Bồ
tát Đại Thế Chí
Thích Nguyên Liên
Bồ tát Đại Thế Chí c̣n gọi là Đắc Đại Thế Bồ tát, Đại
Tinh Tấn Bồ tát, Vô Biên Quang Bồ tát… Đại Thế Chí Bồ
tát v́ Bồ tát thường dùng ánh sáng trí tuệ chiếu khắp
mọi loài, khiến chúng sanh mười phương thế giới thoát
khổ đau, thành tựu đạo quả Bồ đề. Đắc Đại Thế Bồ tát
v́ Bồ tát có hạnh nguyện đại hùng đại lực đại từ bi,
dùng hạnh nguyện này để trụ trong Ta bà thế giới, điều
phục và tiếp độ chúng sanh cang cường.
B́nh báu trên đầu hiện Phật sự
Trong lỗ chân lông thấy mười phương
Giở chân chấn động các cơi nước
Khắp nhiếp chúng sanh về Lạc bang.
Bài kệ tán thán oai lực vĩ đại và hạnh
nguyện cứu độ chúng sanh cao cả của Bồ tát Đại Thế
Chí, vị Bồ tát có nhân duyên sâu nặng với chúng sanh
trong thế giới Ta bà. Ngài là vị Bồ tát đă thành Phật
trong kiếp quá khứ, nhưng v́ t́nh thương chúng sanh
bao la mà kiếp này thừa nguyện tái lai thị hiện làm
thân Bồ tát ở thế giới Tây phương Cực Lạc, để trợ
duyên với Phật A Di Đà giáo hóa và tiếp dẫn tất cả
chúng sanh khổ đau trong mười phương thế giới.
Bồ tát Đại Thế Chí c̣n gọi là Đắc Đại
Thế Bồ tát, Đại Tinh Tấn Bồ tát, Vô Biên Quang Bồ tát…
Đại Thế Chí Bồ tát v́ Bồ tát thường dùng ánh sáng trí
tuệ chiếu khắp mọi loài, khiến chúng sanh mười phương
thế giới thoát khổ đau, thành tựu đạo quả Bồ đề. Đắc
Đại Thế Bồ tát v́ Bồ tát có hạnh nguyện đại hùng đại
lực đại từ bi, dùng hạnh nguyện này để trụ trong Ta bà
thế giới, điều phục và tiếp độ chúng sanh cang cường.
Đại Tinh Tấn Bồ tát v́ Bồ tát có sức tinh tấn vĩ đại,
điều phục các phiền năo và giáo hóa chúng sanh không
bao giờ mệt mỏi. Vô Biên Quang Bồ tát v́ nơi thân Bồ
tát có màu vàng tía chiếu khắp pháp giới, chúng sanh
nào có duyên liền thấy được ánh quang minh tịnh diệu
của vô lượng chư Phật ở khắp mười phương.
Trong Tây phương Tam thánh, Ngài
thường đứng bên phải của Phật A Di Đà, đối diện với Bồ
tát Quán Thế Âm, nhằm nói lên Ngài là một trong các vị
Thượng thủ trong chúng hội Bồ tát. Lại nữa, Bồ tát
Quán Thế Âm biểu thị cho tinh thần đại bi, Bồ tát Đại
Thế Chí biểu thị cho tinh thần đại trí, qua đó nói lên
ư nghĩa người tu hành cần phải có bi trí viên măn mới
có thể thành tựu được Phật đạo.
Bồ tát thân cao tám mươi muôn ức na do
tha do tuần, da màu vàng tử kim, trong thiên quan của
Ngài có năm trăm hoa báu, mỗi một hoa báu có năm trăm
đài báu, trong mỗi đài báu đều hiện quốc độ tịnh diệu
của chư Phật mười phương, nhục kế như hoa Bát đầu ma,
giữa nhục kế có một h́nh báu, khác h́nh báu nơi nhục
kế của Bồ tát Quán Thế Âm.
C̣n trong Hiện đồ Mạn đồ la Thai tạng
giới của Mật giáo, Ngài là vị thứ hai ở phương trên
trong viện Quan Âm, ngồi trên hoa sen đỏ, thân màu
trắng, tay trái cầm hoa sen mới nở, tay phải co ba
ngón giữa đặt trước ngực. Mật hiệu là Tŕ luân kim
cương, h́nh Tam muội da là hoa sen mới nở.
Theo kinh Quán Vô Lượng Thọ, vô lượng
hằng sa kiếp trước, thời Phật Bảo Tạng, tiền thân Ngài
là thái tử Ni Ma và Bồ tát Quán Thế Âm là thái tử Bất
Huyền con của vua Vô Tránh Niệm. Bấy giờ đức vua cùng
với hai vị thái tử đến đạo tràng cúng dường và nghe
Phật Bảo Tạng thuyết pháp. Đồng thời được Phật Bảo
Tạng thọ kư, vua Vô Tránh Niệm tương lai sẽ thành Phật
hiệu là A Di Đà ở thế giới Cực Lạc, thái tử Bất Huyền
sẽ thành Phật hiệu là Biến Xuất Nhất Thiết Quang Minh
Công Đức Sơn Vương Phật, c̣n thái tử Ni Ma sẽ thành
Phật hiệu là Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương Phật.
Nói đến Bồ tát Đại Thế Chí, chúng ta
liên tưởng đến công hạnh đặc trưng của Ngài là tinh
thần đại hùng đại lực đại từ bi. Người tu Bồ tát đạo
muốn viên măn quả vị Phật cần phải có đầy đủ tinh thần
này. Do v́ Bồ tát có đại hùng mới dám xả ly những tham
muốn dục lạc thế gian, có đại lực mới kham nổi những
công hạnh Bồ tát đạo “Làm những việc khó làm, nhẫn
những điều khó nhẫn”, có đại từ bi mới có thể làm tṛn
hạnh nguyện giáo hóa chúng sanh cang cường khó điều
phục.
Với tinh thần đại hùng đại lực, trong
kinh Thủ Lăng Nghiêm, Tôn giả A Nan sau khi được Đức
Phật chỉ cho thấy được chân tâm rộng lớn, Ngài đă đối
trước Phật phát đại nguyện.
Đời ngũ trược con nguyện vào trước
Nếu có chúng sanh nào chưa thành Phật
Con nguyện không thọ hưởng Niết bàn
Đại hùng đại lực đại từ bi.
Cũng thế, Bồ tát Đại Thế Chí ngày nay
tuy đă thành Phật nhưng Ngài không an trụ trong cảnh
giới Niết bàn thọ dụng pháp lạc mà thị hiện thân Đẳng
giác Bồ tát, dù chúng sanh có cang cường nhưng Ngài
không nản chí, thệ nguyện vào cơi ngũ trược ác thế để
giáo hóa chúng sanh. Dù bao gian lao, nhọc nhằn và
nguy khó, Bồ tát vẫn không sờn ḷng.
Với tinh thần đại từ bi, Ngài dùng trí
tuệ quan sát thấy căn tánh của chúng sanh trong thời
mạt pháp phần nhiều nghiệp mỏng chướng dày, căn lành
nông cạn, nếu tu các pháp môn khác ngoài pháp môn niệm
Phật, e khó thành tựu đạo quả giải thoát, v́ thế Bồ
tát đặc biệt xiển dương pháp môn này.
Trong kinh Lăng Nghiêm, chương Niệm
Phật viên thông, khi Đức Phật Thích Ca hỏi về pháp môn
tu hành, Bồ tát cho biết Ngài tu theo pháp môn niệm
Phật mà được thành tựu. Bồ tát bạch Phật: “Con nhớ
hằng sa kiếp về trước, có Đức Phật ra đời hiệu là Vô
Lượng Quang, lúc đó có mười hai Đức Như Lai thành Phật
trong một kiếp, Đức Phật sau hết hiệu là Siêu Nhật
Nguyệt Quang Như Lai dạy cho con pháp môn niệm Phật…
Nhân lành của con là dùng tâm niệm Phật mà vào Vô sanh
pháp nhẫn, nay ở cơi này tiếp dẫn những người niệm
Phật văng sanh Tịnh độ”.
Theo lời Bồ tát dạy, người niệm Phật
muốn khi lâm chung được văng sanh Tịnh độ th́ trong
khi niệm Phật phải có tâm chuyên nhất. Ngài dạy: “Mười
phương chư Phật thương nhớ chúng sanh như mẹ nhớ con…
Nếu tâm chúng sanh tưởng Phật nhớ Phật, th́ hiện tiền
hay đương lai nhất định thấy Phật, cách Phật không xa,
không cần tu phương tiện nào khác mà được thành Phật”.
Như vậy, yếu quyết tu niệm Phật của Bồ
tát muốn nhắn gởi đến hành giả niệm Phật không ngoài
điểm: “Nhiếp cả sáu căn, tịnh niệm nối nhau, được Tam
ma địa, đó là bậc nhất”. Đây là điều quan trọng mà
người tu niệm Phật trong khi hành tŕ cần phải chú ư
mới có thể thành tựu ước nguyện văng sanh.
Tóm lại, với lư tưởng độ sanh cao cả,
với tinh thần không khuất phục trước gian lao, ngày
nào chúng sanh trên cuộc đời này c̣n khổ đau, th́ ngày
đó Bồ tát Đại Thế Chí vẫn c̣n miệt mài công việc cứu
độ chúng sanh đưa lên bờ Niết bàn. Học theo hạnh
nguyện đại hùng đại lực đại từ bi của Ngài, chúng ta
cần giữ vững được lập trường tu hành, thực hiện trọn
vẹn tinh thần Tứ hoằng thệ nguyện. Khi chúng sanh cang
cường vẫn thệ nguyện độ, phiền năo đầy dẫy vẫn thệ
nguyện đoạn, pháp môn vô lượng vẫn thệ nguyện học và
Phật đạo dài xa vẫn thệ nguyện thành.
Thích Nguyên Liên