Edel Maex
Cho đi tất cả - Đạo đức
học trong Phật giáo
(Tiểu luận số 4 về Phật giáo)
Nguyễn Thanh Hùng dịch
Chiếc xe vận tải với hai tài xế dừng lại trước một đường
hầm. Trước cổng hầm có treo một bảng cấm với hàng chữ
“Chiều cao tối đa 3,5 mét”. Chiếc xe hàng của họ cao gần
4 mét. Họ nh́n sang trái, họ xoay sang phải… “Không có
cảnh sát. Ḿnh cứ đi đại thôi”.
Câu chuyện khôi hài ở trên chế giễu cung cách ứng xử với
những luật lệ (đạo đức) thường thấy ở Tây phương. Đạo
đức (ethiek) được xem như là sự hạn chế những ước muốn
riêng, áp đặt từ bên ngoài. Một thành ngữ như “làm tất
cả những ǵ mà Thượng đế cấm đoán” biểu lộ chuyện hưởng
thụ thoải mái. Điều này làm nảy sinh câu hỏi về nền tảng
của đạo đức. Có khi ước muốn của Chúa (God’s wil) được
xem là nguồn gốc của luật lệ. Nhưng điều này lại làm nảy
sinh một câu hỏi khác: Cái ǵ làm Chúa muốn điều này chứ
không phải là điều kia? Có phải đó thật sự là ư muốn tùy
thích của Chúa hay c̣n có một lư do sâu xa hơn? Điều
Chúa muốn có quả thật là tốt đẹp? Đạo đức triết học
(filosofische ethiek) t́m đủ cách để biện minh, củng cố
cho đạo đức. Điều này đưa tới một vấn đề quen thuộc là
quan hệ giữa sự kiện và giá trị, giữa sự xảy ra và sự
đáng lẽ phải xảy ra. Làm thế nào để chuyển tiếp từ một
ghi nhận khách quan tới sự đánh giá bằng những thang giá
trị như tốt và xấu. Đó là cả một cuộc thảo luận dài lâu,
tế nhị và đa dạng.
Ở đây, đạo đức Phật giáo có một quan điểm rất rơ ràng và
quả quyết. Phật chỉ dạy về khổ đau và sự đoạn tuyệt khổ
đau. Các giá trị, đức hạnh, luật lệ, hay là ǵ đi nữa
đều được căn cứ trên luận lư là: nếu ta không muốn khổ
đau và gây ra khổ đau th́ có một số điều ta nên làm và
một số điều chúng ta tốt nhất là không nên làm. (Sự kiện
con người mong ước thoát khỏi khổ đau có thể được xem
như đương nhiên, không cần lập lại (tautologie)). Đạo
đức là một giả định có thể kiểm nghiệm được (toetsbare
hypothese). Những giải pháp rẻ tiền không giúp ta đi xa.
Cung cách sống hưởng thụ dễ dăi, theo thời gian sẽ thua
cuộc. Một lối sống khổ hạnh ức chế tất cả các hạnh phúc
đời thường cũng sẽ thế. Phật giáo là một con đường giữa
(trung đạo).
Đạo đức Phật giáo có quan hệ trực tiếp với tuệ giác Phật
giáo. Cả hai không thể được suy tư tách biệt nhau. Hoa
trái của con đường Phật giáo và những đặc tính của giải
thoát là: tuệ giác (wijsheid) và từ bi. Cả hai gắn bó
với nhau như hơi ấm và ḷ sưởi. Từ bi là thành tựu, là
kết quả cụ thể và đương nhiên của tuệ giác.
Trong một cuộc đối thoại với đức Dalai Lama [1] , một
triết gia Tây phương đă đặt câu hỏi con người tự bản
chất (van nature) là ích kỷ (zelfzichtig/selfish) hay từ
bi (mededogen/compassionate). Câu hỏi này đă gây ra một
cuộc thảo luận sôi nổi giữa các dịch giả Tây Tạng ngữ.
Th́ ra danh từ Tây Tạng cho “compassion” (ḷng từ bi)
vừa bao gồm chính ḿnh [người cho] lẫn kẻ khác [người
nhận]. Đức Dalai Lama đă rất ngạc nhiên khi thấy Anh ngữ
không có thuật ngữ tương đương. Trong Hà Lan ngữ điều
này c̣n tệ hại hơn. Chữ medelijden [thương xót] ngoài ra
c̣n hàm ư thương hại, và zelfmedelijden [tự thương hại]
th́ rơ ràng là điều đáng buồn nhất. Để có thể giải quyết
được vấn đề, chúng ta đành phải lôi danh từ mededogen ra
khỏi lớp bụi phủ. Câu hỏi v́ thế không phải là cho chính
ḿnh hay cho người khác (zelf of ander) mà là với hoặc
không với ḷng từ bi. Ứng xử với ḷng tốt, ḷng từ bi
trong Phật giáo vừa mang lại niềm an vui cho chính ḿnh
vừa tạo ra niềm an vui cho người khác.
Trong bài này, chúng ta sẽ dơi theo cách phân chia cổ
điển của sáu paramita’s [ba la mật – hạnh bồ tát]. Đó là
những hoạt động mà khi được hoàn thiện, sẽ dẫn đến giải
thoát. Cũng như nhiều tổng hợp [pháp số] khác trong Phật
giáo, các yếu tố không phải chỉ hỗ trợ nhau theo cách
riêng rẽ (mutueel exclusief) mà là hỗ trợ bao hàm
(mutueel inclusief). Điều đó muốn nói: mọi yếu tố thật
ra bao gồm các yếu tố khác. Điều này cũng đúng cả cho Tứ
diệu đế. Diệu đế thứ tư là bát chánh đạo trong khi chánh
đạo đầu tiên cũng lại là tứ diệu đế. Chuỗi gắn bó vô tận
của những quan hệ hỗ tương nhắc ta đến sự liên tục làm
tuệ giác sâu sắc hơn và hoàn thiện cách ứng xử. Đây cũng
chính là điều mà thuật ngữ paramita muốn diễn tả: đi cho
đến tận bên bờ kia [đáo bỉ ngạn].
Dana [bố thí]: trong tận cùng giản
dị
Phật giáo có khi thật là đơn giản. Ai thích phức tạp sẽ
nhận được [giáo pháp] phức tạp, thích đơn giản sẽ nhận
được đơn giản. Lời khuyên đầu tiên của Phật vẫn luôn là:
dana, cho đi. Xuất phát điểm đương nhiên vẫn là Tứ diệu
đế. Không phải với sự thỏa măn những nhu cầu mà ta t́m
thấy hạnh phúc. Cứ khăng khăng bám vào những ǵ đang có
và ước ao những ǵ chưa có chỉ tạo thêm nhiều vướng víu.
Một lối thoát rất đơn giản chính là cho đi, chia sẻ
những ǵ đang có. Ta có thể bố thí bằng tiền bạc, nhưng
cũng có thể bằng thời giờ, năng lực và sự tỉnh thức. Ta
có thể cho điều tốt nhất mà ta có được. Ta có thể cho
với tất cả thân tâm của ta. Ta có thể cho cả sinh mệnh
của ḿnh. Trong văn học Phật giáo Đông phương, những câu
chuyện được nhiều người biết đến nhất là những jakata’s.
Đó là tập hợp những cổ tích, được lấy ra từ các tiền
kiếp, các tiền thân của Phật. Như những chuyện cổ tích ở
Tây phương, các câu chuyện này được chấm dứt với một
‘luân lư của câu chuyện’. Trong một jakata, chuyện kể có
một bầy khỉ bị một đám thợ săn xua đuổi ra khỏi cây xoài
mà bọn khỉ dùng làm nơi cư ngụ. Con khỉ chúa bằng ḷng
hy sinh thân mạng để có thể cứu lấy bầy khỉ. Người
trưởng đám thợ săn mới hỏi con khỉ chúa sắp chết: ‘Tại
sao ngươi lại chịu mất mạng như thế, người là chúa của
bầy khỉ mà?’. Con khỉ chúa mới đáp: ‘Chính bởi v́ tôi là
chúa của bầy khỉ mà tôi đă làm như thế’. Chúng ta đang
sống một đời sống của cho đi hay chỉ nhận lănh? Người
được hưởng đầu tiên khi [thực hiện] dana, bố thí, chính
là người cho. Cho đi giải phóng ta khỏi sự vướng víu vẫn
thường hay làm cho đời sống của ta trở thành một tù
ngục. Thật là nhẹ nhơm biết mấy. C̣n những ǵ mà người
nhận lănh được có bổ ích hay không, tùy thuộc vào cách
biết tiếp nhận của người đó. Đối với người nhận cũng
thế, tuệ giác là biết rằng sự thỏa măn các nhu cầu không
tạo ra hạnh phúc. Dại dột cho đi tất cả những ǵ đang có
để làm thỏa măn ước ao và đ̣i hỏi của người khác thường
không phải là chuyện tốt. Có những cách cho đi tất cả
những ǵ đang có sáng suốt hơn.
Một số truyện cổ tích Phật giáo Trung Hoa nhắc đến “cư
sĩ Pang (leek Pang)”, một nhân vật nổi tiếng hiểu biết
và giàu tuệ giác. Trong một trong những câu truyện, “cư
sĩ Pang” đă chất tất cả của cải lên một chiếc xe và đem
đổ tất cả xuống biển. Hàng xóm của ông hỏi ông với vẻ
khó chịu: “Tôi hiểu rằng bác không gắn bó với của cải,
nhưng cớ sao lại không đem cho những kẻ khác?”. Pang trả
lời rằng: “Nếu chúng không làm cho tôi hạnh phúc, th́
làm sao tôi lại dám đem cho người khác được?”.
Mặc dù hạnh bố thí dana là lời khuyên đầu tiên của Phật,
đó không phải là một lời dạy đơn giản cho những tâm hồn
đơn giản. Để hiểu thấu suốt và rốt ráo giáo pháp này là
chuyện không đơn giản chút nào. Trái lại là khác. Nếu
chúng ta quả thực hiểu ngộ nhanh như chúng ta nghĩ, th́
Phật chỉ cần dạy một giáo pháp dana – cho đi, là đủ.
Thật sự cũng chỉ cần chừng đó. Điểm tận cùng của ba la
mật bố thí (danaparamita) chính là sự giải thoát viên
măn (volmaakte bevrijding). Bạn cứ thử tưởng tượng xem
thế giới chúng ta đang sống sẽ như thế nào nếu dana –
cho đi vượt qua tất cả mọi biên giới để trở thành lương
tri (common sense) của toàn thể nhân loại.
Sila [tŕ giới]: lănh trách nhiệm
Phật giáo truyền thống biết đến 5 thứ kiêng cử vẫn được
gọi là sila (ngũ giới). Đó là:
* không được sát hại
* không được trộm cắp
* không được tà dâm
* không được sử dụng tà ngữ
* không được sử dụng các chất ma túy
Những giới luật bắt đầu với “không được” nghe như không
lọt được vào những đôi tai Tây phương từng trải, như một
thứ luân lư hạn chế (beperkende moraal). Nhưng đề nghị
con đường nào ta tốt nhất không nên theo, cho ta nhiều
không gian hơn là lên giọng chỉ rơ con đường nào ta phải
theo. Phật giáo không thể chỉ định ta sống đời sống của
ta như thế nào. Chúng ta phải sống đời sống của chúng
ta. Phật giáo chỉ hướng dẫn ta nên tránh những ǵ có thể
gây ra bất hạnh không lường được (onoverzichtelijk
onheil). Ở đây, đó là những thứ bất hạnh cho chính chúng
ta cũng như cho người khác.
Trong cách nh́n đời sống như một thử nghiệm đạo đức, như
triết gia Leo Apostel đă từng đề nghị, ta có thể xem
sila (tŕ giới) như là kết quả kinh nghiệm của nhiều con
người. Cũng như trong các ngành khoa học, chúng ta có
thể tiến xa hơn, đào sâu hơn, dựa vào thành quả của
những thử nghiệm trước đó. Chúng ta không cần phải trải
qua kinh nghiệm vấp ngă của chính ḿnh để có thể thấu
hiểu đâu là ranh giới [đạo đức] và những bất hạnh nào có
thể bị tạo ra khi vượt qua những ranh giới đó.
Nếu nh́n năm giới kỹ hơn, ta sẽ thấy chúng rất đương
nhiên. Một tập thể xă hội không thể nào được dựa trên sự
sát hại vô tội vạ mạng sống của con người và các loại
sinh vật khác. Chiếm hữu của cải vật dụng của người khác
cũng vậy. C̣n những bất hạnh do ta liều lĩnh gây ra th́
chúng ta đă được các phương tiện thông tin bấy lâu nay
thông báo khá đầy đủ. Ngôn ngữ cũng rất quan trọng. Nếu
chúng ta sử dụng ngôn ngữ một cách gian trá để che dấu
sự thực, để làm tổn thương hay tâng bốc kẻ khác, chúng
ta đă lạm dụng một công cụ đáng lẽ nối kết chúng ta lại
với nhau, và biến ngôn ngữ trở thành một công cụ của sự
cô lập và thói tranh giành.
Tầm quan trọng của sự không sử dụng các chất ma túy chứa
độc tố (intoxicantia) được minh họa qua câu chuyện tiếp
đây. Một người đàn bà giàu có mời một tu sĩ đến nhà dự
tiệc để mong được nghe vị tu sĩ thuyết giảng về giáo
pháp của Phật. Khi vị tu sĩ dùng bữa xong, ông đứng dậy
tính ra về th́ thấy cửa đă đóng. Người đàn bà chỉ bằng
ḷng cho ông bước ra khỏi nhà với điều kiện ông sẽ phải
phạm vào một trong năm giới. Vị tu sĩ hiền lành nghĩ
rằng uống rượu có lẽ là ít tai hại nhất. Qua đó, ít ra
đi nữa, ông không làm hại đến ai. Tiếc thay, hậu quả của
cơn say rượu sau đó đă làm ông phạm vào bốn giới c̣n
lại. Các chất ma túy nguy hiểm v́ chúng khiến chúng ta
hành động một cách mù quáng với tất cả những hậu quả có
thể xảy ra.
Trong nghi lễ truyền thống của quay về nương tựa [quy y]
tam bảo, người được quy y cũng phát nguyện ǵn giữ ngũ
giới. Tŕ giới (sila) trở thành một sự luyện tập
(oefening) (sikkha-padam). Phật giáo là một con đường,
là một phép thực tập (praktijk). Ở đó không có rao giảng
về thương yêu nhưng có thực tập để thương yêu. Thoạt
đầu, những giới luật có vẻ rất đơn giản. Ta biết ta nên
giữ ǵn những ǵ. Nhưng trên thực tế, ta mới thấy không
phải dễ dàng. Thử đơn cử giới đầu tiên là không được sát
hại. Thế chúng ta phải ứng xử với các động vật có hại
(ongedierte), các thứ vi khuẩn gây bệnh như thế nào? Rồi
vấn đề ăn thịt? Ngay cả khi ta ăn chay, chúng ta nghĩ ǵ
khi biết có rất nhiều loại sâu bọ, côn trùng đă bị giết
hại khi đất đai được cày xới để trồng tỉa? Chúng ta suy
nghĩ thế nào về sự phá thai (abortus) hay sự tự nguyện
chấm dứt sự sống (euthanasie)? Giới luật tỏ ra hoàn toàn
không phải là một giải pháp đơn giản cho những vấn đề
nan giải. V́ thế, tŕ giới là một sự thách đố thường
xuyên để ứng xử một cách có ư thức với tất cả những t́nh
huống luân lư rối rắm (morele dilemma) vẫn xảy ra hàng
ngày trong đời sống. Một thái độ “Có ăn nhằm ǵ đến tôi
đâu?” hay một thái độ vô tâm, vô ư không c̣n được chấp
nhận nữa. Tŕ giới kêu gọi ư thức trách nhiệm.
Ksanti [an nhẫn]: dung chứa
Chúng ta không ngây thơ. Bạn cố gắng hết sức, bạn lên
đường và thực tập tuân giữ giới luật. Và rồi bạn thấy
những người chung quanh sống như thế nào. Bạn nhận ra sự
gian trá, bạo lực, bất công diễn ra khắp nơi. Sự thực
tập Phật giáo càng làm cho bạn nhạy cảm hơn. Vấn đề c̣n
trở nên khó khăn hơn nữa nếu chính bạn trở thành nạn
nhân. Giận dữ kích thích giận dữ. Bạo động làm nảy sinh
bạo động và trả thù. Không dễ dàng ǵ để vẫn tiếp tục
sống thành thật khi ḿnh biết ḿnh đang bị lừa đảo.
Trong thời điểm đó, ksanti là khả năng không để bị trôi
cuốn vào hoàn cảnh. Một h́nh ảnh cổ điển là khi bạn cho
một nắm muối vào ly nước, nước trong ly thành mặn. Nhưng
nếu bạn cho nắm muối đó vào gịng sông Hằng, nước sông
không trở nên mặn. Điều đó gắn liền với không gian, với
khả năng dung chứa (tựa một thùng hàng container chứa
đựng hàng). Ngành tâm lư học Tây phương sử dụng danh từ
dung chứa (containing) với một ư nghĩa tương đương.
(Trong ngôn ngữ Trung Hoa, từ ksanti cũng được dịch bằng
một Hán tự vẫn dùng cho từ thùng hàng container). Điều
này không có nghĩa là bạn trở thành một nạn nhân mềm
yếu, không sức kháng cự. Trái lại. Càng phát triển
ksanti bao nhiêu, bạn lại càng phóng tầm mắt rộng hơn,
càng ứng xử đúng đắn hơn với sự bất công, và biết giữ
ḿnh không dự phần vào đó.
Thiền tập giúp bạn nhận diện và dung chứa. Thiền sư gốc
Âu Mỹ Genpo Roshi cho rằng tư thế ngồi thiền là tư thế
trong đó bạn có thể chịu đựng được tất cả. Những cơn
giận, cũng như đau khổ, thèm muốn, tham ái... có thể xảy
đến với bạn. Trong tư thế ngồi trên tọa cụ, bạn có thể
đón nhận tất cả, [đó là] những tai họa chưa xảy ra và
bạn có thể học cách ứng xử với chúng để không bị chúng
chế ngự.
Ksanti không chỉ giới hạn trong những ǵ mà thái độ của
người khác gợi lên trong bạn. Bạn nghĩ sao khi bạn rất
nỗ lực và thấy chính ḿnh thất bại? Bạn muốn tiếp tục
giữ sự b́nh tĩnh, trong khi nhận thấy ḿnh đang nổi nóng
vô lư và đánh mất kiểm soát. Chính lúc đó bạn cần sự dịu
dàng và không gian [của ksanti] để lại tiếp tục thực
tập, không đánh mất ḿnh trong nỗi bực dọc về chính
ḿnh. Điều này càng trở nên khó khăn hơn khi qua sự thực
tập này, bạn khám phá ra những khổ đau mà bạn đă từng
gây ra trong quá khứ. Một kẻ loạn luân đă nói: “Nếu thế
giới dừng lại chỉ một phút để nghĩ về tất cả những điều
đă xảy ra, th́ thế giới này sẽ chết mất v́ hối hận”. Ông
ta chỉ có thể nói chừng đó. Đó là giây phút ông ta cởi
mở nhất. Sự phải chấp nhận điều ghê tởm mà ông ta đă gây
ra đó quá lớn lao, nó khiến ông không chịu nổi và ông
chỉ c̣n có cách duy nhất là tự chối bỏ và lại tiếp tục
loạn luân.
Theo Phật giáo, hối hận được xem là một cảm thọ mang
tính hủy hoại (destructieve emotie). Ta không dùng được.
Lỗi lầm và tội phạm phải được nh́n nhận, ta phải dám
nhận trách nhiệm và chịu học hỏi để không lập lại lần
nữa. Mức độ căng thẳng của hối hận cần được không gian
dịu dàng của ksanti ôm ấp để sự chuyển hóa có thể diễn
ra.
Thiền sư Thích Nhất Hạnh kể một cựu chiến binh Mỹ đă
thuật lại cho ông nghe cuộc đời của anh ta đă trở thành
một địa ngục như thế nào. Vào ngày mà một số chiến hữu
của anh bị giết chết trong một trận phục kích, nổi điên
v́ giận dữ, anh đă ném một quả lựu đạn vào sân chơi một
trường tiểu học Việt Nam. Niềm hối hận dai dẳng đă làm
anh từ đó không bao giờ có thể đến bên cạnh một đứa trẻ
nào được nữa. Hàng đêm, tai nạn xưa lại trở về trong
những cơn ác mộng. Thích Nhất Hạnh trả lời người chiến
binh, b́nh tĩnh và rơ ràng: “Anh biết thế nào là khổ đau
và anh cũng biết khổ đau có thể gây ra những ǵ, anh có
sổ thông hành của một công dân Mỹ, nhờ đó anh có thể đi
khắp thế giới. V́ thế, anh c̣n có thể cứu giúp được thật
nhiều sinh mạng trẻ em.”
Lời dạy này bao hàm một ḷng khoan dung lớn. Giáo pháp
Phật giáo không thích hợp cho một thứ luân lư cứng nhắc.
Giáo pháp nhắc nhở người thực tập cẩn thận để không bị
gánh nặng của mặc cảm tội lỗi đè bẹp, gây ra bởi vô số
thất bại của chính ḿnh. Đó là nhân tính của chúng ta
(onze “condition humaine”). Không nên nh́n chúng với con
mắt phê phán và chối bỏ, nhưng với ḷng khoan dung độ
lượng. Tuệ giác và từ bi cũng phải được áp dụng trong
cách ứng xử với các thất bại của chính ḿnh.
V́ thế cho nên, ksanti không chỉ thuần túy là nhiệm vụ
của một cá thể. Phật giáo đánh giá cao vai tṛ của một
cộng đồng, của sangha [tăng thân]. Tăng thân là một trợ
giúp thiết yếu cho sự tự học. Cộng đồng của những người
cùng đi trên con đường vui, cùng thực tập là sinh môi
thích hợp cho chúng ta. Trong những kinh điển xưa cũ,
chúng ta gặp h́nh ảnh của một con cọp sống an toàn trong
môi trường thiên nhiên, trong rừng rậm ở xa con người,
nhưng cọp sẽ lâm nguy nếu nó bỏ rừng, dám đến gần làng
mạc.
Trong những truyền thống Phật giáo về sau này, một vị bồ
tát (bodhisattva) được xem là biểu tượng cho ḷng từ bi
và tuệ giác, làm lợi lạc cho muôn loài. Truyện kể bồ tát
Bodhisattva Kshitigarbha (Địa Tạng) đi ngang cơi địa
ngục và nghe bên trong có tiếng người kêu gào thảm
thiết. (Trong Phật giáo, địa ngục – cứ giả thử như chốn
đó có thật – cũng vô thường như tất cả mọi sự, và như
thế cũng không đời đời miên viễn). Bồ tát Bodhisattva
Kshitigarbha bước vào bên trong địa ngục, những người
đàn ông ở trong đó đă la lớn lên khi thấy người bước
vào: “Ngài hăy đi đi, ngài dư biết rằng ngài không thể
đem tôi ra khỏi nơi này được, cũng như không thể làm bản
án của tôi giảm đi dù chỉ một giây phút”. Bồ tát
Kshitigarbha trả lời: “Đúng vậy, tôi không tới đây để
đem anh ra khỏi chốn này, tôi đến đây chỉ để được ở bên
cạnh anh thôi.”
Ksanti là khả năng đối trị được với một niềm đau như
thế, để có thể hiểu và vượt qua được. Ksanti giúp ta
nh́n nhận và gánh vác được nỗi khổ nhân sinh lớn lao,
nhưng đồng thời cũng giúp ta tiếp nhận được niềm vui vô
bờ của kiếp sống và sinh tồn tiếp tục. Đời sống không
chỉ là một bể khổ lầm than. Cả những điều thật sự tốt
đẹp và mầu nhiệm cũng cần có sự lưu tâm và một không
gian rộng răi.
Virya [tinh tiến]: cho tất cả
“Bạn có dám làm đủ mọi cách để được hạnh phúc không?”,
nhân vật chính trong cuốn phim Reconstruction hỏi một
người bạn. Thoạt đầu, đó là một câu hỏi kỳ cục. Điều ǵ
có thể làm chúng ta hăm hở hơn là hạnh phúc? Thế nhưng
chúng ta vẫn thấy mọi người chung quanh, cũng như họ
thấy chúng ta, liên tục bận rộn với đủ mọi thứ kỳ thực
không làm [đời sống] chúng ta tốt đẹp hơn. Có vẻ như cái
hấp lực hăo huyền của nhiều sự vật mạnh đến nỗi chúng
làm chúng ta quên đi mất phải thực sự làm ǵ để đời sống
của chúng ta và người khác được hạnh phúc. Cái cảm giác
ê chề khi tỉnh rượu được nhiều trong chúng ta biết đến.
Con đường của Phật giáo là một thứ phương tiện, qua đó
bạn càng hiến tặng bao nhiêu, bạn càng nhận lănh được
bấy nhiêu. Bạn cho đi một chút, bạn nhận lại được một
chút. Bạn cống hiến cuộc đời ḿnh vào đó, bạn nhận cuộc
đời của ḿnh trở lại. Virya có nghĩa là nhiệt tâm, là nỗ
lực. Phật giáo mời gọi chúng ta cho đi tất cả. Không chỉ
nửa vời mà là tận cùng. Hết ḿnh như một nhạc công trên
sân khấu, sống trọn vẹn với âm nhạc và dâng tặng tất cả.
Mọi thính giả sẽ nhận ra và tán thưởng sự hiến tặng hết
ḿnh này. Điều này không có nghĩa là bạn phải buông bỏ
những ǵ đang làm và bắt đầu một đời sống mới. Trái lại,
điều này gắn liền với chính đời sống hiện tại, như đời
sống đến với ta. Trong cuốn sách “Những chỉ dẫn cho
người đầu bếp”, thiền sư Bernie Glassman đă ví dụ điều
ấy với việc chuẩn bị một bữa ăn [2] . Một người đầu bếp
giỏi sử dụng tất cả các vật liệu có sẵn trong tay. Cũng
với một cách thức như thế, bạn chuẩn bị đời sống của
ḿnh, với những ǵ đang có, trong hoàn cảnh bạn đang ở
trong, với những người đang cùng có mặt với bạn trong
giờ phút này đây…
Kinh điển Pali có kể một vị tu sĩ, Sona, thực tập rất
say mê. Từ sáng đến tối, anh ta ngồi thiền liên tục, c̣n
trong những giờ nghỉ, anh lại thực tập thiền hành tới
mức hai chân anh bị nứt nẻ. Anh cố gắng tận lực và trở
nên tuyệt vọng v́ sự tu học của anh đă không đạt được
kết quả mong ước. Biết anh là một người chơi đàn sitar
thiện nghệ, Phật mới nói với anh: “Nếu một sợi dây đàn
được lên quá căng, th́ tiếng đàn sẽ sai, cũng như một
sợi giây đàn được lên rất chùng. Chỉ khi nào giây đàn
được căng đúng mức, tiếng đàn mới ngân đúng trong ḥa
điệu”. Sona hiểy ư Phật dạy. Cho tất cả không phải là
cuồng tín mù quáng. Nhưng là ở trong một ḥa điệu. Cần
bám sát vào thực tế. Cũng như người nhạc công tấu nhạc
hết ḿnh, nhưng vẫn không đi ra ngoài bản nhạc đang
tŕnh tấu.
Cái ǵ là âm nhạc của đời sống? Trong nhạc jazz, âm nhạc
không được tŕnh diễn từ một bản nhạc được chép đầy đủ
(partituur) mà được diễn tấu tự do (geïmproviseerd) dựa
trên những biến tấu ‘changes’, một thay đổi hợp âm
(akkoordwisseling). Những biến tấu là sự kiện, c̣n âm
nhạc là những câu trả lời độc đáo của các nhạc công.
Virya paramita là dâng tặng trọn vẹn thân và tâm vào
những biến động liên tục, những biến đoạn “changes” của
cuộc đời.
Không ai [có thể] nói với bạn phải làm điều này. Không
có cái ǵ bắt buộc cả. Cũng như một nhạc công tấu nhạc
hết ḿnh, một nhà thể thao chơi hết ḿnh, những đôi t́nh
nhân không ngần ngại dâng tặng trọn vẹn, như một đứa trẻ
hết ḿnh với một tṛ chơi… Và như thế, cho đi, dâng tặng
– ngay cả khi chúng làm ta đau khổ – đều chứa đựng một
niềm hỷ lạc lớn lao. Thiền sư Thích Nhất Hạnh đă diễn
đạt điều này bằng thứ ngôn ngữ thi ca đặc biệt của ông:
“Vị bồ tát an lạc cỡi trên những đợt sóng của sinh tử”
(The bodhisattva joyfull rides the waves of birth and
death).
Dhyana [thiền định]: rộng mở
Dhyana là một trong nhiều từ ngữ Sanskrit mà chúng ta có
thể dịch là thiền tập. Điều này muốn nói một sự có mặt
càng lúc càng sâu sắc, rộng mở và một sự chú tâm không
vướng bận, phê phán. Thiền tập chính thật là một cách
phát triển sự rộng mở (openheid). Đó là ngồi yên, vô tâm
và có mặt trong lúc này, ở đây. Có ǵ là cao siêu đâu?
Các tu sĩ Phật giáo cho rằng, có tới 84.000 cánh cửa mở
vào giáo pháp [pháp môn] (cũng nhiều như số lượng các lỗ
chân lông trên thân thể con người theo y học Trung Hoa).
Thiền tập là một trong những pháp môn đó. Trong ngành
tâm lư học Tây phương, nhằm vào sự hoàn thiện cá nhân,
đó [cũng] là một cánh cửa rất quan trọng. Nhiều người
bắt đầu ngồi thiền v́ gặp khó khăn, để làm thuyên giảm
sự căng thẳng (stress), bởi v́ họ đi t́m câu trả lời cho
những câu hỏi của họ. Đó là một lư do thật vững chắc,
tuyệt diệu để bắt đầu với sự thực tập của Phật giáo. Bởi
v́, nói cho cùng, chính Phật, Boeddha cũng đă từng bắt
đầu như thế.
Trong thời gian đầu, đối với nhiều người, đây là một
kinh nghiệm dễ chịu. Cuối cùng rồi họ cũng t́m được chút
nghỉ ngơi, cuối cùng rồi cũng có th́ giờ và lưu tâm đến
chính bản thân. Thật là dễ chịu để được quay về với
chính ḿnh, có mặt một cách thản nhiên, không áp đặt. Đó
cũng là một thực tập hữu hiệu mà chính Phật đă chỉ dạy
cho các vị cư sĩ, chẳng hạn cho vị thương gia và nhà tu
thiền Cấp Cô Độc (Anathapindika) [3] . Thiền tập là một
hành động của thương yêu và chăm sóc. Cách thức ngồi
thiền này và sự lưu tâm đến bản thân không những tốt cho
chính bạn mà c̣n ảnh hưởng đến mọi người chung quanh.
Bạn có thể dừng lại ở sự thực tập này, điều này cũng tốt
thôi, nhưng bạn cũng có thể tiến xa hơn trên con đường
đă dấn bước. Rồi tới một lúc nào đó, bạn sẽ giáp mặt với
những bất an của chính ḿnh, những niềm đau nỗi khổ của
bạn, sự giận dữ và ghê sợ… Qua thái độ rộng mở, chú tâm
nhẹ nhàng, tất cả [những cảm thọ vừa kể] sẽ hiện ra
trong tâm thức. Điều này ngược lại với sự chờ mong của
bạn. Thay v́ t́m thấy b́nh an, bạn nhận được bất an,
thay v́ hạnh phúc th́ là đau khổ. Với sự chú tâm nhẹ
nhàng rộng mở, bạn để cho tất cả xảy ra và nh́n ngắm
chúng. Thiền tập là một hành động của thương yêu. Đó là
sự thực tập về chú tâm với tất cả từ bi. Thiền sư người
Pháp Catherine Pages nói: “Không sợ hăi, hăy để giây
phút hiện tại thâm nhập vào người bạn” (Sans peur,
laisse-toi penetrer par le moment present).
Chuyện kể nhà du già (yoga) Tây Tạng Milarepa, sau một
buổi thiền tập thành công, đă rời khỏi động tu của ông
để đi lượm củi. Khi trở về, ông thấy trong động tu của
ḿnh đầy dẫy ma quỷ. Thoạt đầu, ông c̣n thân thiện yêu
cầu chúng đi ra, rồi ông cố gắng đuổi chúng đi, rồi ông
lại xuống nước, khuyên bảo chúng. Làm cách ǵ đi nữa,
kết quả vẫn không như ông chờ đợi, mà ngược lại, lũ ma
quỷ càng lúc càng tỏ vẻ giận dữ và đe dọa hơn. Cuối
cùng, ông mời bọn chúng ở lại, và chia sẻ động tu chung
với ông. Bọn ma quỷ dần dần nguôi ngoai cơn giận và sau
cùng đă chịu rời hang động của ông.
Trên đường thực tập, rồi bạn sẽ khám phá rằng với bất kỳ
con quỷ nào mà bạn phải giáp mặt, sống chung với nó có
vẻ đỡ khổ hơn là tranh đấu với nó một cách vô hiệu quả
trong nhiều năm tháng. ‘Hăy nhảy múa với những con quỷ
của bạn (Dance with your demons)’, Tenkei Senzei đă từng
nói. Đây là một kinh nghiệm mang tính trị liệu (helende
ervaring). Nỗi đau sẽ mềm ra và tan chảy, trở lại vị trí
của nó. Đời sống, với tất cả khó khăn, trở nên dễ sống
hơn bất cứ lúc nào.
Nhưng bạn có thể đi xa hơn nữa. Với sự chú tâm rộng mở
nhẹ nhàng để có mặt thật sự, một tiến tŕnh khác sẽ xảy
đến. Hai tiến tŕnh này thường xảy ra song song với
nhau. Một mặt, sự rộng mở của tâm thức sẽ tước đi tất cả
những đảm bảo mà trước giờ bạn vẫn cho rằng đang có. Đó
là tiến tŕnh của sự tăng trưởng (và tới một giai đoạn
nào đó chính là sự giải thoát) mà chúng ta đă nói đến
trong bài viết trước. Đồng thời, qua sự rộng mở này, bạn
càng lúc càng trở nên nhạy cảm hơn với những ǵ xảy ra
chung quanh. Thiền tập càng sâu sắc bao nhiêu, bạn càng
có ư thức chính xác hơn về những đau khổ ở quanh bạn và
tiếng kêu cầu của những người khác.
Trong những kinh điển xưa cũ nhất, Phật đă từng giảng
dạy: “Có hai h́nh thức tu tập: cho [riêng] ḿnh và cho
ḿnh cùng cho người khác. H́nh thức thứ nhất là sai, thứ
hai th́ đúng” [4] . Trong truyền thống Đại thừa
(Mahayana) có quan niệm là không ai có thể được giải
thoát chừng nào tất cả mọi người chưa được giải thoát.
Chừng nào c̣n có người đau khổ, th́ chừng đó thế giới
cũng đau khổ lây. Thiền tập cho phép chúng ta trải
nghiệm thế giới một cách rộng mở, và ḥa nhập vào thế
giới bằng một tấm ḷng bao dung. Sự rộng mở cũng làm
chúng ta có khả năng không vướng mắc [vô tâm], có thể
lắng nghe và đối thoại với thực tại bằng một ḷng từ bi
và tầm hiểu biết.
Đây chỉ là một con đường khả dĩ của thiền tập. Cũng có
những cách thức rất khác biệt. Một thiền sư đă kể với
tôi rằng trong ṿng hai mươi năm đầu, ông không thấy
chút thích thú nào trong việc thiền tập. Ông đă bị ném
vào cuộc va chạm không thương xót với chính bản thân
ḿnh. Chính ông cũng không hiểu nổi tại sao ông lại cứ
tiếp tục thực tập. Bằng cách này hay cách khác, cái la
bàn (compas) của cuộc đời ông cứ chỉ theo hướng đó. Chỉ
sau nhiều năm tháng, ông mới khám phá rằng [thiền tập]
cũng thoái mái, dễ chịu và lợi lạc như thường. Cho dù
thứ tự của sự thiền tập mà bạn khám phá ra có là ǵ
chăng nữa, th́ thiền tập cuối cùng vẫn là một hành động
của thương yêu; một sự chăm sóc bản thân (zelfzorg) đem
lại nhiều lợi lạc, một nơi chốn dễ chịu cho những cảm
thọ phá hoại (những ‘con quỷ’ của bạn) và một sự quan
tâm đầy từ bi cho thế giới.
Prajna [Trí huệ]: tốt tận cùng
Prajna có nghĩa là tuệ giác, là trí huệ. Đạo đức đương
nhiên chảy ra từ nguồn tuệ giác này. Bốn sự thật màu
nhiệm [Tứ diệu đế], tuệ giác về sự xuất hiện của khổ đau
và con đường đưa đến giải thoát, tất cả họp lại thành
một tổng thể hợp lư và gắn bó. Tuệ giác cao nhất trong
Phật giáo là tuệ giác về thực tại tối hậu, một bối cảnh
của thực tại trước khi ư niệm về chủ thể và đối tượng
được h́nh thành. Làm thế nào để từ đấy phát sinh ra được
một cung cách ứng xử hợp đạo đức (ethisch handelen)?
Sau khi một ṭa nhà của chính phủ ở bang Oklahoma bị
đánh bom đẫm máu, tổng thống Clinton đă khen ngợi nhân
dân Hoa Kỳ trong một bài phát biểu. Vô số người đă tự
nguyện đến giúp đỡ các nạn nhân, trong số đó có nhiều
trẻ em, mặc dù việc cứu trợ có thể nguy hiểm đến tính
mạng của họ. Đối với ông Clinton, đây là bằng chứng rằng
nhân dân Hoa Kỳ không ích kỷ như họ vẫn thường được miêu
tả. Trong trại tập trung Đức Quốc Xă, nơi bà đă chết một
năm sau đó, Etty Hillesum đă viết trong nhật kư rằng bà
vẫn không thể căm thù con người, mặc dù tất cả những
điều tàn ác đă đổ lên thân phận của bà và những người Do
Thái ở chung trại.
Nếu bạn nh́n chung quanh cho kỹ, bạn sẽ nhận ra vô số
thí dụ tương tự. [Những điều đó chứng tỏ] sự có mặt của
một tính thiện cơ bản (fundamentele goedheid), cái nhân
tính cơ bản của chúng ta, nó chọc thủng mọi tư duy
(logica) của dục vọng và thất vọng, của ân thưởng và
trừng phạt, của những lợi điểm và khuyết điểm cá nhân.
Đó là một sự kiện tự nhiên (natuurlijk gegeven), cũng
như bàn tay trái ôm lấy bàn tay phải nếu bàn tay phải bị
đau. Cũng như sự rộng mở tự nhiên của tâm thức chúng ta
luôn luôn có mặt, cái tính thiện cơ bản này cũng luôn
luôn hiện diện. Cũng ví như mặt trời luôn chiếu soi,
nhưng bị những đám mây che khuất làm mắt chúng ta không
trông thấy được, cũng thế, tính thiện, ḷng cởi mở, tuệ
giác và tâm từ bi cũng thường xuyên bị vọng tưởng và
ḷng ích kỷ che lấp. Có vẻ như chúng hoàn toàn không
hiện hữu. Có khi phải cần đến những hoàn cảnh khắc
nghiệt mới có thể làm chúng xuất hiện ra ánh sáng. Phật
giáo mời gọi chúng ta làm một chọn lựa. Chúng ta có thể
chọn con đường của tuệ giác, của thiền tập và đạo đức và
đi cho đến tận cùng con đường và để cho trí tuệ và ḷng
từ bi hiển lộ ra tràn đầy trong mọi hoàn cảnh.
Trong Tâm kinh (paramita sutra), một bài kinh sau này
vẫn được tŕ tụng mỗi ngày trong nhiều thiền viện, có
đoạn tả bồ tát Quan Âm (Guanyin bodhisattva) trong khi
thiền định thâm sâu đă thấy được tính không (leegheid)
của vạn sự và do đó vượt thoát khỏi mọi sợ hăi. Bồ tát
Quan Âm là sự nhân cách hóa (verpersoonlijking) của ḷng
từ bi. Ở khắp miền Đông Á, chúng ta gặp h́nh ảnh của
người trong vô vàn h́nh tướng. Có khi ta thấy người được
miêu tả với một bàn tay đặt lên trái tim, có khi với một
cành hoa trong tay, có khi với cả ngàn cánh tay giơ ra,
trong ḷng mỗi bàn tay có chứa một vật có khả năng làm
vơi dịu niềm đau nỗi khổ. Quan Âm có ngụ nghĩa là nh́n
và nghe. Người nghe và thấy được nỗi đau khổ của thế
giới và tiếng kêu gọi của muôn loài sinh vật, người để
cho niềm đau nỗi khổ xúc chạm và đáp trả lại. Ḷng từ bi
của đức Quan Âm là hệ quả tất nhiên của tuệ giác, được
hiện thực bằng sự thiền tập sâu sắc trong thực tại tối
hậu. Người lắng nghe và nh́n sâu, chuẩn bị sẵn sàng và
biết ứng xử.
Bản tiếng Việt © 2006 talawas
[1]Daniel Goleman: những cảm thọ mang tính hủy hoại –
Một cuộc đối thoại với Đức Dalai Lama (Destructieve
emoties – Een dialoog met de Dalai Lama), nhà xuất bản
Contact, A’dam, 2003.
[2]Bernie Glasman, Rick Field, Những chỉ dẫn cho người
đầu bếp (aanwijzingen voor de kok), Asoka, 2004
[3]Anguttara Nikaya V.176
[4]Anguttara Nikaya VII.64
Nguồn: Nguyệt san Triết học năm thứ 13, số 6, tháng
Chạp/Giêng (Filosofie, jrg. 13, nr. 6,
december/januari). Xuất bản bằng Ḥa ngữ, phổ biến trong
vùng Benelux.