc sống, những sự hiểm nguy của thế giới tự nhiên.
Trong quá trình tìm kiếm một giải pháp, một phương thuốc chữa trị
cho vấn đề khổ đau này, nhân loại đã xem môi trường tự nhiên với sự
hoang mang và kinh ngạc. Hai loại cảm giác này dẫn đến sự mong ước
để tìm ra một lối thoát khỏi sự hiểm nguy và ao ước để biết được sự
thật của tự nhiên. Từ nguồn gốc xuất phát cùng chung này, tôn giáo
và khoa học chia rẽ hướng đi của mình. Khoa học, đặc biệt, đặt trọng
tâm nghiên cứu vào hiện tượng vật lý bên ngoài. Khoa học không bao
gồm nhân loại trong bức tranh của khoa học khi nói về vũ trụ, ngoại
trừ trong một ý nghĩa sinh học rất hạn chế. Hay nói cách khác, khoa
học không xem vũ trụ như là bao hàm cả con người và không nhìn nhân
con người bao trùm cả toàn bộ vũ trụ.
Nhìn thiên nhiên theo cách này, khoa học chỉ có một mục tiêu duy
nhất đối với niềm tin của nó và đó là thế giới vật lý- niềm tin rằng
thiên nhiên đã tương hợp với những quy luật của tự nhiên. Nói tóm
lại, chúng ta có thể gọi loại niềm tin này là "niềm tin đối với tự
nhiên".
Nhưng mục tiêu của Phật giáo là giải quyết vấn đề khổ đau của nhân
loại phát sinh từ những điều kiện cả bên ngoài lẫn bên trong bằng sự
nhấn mạnh vào thế giới hành vi của con người. Đồng thời, đạo Phật
xem quá trình này như là một quá trình tự nhiên. Với lý do này, Phật
giáo, giống như khoa học, đặt niềm tin vào tự nhiên, nhưng niềm tin
này cũng bao hàm cả con người bởi vì con người là một phần của tự
nhiên và con người bao hàm cả toàn bộ vũ trụ trong chính họ.
Niềm tin của khoa học chỉ có một mục tiêu, nhưng niềm tin của Phật
giáo có hai mục tiêu và hai mục tiêu đó là:
1. Thiên nhiên.
2. Con người.
Nếu hiểu theo cách nào đấy thì hai loại niềm tin này là một và tương
đồng bởi vì chúng đều là những sự tin tưởng vào thiên nhiên. Loại
niềm tin thứ nhất rõ ràng và hiển nhiên hơn. Nhưng loại niềm tin thứ
nhất này không bao hàm bức tranh tổng thể mà nó chỉ bao hàm môi
trường bên ngoài. Trong Phật giáo, con người được công nhận như là
một bộ phận của tự nhiên. Cơ sở vật lý của con người tự nhiên như
môi trường bên ngoài. Ngoài ra, con người hàm chứa một phẩm chất đặc
biệt khác với những sự biểu hiện bên ngoài của thiên nhiên và giúp
cho con người phân biệt với thế giới xung quanh của anh ta. Đây là
một phẩm chất đặc trưng của con người. Chúng ta thậm chí có thể nói
rằng đó là "tính nhân bản của họ". Phẩm chất độc nhất vô nhị này là
thế giới nội tâm của con người, bộ mặt của thiên nhiên mang một khía
cạnh đạo đức.
Trong Phật giáo chúng ta tin rằng phẩm chất trừu tượng này của con
người còn là một hiện tượng thiên nhiên và cũng phải chịu sự chi
phối của những quy luật tự nhiên-quy luật nhân quả và như thế được
bao hàm trong chân lý của tự nhiên. Để biết và hiểu được thiên nhiên
thì chúng ta cần phần hiểu thông suốt cả về phương diện vật lý cũng
như phương diện tâm linh. Nên ghi nhớ trong tâm thức rằng con người
muốn biết và hiểu thiên nhiên, nếu đi theo con đường đó để mà tìm
hiểu như vậy thì họ phải tìm hiểu xem những ai đang nghiên cứu về
thiên nhiên. Những phẩm chất tâm linh chẳng hạn như niềm tin và sự
ao ước muốn biết là những phẩm chất trừu tượng. Chúng là một bộ phận
của thế giới nội tâm của con người và như thế phải đi vào lĩnh vực
nghiên cứu vè tìm hiểu. Nếu những phẩm chất tâm linh không được
nghiên cứu thì bất cứ tri thức hay là sự hiểu biết nào về thiên
nhiên đều chắc chắn bị bóp méo và không hoàn hảo. Sự hiểu biết sẽ
không có khả năng dẫn đến sự hiểu biết thật sự về thực tại.
Mặc dù trong khoa học có sự tin tưởng vào thiên nhiên và sự khơi gợi
để biết về sự thật của tự nhiên, song thiên nhiên không được nhìn
thấy trong mọi phương diện của nó. Khoa học làm ngơ những giá trị
con người và kết quả là khoa học có một cách nhìn không toàn diện
hoặc là khuyết thiếu về tự nhiên. Sự tìm kiếm tri thức mang tính
khoa học thì không thỏa mãn đầy đủ và không thể đạt đến sự toàn diện
bởi vì một mặt của thế giới tự nhiên, bản chất bên trong của con
người bị lãng quên.
Cũng như trong Phật giáo, niềm tin trong khoa học có thể được chia
làm hai phương diện và có hai mục tiêu chính. Đó là, trước hết có
niềm tin đối với những quy luật của tự nhiên và thứ hai là niềm tin
vào khả năng trí thông minh của con người để nhận ra những quy luật
này. Hay nói cách khác là niềm tin vào tiềm năng của con người. Tuy
nhiên, phương diện thứ hai của loại niềm tin này không được phát
biểu một cách rõ ràng trong khoa học. Đó là một sự hiểu biết ngầm.
Khoa học không đề cập loại niềm tin thứ hai này và chú ý rất ít đến
sự phát triển của con người. Khoa học hầu như hoàn toàn lấy loại
niềm tin thứ nhất làm động cơ thúc đẩy.
Xét về phương diện này thì Phật giáo khác với khoa học. Phật giáo
cho rằng tiềm năng của con người đóng tầm quan trọng chính yếu. Phật
giáo đã phát huy những phương pháp thực tiễn dễ hiểu trong việc nhận
ra tiềm năng này và những phương pháp này đã hình thành nên nền tảng
chính của hệ thống giáo lý tôn giáo này. Thông qua những hệ thống
giáo lý này, niềm tin được căn cứ trên ba nguyên lý có mối quan hệ
tương quan tương duyên với nhau. Ba nguyên lý ấy là:
Niềm tin rằng thiên nhiên hoạt động theo những quy luật cố định.
Niềm tin vào tiềm năng của con người để nhận ra sự thật của những
quy luật này thông qua trí tuệ.
Niềm tin rằng sự giác ngộ những quy luật này sẽ khiến cho con người
nhận ra điều thánh thiện cao nhất, sự giải thoát khỏi những khổ đau
của cuộc đời.
Loại niềm tin này tạo ra một sự dị biệt lớn giữa Phật giáo và khoa
học. Trong Phật giáo, việc tìm kiếm chân lý được hướng dẫn trong sự
liên hệ với sự tu tập để phát triển tiềm năng của con người. Sự phát
triển tiềm năng của con người là những gì quyết định cách mà tri
thức được sử dụng. Do vậy, khả năng sử dụng kiến thức nhằm phục vụ
cho những hành động làm ảnh hưởng đến sự hủy diệt tâm tham lam, sân
hận và si mê được giảm thiểu. Thay vì, tri thức được sử dụng theo
một cách hủy hoại.
Còn đối với khoa học, niềm tin một chiều phiến diện đối với những
quy luật của tự nhiên không có khả năng dẫn đến việc tìm cầu tri
thức vì tri thức không được chú trọng đến và bị hướng dẫn sai lệch.
Không có sự phát triển của nhân loại và sẽ không có sự đảm bảo chắc
rằng tri thức đạt được sẽ được sử dụng vào những cách mang lại lợi
ích cho con người. Sự tìm kiếm của khoa học cho những chân lý của tự
nhiên, do đó, không giúp được gì cho con người, ngay cả những nhà
khoa học, để đạt được sự thỏa mãn, để làm giảm đi nỗi khổ đau, phiền
muộn, để làm giảm đi sự căng thẳng hoặc là để làm cho tâm thanh thản
và trong sáng hơn. Ngoài ra, khoa học mở rộng cánh cửa cho những giá
trị không được ham muốn để phục tùng sự phát triển của khoa học, dẫn
đến khuynh hướng tham lam, sân hận và si mê. Do vậy, những động cơ
để khai thác thiên nhiên và đạt được sự giàu có vật chất đã dẫn dắt
sự phát triển của khoa học gần một thế kỷ qua hoặc nhiều hơn nữa, đã
tạo ra sự khai thác và hủy hoại môi sinh. Nếu chiều hướng này cứ
tiếp tục, thì sự phát triển của khoa học sẽ không thăng bằng.
Người ta nên chú trọng rằng con người có tâm hồn hoặc là đặc biệt
hơn là, những hành động của họ do yếu tố tác ý của tâm thức tạo điều
kiện. Niềm tin vào những quy luật của tự nhiên và ước muốn tìm hiểu
những quy luật này, áp dụng cho một hệ thống giá trị….
Niềm tin và thái độ sẽ hình thành nên một phong cách và định hướng
những phương pháp được sử dụng trong công việc tìm ra chân lý cũng
như bối cảnh và phương pháp mà chân lý đó được tìm thấy.
Theo lời đức Phật dạy, sự chứng đắc chân lý tuyệt đối, tối hậu chỉ
có thể bằng một tâm thức đã được thanh tịnh hóa không có tham lam,
sân hận và si mê. Sự thanh tịnh như thế đòi hỏi sự tu tập, một vấn
đề quan tâm chính đó là niềm tin, thái độ và quan điểm. Một sự tìm
kiếm chân lý bị trói buộc vào những giả thuyết mà nó được căn cứ vào
sẽ không những đưa đến sự thất bại (bởi vì nó bỏ quên một mặt của
thực tại) mà còn sẽ bị những giá trị thấp hèn tràn ngập.
Nói một cách giản đơn là tri thức của những nhà khoa học thì phụ
thuộc vào những giá trị. Một ví dụ đơn giản của những giá trị thứ
yếu này là niềm vui đạt được từ và nằm đằng sau đó là sự tìm kiếm
tri thức và những phát minh mà nó theo đuổi. Thậm chí một kiểu tìm
kiếm tri thức thuần túy mang một giá trị trong sáng và thanh cao
hơn, nếu được phân tích một cách sâu sắc, cũng có thể tạo ra một
loạt những giá trị khác ẩn chứa đằng sau nó như ước muốn để đáp ứng
một nhu cầu cá nhân nào đó.
Nói tóm lại, chúng ta đã nhìn ở hai mức độ giá trị: giá trị tuyệt
đối và những giá trị trung gian tương xứng với nó. Giá trị tuyệt đối
là chân lý phải đạt được và nó không thể được tạo ra do nơi tâm con
người. Các khoa học gia cũng đã có niềm vào tự nhiên. Sự tin tưởng
như thế hoặc là niềm tin là một giá trị nằm chính trong bản thân
niềm tin đó xét phương diện bên ngoài, nhưng niềm tin này phải được
nới rộng để bao gồm con người, cần thiết đòi hỏi phải có niềm tin
vào cái thiện tuyệt đối, chỉ đơn giản bằng cách ghi nhớ trong tâm
rằng những quy luật của tự nhiên có quan hệ với cái chân tuyệt đối.