|
Cội Nguồn Văn Hoá Bách Việt hay Cơ Cấu Việt
Nho
Đông Lan
Vấn Đề Học Nho
Hai Cái Nh́n Về Nho Giáo : Hán Nho và Việt Nho
Nguồn Gốc Văn Hóa và sự Thành Lập Nước Tàu
Ngôn Ngữ của Kẻ Chiến Thắng
Những Dấu Văn Hóa của Tứ Di so với Tàu
Những Dấu Văn Minh của Tứ Di so với Tàu
Nhận Diện Cơ Cấu Việt Nho
Cơ Cấu Việt Nho
Âm Dương
Tam Tài
Ngũ Hành
Vấn Đề
Học Nho
Nghiên cứu về nguồn gốc Văn Hoá Việt Nam, triết gia Kim
Định xác tín rằng muốn t́m về Văn Hoá Việt, nếu bỏ Nho
th́ ta chỉ t́m thấy ngọn chứ chưa đến gốc của Văn Hóa,
v́ Nho Giáo chứa đựng những hằng số của văn minh nước
ta. Theo sau bao nhiêu nghiên cứu của triết gia, cũng
như gần đây khoa khảo cổ trên thế giới đă chứng minh,
sắc dân Bách Việt
đă vào và cư ngụ trên đất Tàu ngày nay trước khi có một
dân tộc thực sự là
Tàu xuất hiện.
Thật vậy, về nguồn gốc dân tộc Trung Hoa, dưới ánh
sáng mới nhất của khoa học ngày nay, sự việc hầu như
được khẳng định là khởi thủy người Trung Hoa là do nhóm
dân định cư tại vùng Đông Nam Á đến từ Phi Châu ở đợt
thiên di đầu tiên qua ngả Nam Á, cách đây khoảng 60 ngàn
năm, tiến đến Đông Á cách đây khoảng 40 ngàn năm trở lại
khi khí hậu miền Bắc bắt đầu ấm áp, sau đó từ Đông Á và
Đông Nam Á tiến lên phía Bắc Trung Hoa. Đó là những nhóm
dân đầu tiên cư ngụ trên nước Tàu mà sau này được gọi
chung bằng tên Đại Tộc Bách Việt. C̣n người Hoa Hán là
kết quả của đợt thiên di về sau từ Phi Châu vào đất
Trung Hoa qua ngả Trung Á và Âu Châu khoảng một, hai
chục ngàn năm sau, lai giống với những người đă định cư
từ trước tại Tàu.
Sau những năm lệ thuộc Tàu và Tây, ảnh hưởng của
văn minh vật chất đă lấn chiếm tinh thần tự tin của dân
tộc, cho nên ta cứ theo chân các học giả Tây phương mà
tin một cách mù quáng vào lư thuyết cũ kỹ đă bị khoa học
ngày nay bác bỏ để tin rằng Nho Giáo là của Tàu. Th́
ngày nay với tinh thần độc lập và dựa trên những khám
phá khoa học gần đây nhất, ta tẩy chay những ǵ chẳng
c̣n mới mẻ và lại không phải là sự thật lịch sử.
Rất lâu trước những khám phá mới nhất của khoa học
vừa tŕnh bày ở trên, khi đi sâu vào cánh rừng già văn
hóa Đông phương, triết gia Kim Định đă nhận thấy có
những điểm tương đồng giữa Văn Hóa Việt Nam với nền văn
hóa bản địa của Tàu. Khoa khảo cổ đă ghi nhận về việc
Tàu không phải là một chủng tộc, không có văn hóa trước
chi cả (1-The Origins of Chinese Civilization thuyết
tŕnh tại hội nghị
Berkeley,
1978 và cập nhật hóa 1980. In thành sách
University of California Press, 1983; 2- The Chinese
Heritage, Wu, in tại Crown Publisher, New York, 1982.
Tiến sĩ Wu vừa là đại sứ kiêm học giả). Do đó, người Hoa
Hán chỉ là dân du mục từ Tây Bắc đến và lai giống với
dân bản thổ, và về sau trở thành dân nông nghiệp trồng
lúa khô. Nhờ có thuận lợi chính trị, họ thống nhất cả
một vùng mênh mông như Tàu ngày nay, và công thức hóa
các văn hóa bản địa thành Ngũ Kinh và Tứ Thư, nền tảng
của Nho Giáo mà ai cũng thừa nhận sau này. Thế nhưng,
văn hóa bản địa thuộc lănh thổ Tàu ngày nay và văn hóa
của ta là một. Gia tài tinh thần Văn Hóa đâu chỉ lệ
thuộc chữ viết, chế độ chính trị. Văn Hóa là toàn thể
các h́nh thái sinh hoạt của con người trong cách tiếp xử
với thiên nhiên và xă hội, th́ những yếu tố văn hóa ấy
dù có chữ viết hay không, dù có được thành một nền văn
học thành văn hay chỉ là nền văn hóa dân gian, đó không
phải là điều quan trọng. Quan trọng là cái tinh thần của
văn hóa, cái hồn văn hóa, cái tàng ẩn của văn hóa, cái
mạch ngầm tương quan liên kết định tính một nền văn hóa
mà Lévi-Strauss gọi là Cơ Cấu. Cho nên chỉ cơ cấu mới
định tính một nền văn hóa. Cho nên, xét về cơ cấu, ta
c̣n có nét đặc trưng của Văn Hóa Nho hơn cả Tàu. Xét
trong lịch sử thành văn của văn hóa Tàu, ta thấy đâu đó
những sự tiết lộ về tính chất này. Hăy xem kỹ lich sử
văn hóa Tàu và các lời thánh hiền của họ. Chính Đức
Khổng Tử cứ lập lại măi rằng ngài không sáng tác kinh
điển, mà chỉ san định, chỉ thuật lại đạo cổ xưa. “ Ngô
thuật nhi bất tác, tín nhi hiếu cổ”(Thuật Nhi- Luận Ngữ
q.4). Khi học tṛ ngài là Tử Lộ hỏi về sức mạnh, Khổng
Tử nói rằng: “Đem đức nhu thuận mà sửa đổi, tha thứ cho
kẻ vô đạo, đó là cái dũng của người phương Nam, người
quân tử theo đạo đó” (Khoan nhu dĩ giáo, bất báo vô đạo;
Nam phương chi cường dă, quân tử cư chi - Trung Dung
10). Các thánh hiền mà Khổng Tử noi theo như Vua Nghiêu,
Vua Thuấn đều thuộc Tứ Di, mà Tứ Di là Bách Việt.
“Trọng Ni Tổ thuật Nghiêu Thuấn, Hiến chương Văn
Vũ”(Khổng Tử thuật lại đạo của ông tổ là Nghiêu, Thuấn,
Hiến chương lấy của vua Văn,Vũ - Trung Dung 30). “Thuấn
sanh ư Chư Phùng, thiên ư Phụ Hạ, tốt ư Minh Điều; Đông
Di chi nhân dă. Văn Vương sanh ư Kỳ Châu, tốt ư Tất
Dĩnh; Tây Di chi nhân dă.”(Vua Thuấn sinh ra ở đất Chư
Phùng, về sau dời đến đất Phụ Hạ và mất ở đất Minh Điều.
Ấy là người phiên miền Đông vậy. Vua Văn Vương sinh ra ở
đất Kỳ Châu, mất ở đất Tất Dĩnh. Ấy là người phiên miền
Tây vậy- Mạnh Tử, Ly Lâu Hạ). Thêm nữa, những triều đại
chính của Tàu lại phá đổ Nho mạnh nhất: Nhà Chu tận diệt
sách của nhà Thương, nhà Tần đốt sách chôn Nho, nhà Hán
xuyên tạc kinh văn (Hán Vũ Đế sai Lưu Hâm làm sách ngụy
kinh của cổ nhân gọi là bí thư trong thư viện Thạch Cừ
của riêng triều đ́nh. Các nhà Thái học ở kinh đô đều
phải dùng sách ở thư viện Thạch Cừ). Và sau này tuy đă
nhận Nho nhưng vẫn c̣n lưu lại hai yếu tố phát xuất từ
Tây là hoạn quan và pháp h́nh để kiểm soát nho sĩ.
Ngược lại, nước Việt Nam các làng măi từ xa xưa
luôn luôn lẩn trốn văn minh Tàu, thế mà hằng số của Nho
lại nằm sâu trong ḷng dân Việt Nam, c̣n sâu hơn cả bên
Tàu. Chế độ tự trị xă thôn với b́nh sản và tôn trọng con
người qua việc nặng về tục lệ hơn pháp luật (phép vua
thua lệ làng). Chính trong thời Lê ở nước ta, một thời
có óc độc lập chống Tàu hơn hết, cũng là thời Nho giáo
phát triển rất mạnh. Đó là v́ cái phần trổi vượt hơn hết
của Nho là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín... là nền tảng của
văn hóa Việt Nam, nên vua quan ta chống Tàu nhưng vẫn
không chống Nho giáo. Đó là, trong cái tiềm thức dân tộc
vẫn thấy hồn của ḿnh ẩn khuất trong Nho giáo, vẫn linh
tính cái sứ mạng kế thừa cuối cùng của ḍng tộc Việt để
đến một ngày đi nhận lại dấu chỉ của ḿnh.
Khi nhà Tần thôn tính các nước nhỏ đến khi toàn
thắng và nhà Hán diệt nhà Tần mượn danh hiệu Nho để đặt
nền móng cai trị, nhưng đó là pháp gia, h́nh gia chứ đâu
phải Nho gia. V́ Nho có nghĩa là Nhu. Nhu vừa là nhu
yếu, đáp ứng được những nhu yếu thâm sâu của con người.
Nhu vừa có nghĩa là nhu thuận, hiền hậu. Chính v́ thế
khi Đức Khổng Tử trả lời câu hỏi của Tử Lộ hỏi về sức
mạnh, ngài trả lời rằng cái sức mạnh nào? Của Bắc phương
hay của Nam
phương? Và ngài theo cái đạo “khoan nhu”, “không báo thù
kẻ vô đạo” của phương Nam. Đức Khổng Tử trọng Chính
Danh, nên câu trả lời của ngài là nét nổi bật của ư
nghĩa Nho là khoan ḥa, nhu thuận, hiền hậu. Quan niệm
này ngược hẳn lại với Nho gia pháp h́nh của Tần, Hán.
Cho nên nói Hán nho làm sa đọa Nho Nguyên Thuỷ là lẽ ấy,
và ta gọi Việt Nho để phân biệt với thứ Nho sa đoạ từ
thời Tần, Hán cho măi tới sau này mà các chế độ phong
kiến duy tŕ. Như thế Đạo Nho đă là của Việt tộc từ
đời xa xưa, dù có bị tiêu trầm theo bước chân du mục
phong kiến, nhưng tổ tiên ta vẫn giữ ǵn được phần nào
nơi xa triều đ́nh, thể hiện trong đời sống dân quê ở xă
thôn. Triết gia Kim Định chỉ làm sáng tỏ Đạo Việt từ
lâu đă có sẵn và bảo chứng nằm ngay nơi kinh sách của
Tàu. Do đó không lạ ǵ ta c̣n giữ được tinh thần của Nho
Nguyên thuỷ nhiều hơn của Tàu. Tàu đă công thức hóa Nho
Giáo thành những kinh điển đồ sộ như Ngũ Kinh, Tứ Thư
nhưng đồng thời cũng du nhâp những yếu tố du mục vào Nho
giáo (Thiên tử, hoạn quan, pháp h́nh, khinh phụ nữ, tập
trung tài sản nơi nhà vua) làm sai lạc Nho giáo chân
truyền, cho nên triết gia Kim Định gọi là Hán Nho. Việt
c̣n giữ được tinh túy của Đạo Nho nhiều hơn Tàu (Địa vị
phụ nữ cao, b́nh sản, trọng t́nh hơn lư, nặng tục lệ hơn
pháp luật). Đó là những lư do ta cần phục hoạt lại Nho
Giáo, dĩ nhiên thứ Nho Giáo chưa bị nhà Tần, Hán làm sa
đọa. Triết gia đặt tên là Viêt Nho.
Việt Nho có 2 nghĩa như
đă tŕnh bày, đó là: 1- Nho của
Việt Tộc, 2- Nho
Siêu Việt. Nghĩa thứ hai
này là mục đích chính ta cần t́m học. V́ t́m học Nho
giáo chân truyền là cách học hỏi theo cái ư nghĩa vượt
thoát của từ, hiểu tới nền móng của Đạo, t́m ṭi cái Cơ
Cấu của Nho. Muốn hiểu Nho th́ đọc thêm Ngũ Kinh (Kinh
Dịch, Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu - Kinh
Nhạc đă bị mất-). Đây là một công tŕnh dài, v́ không
những đó là bộ sách lớn, viết bằng chữ Nho, mà chính là
chỗ nó đă bị xuyên tạc, pha trộn những yếu tố du mục của
Hán nho làm ta khó nắm được nét nhất quán của Việt Đạo.
Bộ sách của Triết gia Kim Định là một kỳ công, khám phá
những nét căn cơ của Việt Nho, cho ta có hành trang để
khỏi bị lạc vào cánh rừng già kinh điển ấy. Thế nhưng,
giữa t́nh trạng phân tán hiện nay do đủ mọi ư hệ ngoại
lai gây ra, chính thế hệ chúng ta, cũng không dễ mấy ai
có đủ tĩnh tâm và hoàn cảnh để t́m đọc toàn bộ tư tưởng
của triết gia. Ḷng ái quốc rất nhiều người đă có sẵn.
Nhưng đường về văn hóa dân tộc nếu thiếu định hướng,
cũng chỉ là con đường t́m cái ngọn, uống tạm nước sông,
hồ. Cội nguồn Văn Hóa Quê Mẹ ở măi tận thời xa xưa, thời
Di, Việt làm chủ nước Tàu, thời tổ tiên ta trồng lúa
nước nuôi dân, chiêm nghiệm thiên văn, địa lư, tạo vật
để xây nền tảng nguyên lư Âm Dương cho cuộc sống ổn định
và hạnh phúc - Cội nguồn Minh Triết Việt Nho. Chúng ta
cắt đứt với Nho chính là cắt đứt với nguồn suối cam
tuyền của tư tưởng tổ tiên. Chúng ta t́m học Nho không
phải là học mớ kinh sách xưa, tŕ chú mớ chữ nghĩa cũ
như thời ông cha ta học theo tinh thần tầm chương, trích
cú Hán Nho, Tống Nho. Không. Ta học Nho theo tinh thần
khác. Ta t́m lại Việt tính trong Nho, làm sáng tỏ cái
uẩn ức của vận mệnh dân tộc mấy ngàn năm lưu lạc. Đó
không phải là đẹp ḷng tổ tiên sao? Đọc lịch sử quê
hương, đă bao lần ta thổn thức, thương dân tộc hàng ngàn
năm lệ thuộc, huống ǵ trăm năm đô hộ, huống ǵ mấy chục
năm xương máu Việt tương tàn. Đă bao lần những bài học
lịch sử làm ta xúc động, làm ḍng máu Việt sôi sục đau
thương, khi danh dự Việt bị chà sát dưới bao gông cùm đế
quốc. Nhưng thôi, chuyện xưa đă qua rồi, hồn thiêng dân
tộc vẫn c̣n đây, đưa ngọn bút tài hoa Kim Định khơi mộ
phần tiên tổ, t́m được họa đồ quê nước ngàn năm với gia
tài tinh thần Việt Nho, ân cần trao lại thế hệ chúng ta.
Chúng ta trong những phút tĩnh tâm, mỗi khi ḷng yêu
nước, thương ṇi, nhớ quê dạt dào nổi dậy, xin hăy thắp
một nén hương ḷng, đi nhận lại tinh anh của tổ tiên,
góp công xây dựng cho quê hương lầm than đă mấy ngàn
năm, cho có một ngày rửa được mối nhục nhằn dĩ văng.
Những nhà nghiên cứu khách quan trên thế giới đang trả
lại giá trị văn hóa của ta trên những công tŕnh thực
nghiệm của họ. Nhưng như thế tiêu cực quá. Ai trả lại ta
cái giá của những hàng bao nhiêu triệu cái chết- để- mà-
sống của con dân Việt suốt mấy ngàn năm chiến đấu chống
ngoại xâm và cường bạo? Chỉ để cho một chữ VIỆT c̣n đứng
dưới ánh mặt trời. Không. Ta không thể im ĺm chịu phận
tiểu nhược măi. Một dân tộc có nền Văn Hóa Nông Nghiệp
ổn định lâu đời nhất trên thế giới phải tới ngày thực
hiện sứ mạng của nó. T́m học Việt Nho để mang Tinh Hoa
Văn Hóa Việt sáng soi khắp nẻo trần gian c̣n ch́m đắm
trong bóng tối của cái gọi là “văn minh vật chất”. Sau
cơn mê vật bản này rồi, nhân loại đang và sẽ cần đến một
loại ánh sáng khác.
Sắc mầu Văn Hóa Việt
Nho.
Hai cái
nh́n về Nho Giáo: Hán Nho và Việt Nho
Nho
giáo xuất phát từ thời khuyết sử và gồm 4 giai đoạn:
Một là Hoàng Nho thuộc Tam Hoàng từ 4480-3080 trước
T.L.
Hai là Di Nho từ vua Thuấn 2255-Vũ 2205 trước T.L.
Ba là Việt Nho hay Nguyên Nho (Nội dung Việt Nho
được Khổng Tử công thức hóa thành Kinh điển của Nho
Giáo), lối Xuân Thu 821 trước T.L.
Bốn là Hán Nho cũng là Khổng Giáo từ nhà Chu 1122
trước T.L. nhưng bị sa đọa với sự xuyên tạc của nhà Hán.
Hoàng Nho là Nho của Tam Hoàng: Phục Hi, Nữ Oa,
Thần Nông. Nho đợt này được chứa đựng trong 4 loại sách
gọi là: Tam Phần, Ngũ Điển, Bát Sách, Cửu Khâu. (Xem Chu
Lễ, Chương Xuân Quan Ṭng Bá, tiết Ngoại sử). Đời Chu có
đặt chức quan “ngoại sử” để coi về bộ sách cổ xưa này.
Gọi là ngoại sử v́ những sách đó có trước khi có dân tộc
Tàu. V́ những sách đó đă mất, nên ta chỉ có thể biết một
cách gián tiếp qua những nét đặc trưng nổi bật là số 3,
5, 8, 9 trong tên sách. Rồi đến tính cách và phong thái
của Tam Hoàng như sống cả trên trời lẫn dưới nước, Phục
Hi th́ làm ra “Dịch Tiên Thiên”, Nữ Oa nấu đá Ngũ Sắc,
Thần Nông khai sáng nông nghiệp. Đấy là loại Tổ đầu tiên
lập ra Nho, có thể gọi tên là thời Hoàng Nho. Chính v́
sử sách truyền lại rằng nhà Chu “để mất” các cổ thư nên
sau này người ra quên hẳn ḍng văn hóa Hoàng Nho, và mới
có truyện móc nối với Hoàng Đế, và chỉ tính năm từ Hoàng
Đế (2696 trước T.L.) trở lên thành ra Phục Hi là 2852 và
Thần Nông là 2737 trước T.L.
Đợt Tổ thứ hai là Nghiêu Thuấn. Sách Trung Dung
chương 30 nói: “Trọng Ni Tổ thuật Nghiêu Thuấn, Hiến
chương Văn Vũ” (Trọng Ni - tên Khổng Tử - thuật lại đạo
của ông tổ ḿnh là Nghiêu, Thuấn, c̣n hiến chương th́
lấy của Văn, Vũ). Thế mà ông Thuấn, Ông Văn đều là người
Man Di (như đă trưng dẫn sách Mạnh Tử ở phần trên ).
Vậy ta có thể gọi Nho thời này là Di Nho.
Đợt ba là Việt Nho. Việt cũng gọi là Bách Việt là
tên mới để chỉ các ḍng tộc cũ như Tứ Di hay Man Di. Đó
là một liên đoàn các dân bản thổ đă cư ngụ ở nước Tàu
trước khi Tàu xuất hiện, gọi là: Viêm Chủng, Tam Miêu,
Cửu Lê, Cửu Di, Tứ Di ... và quăng sau này gọi chung
bằng tên Bách Việt gồm nhiều chi như:
Bộc Việt: miền Kinh Sở
Liêu Việt: miền Hồ Quảng
U Việt: miền Chiết Giang
Mân Việt: miền Phúc Kiến
Nam
Việt: miền Lưỡng Quảng
Lạc Việt: miền Bắc Việt Nam hiện nay
Thời Hán Nho:
Khi Khổng Tử thời Nhà Chu, san định các sách và văn
hoá cổ xưa, Nho giáo được phát triển. Sau đó, nhà Hán
dùng Nho trong chính trị, truyền bá Hán Nho và làm suy
tàn cái tinh túy của thời Di Nho và Việt Nho. Khổng Tử
có công làm cho Di Nho hoặc Việt Nho trở nên rơ ràng,
san định sách vở, đặt thành câu văn rành mạch, hay gọi
là “công thức hóa”. Hán Nho làm hỏng cái nguyên thủy của
Đạo Nho, tạo thành thứ Nho của triều đ́nh, vua quan, xa
rời nền văn hóa dân gian của Việt Nho. Hay nói cách
khác, Hán Nho đă làm sa đọa Việt Nho.
Ngày nay chúng ta lần dở những trang Huyền Sử xa
xưa, truy tầm dấu tích Việt Đạo qua những ẩn số văn hóa
để rồi đọc lại Hán Nho theo tinh thần Nguyên thủy của
Nho. Đọc Nho theo lối Việt có nghĩa là t́m về Việt Nho
của Đạo Việt. Cần đọc Nho xuyên qua ư và lời. Cần đọc
Nho vươn lên ư và lời. Cần đọc Nho tới cái tinh túy của
Đạo. Đọc Nho như thế là phục hoạt nguồn sống chân thực
của văn hóa Việt tộc đă bị Hán Nho làm tiêu trầm. Chỉ có
người chủ cũ của Nho mới nhận diện được Nho. Chúng ta là
thế hệ kế thừa cuối cùng của Văn Hóa Bách Việt, duy nhất
c̣n mang được đến ngày nay chữ Việt cho danh hiệu quê
nước, cho nên việc đọc Nho theo tinh thần Việt Nho sẽ là
một bổn phận, một sứ mạng thiêng liêng. Và cũng là một
danh dự của con dân ṇi giống Việt. Hăy cùng nhau can
đảm và tiên phong lên đường t́m về
Quê Hương Văn Hóa Việt Mến
Yêu.
Nguồn
gốc văn hóa Việt và sự thành lập nước Tàu
Nước Tàu mới có từ khoảng 20 thế kỷ trước Tây Lịch
và chính thức gọi là Tàu là từ đời nhà Tần năm 221 trước
Tây Lịch. Khởi đầu của lịch sử nước Tàu trước Tần là nhà
Hạ, Thương, Chu.
- Nhà Hạ kéo dài 439 năm (2205 - 1766 trước T.L)
Tiếng Hạ không phải là tên chủng tộc mà là chỉ một
mảnh đất nhỏ ở mạn Nam sông Hoàng Hà, đối với người mạn
bắc th́ nam kể như là hạ.
- Nhà Thương kéo dài 612 năm (1766 - 1154 ) trước T. L.
Về văn hóa th́ phát xuất từ Hoài Di, Việt. Bà Giản Địch
tổ nhà Thương sinh con theo lối dă hợp của Di, theo mẫu
hệ, gọi tên theo lối Việt như vua Đế Ất. Khi đánh nhau
với nhà Chu th́ hầu hết là nhờ quân Di. Mà Di với Việt
có liên hệ chặt chẽ về cả tiếng nói và cùng một gốc Nam
Á. Tộc Thương chỉ là một bộ tộc hùng mạnh, sau bao cuộc
chinh phục đất đai mà chỉ rộng chừng vài ba trăm ngàn
dặm. C̣n chung quanh toàn là đất của Di, có thể nói
suốt từ bờ Thái B́nh Dương đến mạn Nam Trung Quốc đều là
đất của Di. Khối lớn lao đó gồm hàng vạn nước mà sử
thường gọi là “vạn quốc chư hầu”, mỗi nước chỉ bằng một
tổng hoặc huyện bây giờ. Rồi cứ bộ tộc này mạnh th́ thôn
tính bộ tộc khác để sát nhập thành một nước lớn hơn. Tất
cả c̣n chung một nền văn hóa cổ, không có chi phân biệt:
huyền thọai mang nét Lưỡng Hợp, anh em kế nghiệp tộc
trưởng, khi múa mang lông chim.
- Nhà Chu kéo dài 897 năm (1122-225 trước T. L.),
phát xuất từ Tây Di, họ Cơ, thuộc bộ tộc Nhung (hoặc
Khương). Đến thời nhà Chu số bộ tộc c̣n lại từ vạn quốc
là 160. Xem trong bản đồ Kinh Thư của Legge (quyển IV,
trang 126) địa vực nhà Chu chỉ quanh quẩn bên sông Hoàng
Hà, tức là địa phương Hà Nam, Trực Lệ, Sơn Tây, Hiệp Tây
ngày nay, mà xung quanh c̣n vô số những bộ tộc của Di.
Nhà Chu thuộc dân phía Tây Bắc thuộc về dân du mục hoặc
bán du mục, hiếu chiến, phụ hệ, trọng vơ. Sau khi chinh
phục xong nhà Thương là một xă hội định cư, nông nghiệp,
khi xếp đặt guồng máy cai trị nhà Chu
đưa vào văn hóa Di những yếu tố khác biệt.
- Ư niệm Thiên Tử
- Quân đội chuyên nghiệp
- Luật h́nh
- Hoạn quan
- Trọng tay phải, ưa số 6, 8
- Đàn áp đàn bà
- Khinh miệt dân chúng, gọi là lê dân (dân đen đầu)
- Chuyển tài sản từ làng xă sang tay nhà vua.
Những yếu tố chính như thiên tử, hoạn quan, luật
h́nh là yếu tố vay mượn bên miền du mục Lưỡng Hà như
Perse, Assyria ngược hẳn lại văn hóa cổ, làm bẻ quặt Di
Nho, nên sau này so với Di Nho, Chu Nho là văn hóa du
mục.
Và cũng từ đấy, th́ xă hội bắt đầu phân biệt Tàu
với Di Việt bằng cách coi khinh và chữ Di Địch mới hàm
nghĩa “rợ mọi”, chứ trước không hề có thế, v́ Tàu đều
xuất phát từ Tứ Di cả, nhưng khi chinh phục được Tứ Di
rồi th́ quay lại khinh dễ gốc của ḿnh. Rồi nhờ có quân
đội nên bờ cơi mở rộng, tạo thành một nước có vua, với
uy quyền tuyệt đối của “Con Trời” (Thiên Tử). Sau đó để
duy tŕ uy quyền của nhà vua, luật pháp đặt ra để thay
thế cho tục lệ của thời bộ lạc. H́nh pháp để trị tội kẻ
phạm luật thay cho văn hóa của tục lệ. Văn tự đă có từ
thời trước như chữ con quăng và chân chim, tuy phát
triển nhưng dùng để củng cố uy quyền của nhà vua và luật
pháp. Vua xưng là “Thiên Tử”, con trời, có thiên mệnh,
và từ đó lễ nghĩa của vua quan và giới quyền quí ra đời
phân cách giữa văn hóa của giới triều đ́nh vua quan với
văn hóa thôn quê của nhân dân. Nền văn hóa của giới
triều đ́nh ở tại lễ nghi, phẩm chất trá ngụy. Nền văn
hóa Di Nho trọng nhân dân, nơi những người nhà quê ít
học hành, chữ nghĩa, đơn giản, nhưng lại trọng t́nh cảm
và nhân nghĩa. Hai nền văn hóa bác học và b́nh dân chỉ
phản ánh hai mặt khác biệt quá độ của một nền văn hóa
nguyên thủy. Đó là Nguyên Nho. Hay nói cách khác, Nho là
văn hóa chung của thời đại, nhưng triều đ́nh vua quan
trọng Lễ, vỏ của Nho. Trong khi nhân dân trọng cái ruột
của Nho, đó là T́nh.
- Nhà Tần kéo dài 49 năm (255-206 trước T. L.),
nhưng khi chiếm toàn cơi nước Tàu, nhất là Sở, Việt, Ngô
và xưng là Tần Thủy Hoàng Đế từ năm 221 trước T. L. Tuy
thời gian cai trị ngắn, nhưng đă để lại một h́nh ảnh
nước Tàu to lớn, thống nhất nên từ đó mọi người vướng
vào h́nh ảnh này mà quên đi những quăng đầu lúc nước Tàu
c̣n nhỏ bé. Từ Tần Thủy Hoàng nước Tàu vẫn không có tên
nước, vẫn phải mượn tên Tần để gọi nước.
Người Tàu đọc Tần là Tsin, thành ra Chine, China. Tần là
một trong Tứ Di, nhưng v́ tiếp cận với du mục quá lâu
nên theo hướng du mục chuyên chế, tàn bạo, không hợp với
vương đạo, nên chấm dứt sớm.
- Nhà Hán (206-32 trước T. L.), cũng phát xuất từ
Tứ Di, miền Giang Tô. Khi mới lên ngôi c̣n tế Ly Vưu và
xưng ḿnh là Hán Man. Chữ Hán là h́nh dung từ chỉ cao
sang vinh hiển, chứ không là tên ḍng tộc nào, y như chữ
Hạ và Hoa cũng thế. V́ Tàu chỉ từ Tứ Di mà ra nên không
có ḍng tộc riêng và không có tên riêng. Do đó Tàu chỉ
như một thực thể chính trị, văn hóa chứ không có nghĩa
chủng tộc nào. Đến đời nhà Tần v́ Tần nổi quá nên người
Mông Cổ gọi Tàu là Tần và đó là h́nh ảnh của nước Tàu
cho đến nay mà thôi. Nhưng điều này chứng tỏ Tàu không
là một chủng tộc riêng mà chỉ do Tứ Di phát xuất. Điều
này đă thành hiển nhiên khi xem mấy vị thủy tổ như Phục
Hi, Nữ Oa đều xuất thân từ Di, miền châu thổ sông Hoài.
Ngôn Ngữ của Kẻ Chiến Thắng
Sự kiện chính trị xẩy ra ở khắp nơi là hễ nơi nào
có kinh đô nhà vua th́ ngôn ngữ ở nơi đó thắng thế và
dần dần trở thành “quốc ngữ”. Sự kiện ấy đang xẩy ra
thời đại này bên Trung Cộng là thổ âm chung quanh Bắc
Kinh đang được trợ lực để lấn át thổ âm các địa phương
khác. Theo các nhà ngôn ngữ th́ Tàu có lối 10 phương âm.
Trong đó tiếng Quan thoại được kể là chính thức (do may
mắn là tiếng của kinh đô vua ở, nên được đắc dụng, chứ
không phải v́ có văn hóa cao). Tiếng Quan thoại cũng chỉ
ở phía đông Thiểm Tây, bắc Hà Nam, nam Hà Bắc, nam Sơn
Tây. Ngoài ra hầu như khắp nơi đều nói giọng của Di Việt
gồm có:
1. Tần ngữ được coi như cổ ngữ của Quan Thoại
2. Thục ngữ, âm của người Thái xưa
3. Yên, Tề ngữ của Đông Di và Mặc Địch
4. Sở ngữ: Kinh Mân, Lạc Việt
5. Mân ngữ của Mân Việt ở Phúc Kiến
6. Giang Hoài ngữ: Việt Chiết Giang (U Việt)
7. Ngô Việt ngữ ở Bắc Giang Tô, Việt Chiết Giang
8. Điền và Kiềm ngữ ở Vân Nam
9. Việt ngữ ở Quảng Đông, Quảng Tây.
Sự kiện ngôn ngữ là ngôn ngữ của kẻ chiến thắng,
cho nên khi san định kinh điển th́ tiếng phương Bắc đă
được chễm chệ ngồi ghế chủ tịch. Đó là một sự may mắn
của nước Tàu về mặt chính trị. Sỡ dĩ người ta quen đồng
hóa Nho với Hán là v́ thói quen chính trị. Nhưng tinh
thần không lệ thuộc cú pháp, hay cả ngôn từ. Cũng v́ sự
lấn lướt của ngôn ngữ mà Hán tộc đă có thể xuyên tạc Nho
để người sau không c̣n có thể nhận ra được đâu là Nho
chân thực, Nho của Việt. Sự kiện đốt sách chôn nho đời
Tần, xuyên tạc nho do vụ thư viện Thạch Cừ đời Hán,
khiến cho sau này Nho giáo là một thực thể phức tạp, lẫn
lộn cả những yếu tố trái ngược như vừa tranh đấu cho tự
do con người mà lại vừa đàn áp con người, vừa trọng nhân
nghĩa mà lại nặng h́nh luật và lễ nghi. Về chữ viết, chữ
Nho ngày nay ta thấy mới có từ đời Tần (thế kỷ thứ 3
trước T.L.) và gọi là chữ lệ. Đó là thứ chữ cuối cùng do
Tần Thủy Hoàng thống nhất nước Tàu th́ cũng thống nhất
chữ Nho. Trước nhà Tần có rất nhiều kiểu viết, nhưng nổi
hơn cả là chữ con quăng cũng gọi là khoa đẩu và chữ chân
chim. Hai thứ chữ này là của Việt Tộc. Hai thứ chữ này
có từ lâu, măi thời Hồng Bàng. Sau Tần Thủy Hoàng thống
nhất văn tự bắt dùng chữ lệ, từ đó chữ chân chim và con
quăng bị tiêu trầm.
Dưới đây là mấy mẫu chữ cổ được t́m thấy trong các
thám quật mới nhất:

Chữ
cổ trên lưỡi cầy Đông Sơn (trên)
qua đồng Thanh Hóa (dưới)

Một loại chữ cổ
(t́m thấy tại vùng Mường, Thanh Hoá)
Tóm
lại cả Chữ Nho, Đạo Nho đều do Việt Tộc có trước rồi sau
người Tàu công thức hóa thành những câu văn ngắn gọn.
Hay nói cách khác, các Kinh Vô Tự của Đạo Việt, sau Tàu
cho vào kinh sách, thành kinh “hữu tự”. Vậy muốn t́m về
Văn Hóa Việt th́ phải t́m về lâu đài văn hóa của kinh vô
tự trước khi có kinh hữu tự của Tần Hán, trước cả thời
nhà Chu, trước thời Khổng Tử san định các sách cổ.
Những
Dấu Văn Hóa của Tứ Di so với Tàu
1. Trọng bên tả. Kinh Thư ghi “Tứ Di tả nhậm” có
nghĩa các bộ tộc Di đều bắt vạt áo bên tả, tay trái. Đối
lại, Tàu trọng bên hữu, cài áo tay phải.
2. Dấu hai là bên tả đi với phương Đông Nam, số 2
và 3
3. Dấu ba đi với trọng bên tả là trọng phái yếu,
trọng nữ. Cho nên đặt Âm trước Dương. Ngược lại Tàu
trọng bên hữu, trọng sức mạnh, nên đặt Càn trước Khôn.
4. Trọng số 5. Bà Nữ Oa luyện đá ngũ sắc để vá lại
trời. Nói lên Nguyên Lư Mẹ đi đôi với số 5.
5. Bà Nữ Oa sau hóa ra chim Tinh Vệ. Chim là tiền
thân của Tiên, cùng bay trên trời nhởn nhơ nơi ruộng lúa
nước.
6. Phục Hi làm ra Kinh Dịch với số 2 và 3.
7. Những huyền thoại luôn có nét đặc trưng lưỡng
hợp như: Nữ Oa, Phục Hi, Non Nước, Núi Sông. Hay gọi là
những Nét Song Trùng.
8. Vật tổ: là chim và xà long mạn bắc, hoặc giao
long mạn nam, chứ không như của Tàu lúc đầu là bạch hổ.
9. T́nh gia đ́nh. Ông Thuấn nói về đức hiếu thảo,
tức là văn hóa trọng t́nh gia đ́nh và sẽ xây t́nh nước
trên căn bản t́nh nhà.
Những
Dấu Văn Minh của Việt so với Tàu
-
Việt :nông nghiệp lúa Mễ, ruộng nước. Tàu: du mục,
ruộng khô, lúa ḿ, lúa tắc, lúa mạch.
- Việt đi thuyền. Tàu cưỡi ngựa.
- Làng quê Việt Tự trị . Tàu quân chủ chuyên chế.
- Địa vị phụ nữ Việt cao, được tham dự “đồng
tế”với chồng trong Lễ gia tiên.Phụ nữ Việt là Linh hồn
của gia đ́nh, nuôi chồng, dạy con, có vai tṛ là “ nội
tướng” trong gia đ́nh. Người phụ nữ Tàu lệ thuộc, vai
tṛ thấp trong gia đ́nh; trước kia c̣n có tục phải chôn
sống khi chồng chết.
Nhận
Diện Cơ Cấu Việt Nho: Văn Hóa - Khảo Cổ
Văn Hóa
Chữ Việt từ nay được hiểu rất rộng, bao gồm cả Việt
Nam hiện đại lẫn Bách Việt, trước nữa là các dân đứng
ngoài ṿng lễ nghĩa nhà Chu, cùng toàn thể khối dân sống
trong nước Tàu lúc chưa có Tàu xét như một dân tộc riêng
biệt. Chữ Việt (0b) viết với bộ Mễ (0a) chỉ nông nghiệp
là nét nổi nhất chung cho toàn chủng. Những yếu tố coi
như mẫu số chung cho đại chủng Việt, là khối dân mà gần
đây khảo cổ gọi là Mongoloids, nhiều sách quen gọi là
Nam Mông Cổ. Khối Mongoloids chia ra hàng trăm chi tộc,
với những tên khác nhau, trong có một tên có tầm bao
quát rộng được dùng chung cho toàn khối (Tam Miêu, Cửu
Lê, Cửu Di, Tứ Di) Bách Việt. Sở dĩ chúng ta gọi tên
Việt đại biểu cho toàn thể khối này v́ chữ Việt viết với
bộ Mễ chỉ nét nông nghiệp là nét nổi nhất chung cho toàn
chủng. Sau đến, qua bao đợt tiêu trầm, chữ Việt chỉ c̣n
duy nhất cái tên Việt trong quốc hiệu Việt Nam của chúng
ta. Đó là chưa kể ta c̣n lối 60 sắc dân thiểu số trong
nước sau bao đợt di dân. Và, cuối cùng, đất Việt lại là
nơi t́m được nhiều trống đồng đại biểu cho nét văn hóa
của đại chủng nhất. Sau đây là mấy yếu tố coi như mẫu số
chung của văn hóa đại chủng Việt:
1. Nông Nghiệp
2. Tổ chức xă hội theo lối thôn làng, rồi liên
làng, tổng.
3. Thờ tổ tiên
4. Địa vị phụ nữ cao
5. Khi múa đeo lông chim
6. Xâm ḿnh
7. Cài áo bên trái (Tứ Di tả nhậm)
8. Huyền thoại mang nét lưỡng hợp.
Khảo Cổ
Về khảo cổ, thời Tân Thạch: Ŕu có tay cầm được t́m
thấy khắp từ Sơn Đông xuống Việt Nam.
Sau là loại ŕu lưỡi cong cùng h́nh dáng với phủ
Việt.
Thời đồ gốm 11,000 năm trước T. L: Gốm Văn thừng
với kỹ thuật khắc vạch và đóng dấu. Gốm ba chân có đáy ở
Đông Sơn, trên Ngưỡng Thiều và Long Sơn, đặc biệt có cái
lịch (nồi ba bề).
Văn xoáy ốc ngược kim đồng hồ do h́nh chim bay xuất
hiện v́ có chấm mắt.
Thời đại đồ đồng lối 3 ngàn năm trước T. L. với
những đỉnh, những tước đủ loại, tựu trung loại 3 chân 2
tai nổi bật. Đồ đồng xuất hiện ở Đông Nam Á ( đă t́m
được bên Thái lối 3000 năm trước T. L., bên Tàu khoảng
đầu nhà Hạ lối 2000 trước T. L.)

H́nh 2.3. (từ trái qua phải) : Ŕu đá có tay cầm,
Ŕu đồng h́nh chữ nhật, Ŕu
lưỡi cong
(dưới) : Phủ Việt lưỡi cong
Văn Minh
Du Mục
Chính vào thời đồ đồng này mà nảy sinh ra một dân tộc là
Tàu: đó là vài bộ lạc ở vùng núi trong tỉnh Thiểm Tây và
Sơn Tây, tuy cùng là dân nông nghiệp, nhưng ruộng khô,
cấy lúa gọi là thủ, là tắc, v́ tiếp cận với du mục Bắc
phương nên dần dần nhiễm nền văn hóa có tính chất du
mục. Nền văn minh du mục gồm mấy điểm khác biệt sau:
1. Có vua và nhà nước
2. Quân đội lớn và chuyên nghiệp
3. Thành thị, xây tường lũy bao quanh
4. Pháp h́nh
5. Nghệ thuật đồ sộ tách khỏi vật dụng: Cung điện
lớn lao, mồ mả đồ sộ
6. Chữ viết
7. Xe ngựa
Đó là mấy nét lớn thường gắn bó với nhau, cái nọ
sinh ra cái kia: Muốn có sức mạnh phải có quân đội
thường trực (chứ không tụ họp dân khi cần như kiểu Thánh
Gióng). Đă có quân đội mạnh tất phải có uy quyền thủ
lănh, sinh ra vua và pháp luật chặt chẽ. Chữ viết cần
cho việc tập trung và kiểm soát. Uy quyền của vua được
biểu lộ bằng cung điện nguy nga, mồ mả to lớn, kèm với
mỹ thuật vĩ đại. Chính những điều này làm nên những nền
nghệ thuật sáng chói, được những nhà nghiên cứu tŕnh
bày cho thiên hạ chiêm ngưỡng ca ngợi coi như những đỉnh
cao của văn minh. Nhưng những đỉnh cao đó cũng là thước
đo sự trầm thống khổ lụy của đại chúng. Vạn Lư trường
thành là mồ chôn tập thể hàng bao trăm ngàn sinh mạng
công nhân lao động. Cũng như Kim Tự Tháp của Ai Cập là
kết quả biết bao máu xương của giai cấp nô lệ khốn
cùng.
Cơ Cấu Âm
Dương Của Việt Nho
Âm
Dương là hai ư niệm căn bản cấu thành vạn vật. Ư niệm
này có từ thời xa xưa. Người ta ghi lại bằng một vạch
liền ___ và một vạch đứt – – , vạch liền sau này gọi
là Dương. Vạch đứt sau này gọi là Âm.
Âm Dương có thể diễn giải thêm như đó là hai thế
lực lớn gồm tất cả những ǵ có tính chất đối nghịch:
giống cái và giống đực, tối và sáng, mềm và rắn, tĩnh và
động... Sự hỗ tương hành động của Âm Dương sinh ra mọi
hiện tượng vũ trụ.
Khi được hiểu như là “âm dương nhị khí” trong thiên
nhiên, như khi xẩy ra việc động đất ở ba lưu vực thuộc
địa phận nhà Chu, sách Chu Ngữ giải thích “Nếu khí Dương
bị hăm ở dưới mà không xuất ra được, khí Âm bị nén mà
không thoát lên được bấy giờ có địa chấn (động đất). Nay
ba con sông bị động, ấy là khí Dương đă mất địa vị chính
của nó và đă nén vào khí Âm. Khí Dương đă ra ngoài địa
vị mà đứng vào địa vị của Âm, hẳn là nguồn sống phải bế
tắc vậy” (Dương phục nhi bất năng xuất. Âm bách nhi bất
năng chung. Ư thị hữu địa chấn, Kim tam nguyên thực
chấn, Âm bách nhi bất năng chung. Ư thị địa chấn, Kim
tam xuyên thực chấn. Thị dương thất kỳ sở nhi chấn Âm
dă. Dương thất nhi tại Âm. Xuyên nguyên tất tắc”.
Kinh Dịch nói: “ Nhất âm nhất dương chi vị Đạo. Kế
chi giả, thiện dă, thành chi giả, tính dă”(1). (Kinh
Dịch, Hệ từ 5)
(Một Âm một Dương là Đạo, kế tiếp là thiện lành,
thành được âm dương là Tính)
Nhất Âm nhất Dương chi vị
Đạo
Đức Khổng Tử đă giải thích Đạo rất rơ ràng nơi đây.
Đạo là ǵ? Đơn sơ, giản dị, đạo là nhịp âm dương của vận
hành vũ trụ. Âm và Dương là cặp phạm trù mâu thuẫn mà
ḥa hợp như đă tŕnh bày. Đạo không thể cô âm hay độc
dương. Đạo là một nguyên lư có tính hai mà một. Đạo là
lưỡng-nhất-tính. Đạo chính là Thái Cực bao dung Âm
Dương. Kinh Dịch c̣n nói đến luật “Ba dương hai âm”
(Tham thiên lưỡng địa nhi ỷ số, thuyết quái) nghĩa là tỷ
lệ dương âm là 3/2. Khoa học cũng chứng minh chân lư
này.
Kế chi giả, Thiện dă
Thánh Hiền xưa c̣n nhắc ta ư nghĩa triết lư của chữ
Thiện. Thiện là Nguyên Lư Âm Dương, phần tiên thiên chưa
h́nh thành của vạn vật, là bước trong lành ban sơ của
tạo vật.
Thành chi giả, Tính dă
Câu này sẽ được hiểu như sự tựu thành Lư Âm Dương
chính là bản thể của con người, vạn vật. Âm Dương vận
hành trong sáng, thiện lành dưỡng nuôi vạn vật. Con
người không chỉ nhận thức Âm Dương như một thực thể
khách quan của vũ trụ ngoại giới. Âm Dương là thể tính
của vạn vật, trong đó con người. Con người nhận thức
tính thể Âm Dương của ḿnh. Con người khi ư thức về kết
hợp tựu thành Âm Dương trong ḿnh, đó là ư thức được
Đạo. Âm Dương không là một chân lư thuộc ngoại giới. Âm
Dương là bản thể sinh và dưỡng của vạn vật. Do đó, khi
con người hiểu thấu cái Tính của ḿnh, con người tức
khắc Hoà được với cái chiều kích bao la của tạo vật, con
người mới cảm thấy ta ở trong ḷng vũ trụ.
Hay tâm ta là tâm vũ trụ, mà tâm vũ trụ cũng là tâm ta.
Đức Ḥa này cũng được quảng diễn nơi Đạo Đức Kinh của
Lăo Tử: “Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam
sinh vạn vật, vạn vật phụ âm nhi băo dương. Xung khí dĩ
vi Ḥa”(2)
(Chương 42 - Đạo sinh ra Một, Một sinh ra Hai. Hai
sinh ra Ba. Ba sinh ra vạn vật. Vạn vật cơng Âm mà bồng
Dương. Mâu thuẫn Âm Dương đó là Ḥa). Như vậy, con người
chính là một Liên Kết, Tương Quan, Giao Hoà giữa hai
chiều đối nghịch, là sự Thành của Âm Dương, và đó cũng
là ư nghĩa của chữ Tính.
Ngoài ra, sự tương quan giữa Âm Dương c̣n có tính
chất nội tại. Không có Âm và Dương xét như thuần Âm hay
thuần Dương. Trong Âm đă có hàm tàng Dương, và trong
Dương đă có tiềm ẩn Âm. (Âm trung hữu dương căn, dương
trung hữu Âm căn). Theo luật này, khi Âm phái triển cùng
cực, sẽ biến thành Dương, v́ nó đă có sẵn mầm dương ở
trong. Với Dương, cũng vậy. Khi Dương đến cực thịnh, lại
biến thành Âm. Trên thực tế, ta thấy, mặt trời đứng bóng
là cực cao, sẽ từ từ xế bóng. Mặt trăng đến độ tṛn đầy,
rồi chuyển sang từ từ khuyết. Trong đời sống, bất cứ
hiện tượng ǵ, cá nhân, đoàn thể, xă hội nào hễ phát
triển cực thịnh rồi cũng sẽ đi đến suy tàn, rồi từ những
đổ nát, sự kiến tạo tốt đẹp hơn lại khai sinh. Cứ như
thế, trong Âm và Dương đều có bản chất của nhau cho vạn
vật biến hóa muôn màu muôn vẻ. Khoa học đă chứng minh
luật “âm trung hữu dương căn” với sự khám phá ra hạt
méson. (1)
Như vậy Âm Dương là nguyên lư tối cao của vạn vật.
Âm Dương có tính mâu thuẫn nhưng không hủy diệt. Âm
Dương có tính tương quan, tác động, chuyển hóa lẫn nhau,
Âm Dương tương quan trong tính biến dịch và thâu hóa nơi
vạn vật vũ trụ. Nho gọi là Thiên, là Đạo, là Tính. Cũng
nằm trong chữ Thành ở đợt thể. Âm Dương là Đạo hai chiều
kích. Đạo Âm Dương nói chung là phạm trù có tính
lưỡng-nhất, kết quả t́m được là một Chân Lư Ḥa nơi tất
cả những ǵ xem như đối lập: Ḥa t́nh với lư, ḥa ư thức
với tiềm thức, ḥa cá nhân với xă hội, ḥa tâm với vật,
ḥa hữu hạn với vô biên... nên Âm Dương chính là Thái
Ḥa.
Biện chứng Hégel cũng có hai hạn từ đối lập là
chính đề và phản đề, nhưng tổng đề của Hégel là tổng đề
triệt tiêu hai hạn từ trên. Do đó tổng đề của Hégel là
tổng đề giả hiệu, hời hợt, mang tính hủy diệt. Duy vật
sử quan của Karl-Marx là con đẻ của tổng đề hủy diệt của
Hégel. Duy vật sử quan có tính hủy, tính ác, tính duy
của triết học một chiều Tây phương. Âm Dương cũng là hai
hạn từ kiểu biện chứng nhưng tổng đề Âm Dương là một
tổng đề thứ thật, chân thực, toàn diện, có tầm mức vũ
trụ, vạn vật. Hơn nữa, Âm Dương là hai hạn từ bao quát
được các nền tảng của vũ trụ với tổng đề Thái Ḥa làm
đạo diễn cho cuộc nhân sinh. Tổng đề của Hégel chỉ đưa
đến trừu tượng tinh thần. Tổng đề duy vật sử quan là
tổng đề tiêu diệt đối nghịch của vật bản, là cuộc cánh
mạng lẩn quẩn trong chiều kinh tế vật chất, là những rên
xiết của kiếp người trong cùm kẹp của sự hủy diệt. Đặt
nền tảng giá trị con người trên sinh hoạt kinh tế, có
nghĩa là đặt giá trị Âm tính trên cuộc vận động của kiếp
người. Đặt nặng chiều Âm nặng nề của vật thể là mất sức
sống Âm Dương hai chiều mầu nhiệm của con người. Hạ tầng
kinh tế chỉ huy thượng tầng văn hóa là Âm chỉ huy Dương.
Điều này nghịch với “Nhất Âm Nhất Dương Chi Vị Đạo”. Âm
Dương Đồng xuất lộ nơi bản tính. Âm Dương Đồng Sinh nơi
bản tính. Âm Dương Đồng Thành nơi bản tính. Đó là luật
hai chiều Âm Dương. Đó là luật Ḥa của Âm Dương. Tóm
lại, tính nền tảng của Âm Dương là Ḥa. Tính nền tảng
của duy vật sử quan là Hủy. Nhận thức Âm Dương Ḥa của
Việt Nho là ư thức một thế giới quan bao la đại đồng,
một nhân sinh quan tự do, nhân bản, đạo đức chân thực.
Là giác ngộ Nhân Chủ Tính ở đợt cao cấp, giải phóng con
người khỏi những gọng kềm nô lệ Duy Âm (vật bản) cũng
như Duy Dương (thần linh).
( Chú thích:)
Hideki Yukawa, nhà bác học Nhật (giải thưởng Nobel 1949)
đă giải thích tại sao chùm dương dính vào nhau, v́ lẽ ra
dương cùng dương sẽ không hút nhau mà phải xô đẩy ra.
Ông khám phá ra loại hột mới gọi là méson. Méson có thể
thuộc dương tính hoặc âm tính hoặc trung lập tính. Cho
nên sở dĩ dương và dương hợp được với nhau v́ là trong
dương có âm (thiếu âm) gọi là méson-âm.
Cơ
Cấu Tam Tài
Triết lư Tam Tài của Việt Nho là ba hoạt lực trong sự
tương quan, hợp tác, chuyển biến lẫn nhau. Tài thứ nhất
là Thiên, tài thứ ba là Địa và tài thứ hai là Nhân.
Thiên và Địa là hai đối cực mà tài Nhân là nơi giao ḥa,
hội thông của hai tài Thiên và Địa, Nhân ở đây có tính
chất trừu tượng, tiêu biểu. Thiên và Địa là những cặp
đôi mâu thuẫn của bản tính vũ trụ, vạn vật, con người.
Thiên có thể là vô biên, đối lập với Địa là hữu hạn.
Thiên là tiềm thức âm u đối với Địa là ư thức rơ rệt.
Thiên là lư trí cứng rắn, đối lập với Địa là t́nh cảm
mềm yếu. Thiên là ḷng vị tha đối lập với Địa là ḷng vị
kỷ. Thiên cũng có thể là tâm linh đối lập với Địa là vật
thể... Hai đối cực Thiên Địa làm nên Tính Bản Nhiên của
con người. V́, con người là Tính Thể Hai Chiều, là nơi
hợp nhất của hai đối cực, là điểm liên hợp sống động của
Thiên và Địa. Nhân, do đó là tác động Giao, Hội, Hợp,
Tương, Liên, Ḥa, Thành của hai hoạt lực Thiên Địa. Tác
động ấy là Tính, là Mệnh, là Gốc, là Thiện của Người.
Chúng ta mới bàn đến Tính của con người, có nghĩa
là mẫu dạng của cái tính chung, cái tính đại đồng, cái
Nhân tính phổ quát của con người. Đó là thứ Nhân tính
chưa đi vào thời gian và không gian nhỏ bé, chưa thành
những cá tính riêng tư, chưa đi vào cái tiểu ngă dị biệt
ở đợt hiện tượng. Chúng ta có thể gọi tài Nhân ở đây là
Nhân tính đại đồng, Tính ở đây là Tính bản nhiên đại
ngă. Theo cách tŕnh bày như thế, ta hiểu tam tài là ư
thức về Nhân tính ở đợt căn cơ, ở tầm mức phổ biến vũ
trụ. Hay nói cách khác, người là một Ḥa Điệu của Trời
Đất, có một địa vị ngang hàng, hóa giải những mâu thuẫn
của trời đất, giữ một địa vị quan trọng để trời đất được
lưu thông, chuyển biến. Nhờ sự lưu chuyển những Tính
của Thiên và Địa, mà cả ba được linh động, trường tồn.
Việt Nho gọi là Sinh Sinh.
Sinh Sinh là Thiên Địa Nhân Ḥa. Tới đây ta hiểu
được cái uyên nguyên sâu xa của sự trường tồn là tính
Ḥa của Nhân, chỉ có đạt được bản tính Ḥa của sự sống
đời đời ấy con ngừơi bé nhỏ của mỗi cá nhân chúng ta mới
tham dự được vào ḍng sống muôn đời của Thiên Địa. Khi
đạt được giao cảm, giao ḥa, tương quan, liên hợp được
với Thiên và Địa, con người mới thực sự là một phần tử
của cơ thể vũ trụ, con người mới cảm nhận được những
chiều kích bao la trong đời, con người mới cảm thấy có
nguồn sống mănh liệt nơi đáy thẳm tâm hồn. Đời sống sẽ
cảm thấy nhẹ nhàng hơn những âu lo vật thể, những bon
chen nhỏ bé, những t́nh cảm chật hẹp. Tâm tư như mở
rộng đến những chân trời của Tính Thể Vô Biên, niềm
B́nh An thâm sâu nơi đáy ḷng,
là Ánh Sáng và
Âm Thanh của Đạo.
Việt Nho biểu thị Tam Tài qua dạng chữ Vương như sau:
Ba vạch ngang là ba tài: Thiên-Địa-Nhân
(Trời-Đất-Người). Một vạch ở giữa nối cả ba vạch, để
quán thông thiên địa, là chữ Vương. Vương ở đây có nghĩa
là sự hoàn thiện, là giao cảm với trời đất, là siêu việt
lên như trời đất. Chữ Vương là biểu hiệu của Nhân tính
đại đồng, bản thể của con người. Con người là vua trong
trời đất, con người là tâm linh của vạn vật, con người
là cái Tâm của Thiên Địa, là cái Linh của Đất Trời. Ta
hăy xem bài thơ Nhân Chủ qua bài vịnh Tam Tài của Trần
Cao Vân:
Trời Đất sinh Ta có ư không
Chưa sinh Trời Đất có Ta trong
Ta cùng Trời Đất ba ngôi sánh
Trời Đất in ta một chữ Đồng
Đất nứt, Ta ra, Trời chuyển động
Ta thay Trời mở Đất mênh mông
Trời che, Đất chở, Ta thong thả
Trời - Đất - Ta đây đủ hóa công.
Cơ Cấu Ngũ Hành
Ngũ Hành là một phạm trù triết học, là khung căn
bản của minh triết Việt Nho. Bản văn cổ đại nhất nằm
trong Kinh Thư ở thiên Nghiêu-Điển và thiên Hồng Phạm.
Kinh Thư san định thời Khổng Tử, nhưng hai thiên
Nghiêu-Điển và Hồng Phạm đă có từ lâu đời.
Bản văn Ngũ Hành chia làm 3 triệt. Triệt nhất, nói
về thứ tự các hành. Gồm có kim, mộc, thủy, hoả, thổ.
Triệt hai nói về tính chất của mỗi hành. Triệt ba nói về
ngũ vị, sự ứng dụng nơi mùi vị: hàm, khổ, toan, tân, cam
(mặn, đắng, chua, cay, ngọt). Triệt hai quan trọng nhất
v́ nói về cái thể, cái tính chất của mỗi hành.
Triết Tây phương theo Aristote , th́ vạn vật tạo
thành bởi 4 tố chất đất, nước, khí, lửa khác nhau, tuy
biệt cách, biến động nhưng đồng thời 4 tố chất kia lại
nằm trong khí éther bất biến, nên sự vật vẫn có tính
chất liên tục. Nhưng éther ở cùng một b́nh diện hiện
tượng như bốn tố chất kia, nó không có tính nối kết
những cá thể riêng rẽ, nó cũng là một tính chất cá
biệt, phân ly như bốn tố chất kia. Thành ra, tuy cùng
nói về các tố chất khách quan, nhưng Ngũ Hành của Việt
Nho mang một ư nghĩa triết lư hoàn toàn khác biệt với tứ
tố vật lư của Aristote.
Thiên Hồng Phạm nói:
“ Nước thấm xuống.
Lửa bốc lên.
Mộc uốn khúc để chính trực.
Kim vâng theo để biến cải.
Thổ ở chỗ gieo gặt”.
(Thủy viết nhuận hạ. Hoả viết viêm thượng. Mộc viết
khúc trực. Kim viết ṭng cách. Thổ viên giá sắc).(3)

Hành ở đây không hiểu theo lối tố chất cụ thể như thủy
là nước, hỏa là lửa, thổ là đất. Hành ở đây phải được
hiểu như là yếu tính, là vận hành, là tác động, là hoạt
lực. Như thế theo cái hiểu bằng động từ, hành là một lộ
tŕnh của những yếu tính.
Những yếu tính này, kỳ diệu thay, dung chứa những
nguyên lư muôn đời của cặp đôi, từng cặp đôi mâu thuẫn
mà ḥa hợp. Yếu tính của nước là thấm xuống, th́ đối lập
với yếu tính của hỏa là vươn lên. C̣n yếu tính của Mộc
mang tính cặp đôi “uốn khúc”, “chính trực” th́ lại đối
lập với cặp đôi yếu tính của kim là “vâng theo”, “biến
đổi”. Rồi chính trong tự thân yếu tính của Mộc là “khúc”
cũng đối đăi với “trực”. Uốn khúc để mà chính trực. Hai
tác động đối đăi cao độ ở hành mộc cũng phản ánh nơi
hành kim, đó là “ṭng” để mà “cách”. Đây là cặp tính thể
nhất nguyên lưỡng cực qua yếu tính của Mộc và Kim trong
ngũ hành. Thế là từ hành thủy và hành hỏa ta thấy yếu
tính tương phản đi với nhau trong cặp đối lập đơn thủy -
hỏa. Rồi đến hành Mộc và Kim th́ từ trong mỗi hành đă có
cặp tính đối đăi và là cặp đối lập kép Kim-Mộc. Rồi đến
hành Thổ, không có đối lập, nó là một hành đặc biệt
không có chỗ ở tứ phương, không có cả yếu tính như 4
hành kia, nhưng chính trong sự hàm tàng, chứa đựng “Gieo
- Gặt” thể hiện tác động đối đăi đặc trưng nhất. Thổ ở
vị trí trung cung, nên cái cặp đôi uyên nguyên càng linh
động, sâu sắc, nền tảng như cặp động từ “gieo-gặt”. V́
vậy Thổ gieo gặt tuy có một ḿnh nhưng lại là hồn thiêng
của tất cả, là cơi hội thông của các cặp đối lập, là mối
tương quan của những nghịch chiều. Thổ v́ vậy có đức
tṛn đầy viên dung của Đạo Thể. Chân lư tối thượng phải
tṛn, chỉ h́nh tṛn mới bao dung được tất cả các phần tử
hạn cục. Thánh Hiền dùng chữ “Viên” để chỉ rơ đức của
thổ. Thổ viên giá săc.
Để quảng diễn cho ư nghĩa này, ta hăy xem giá trị
của linh đức Thổ “Tri chu hồ vạn vật, nhi đạo tế thiên
hạ cố bất quá. Bàng hành nhi bất lưu. Lạc thiên tri mệnh
cố bất ưu. An thổ đôn hồ nhân cố năng ái”. Câu này có
nghĩa là “ Biết được cái Đạo thể tṛn đầy của vạn vật,
nên gây được An Ḥa cho khắp cơi, v́ vậy không đi quá.
Hoạt động ở ṿng ngoài mà không trôi theo lưu tục. Thấu
hiểu mệnh trời nên không ưu sầu. B́nh An nơi Thổ Tâm
linh huyền nhiệm nên có thể yêu thương bằng tấm ḷng
chân thực” (4). (Kinh Dịch, Hệ từ 4)
Tri chu hồ vạn vật
Biết vạn vật tới mức tṛn đầy, hay biết cái tṛn
đầy của vạn vật, hay cái hiểu biết toàn thể, về chân lư
toàn diện. Đó là Tri chu. Hay nói cách khác, tri chu
chính là trí tri, cái biết đến tận cùng. Như triệt
thượng và triệt hạ. Tri đến triệt thượng là biết đến tận
cùng cái tính lư của vạn vật. Triệt hạ là biết đến tận
cùng cái bước ung dung của tính lư trên sự việc. Biết
đến đợt trí tri là biết cả ṿng trong tâm linh lẫn ṿng
ngoài hiện tượng của vạn vật. Triết giả, triệt dă, nằm
trong ư nghĩa chu tri, có nghĩa là triết là cái biết
triệt để, cùng cực trong sự hợp nội ngoại để thành đạo,
thành con đường đi, thành hướng tiến hóa.
Qua câu quảng diễn này về ư nghĩa của hành Thổ
trong Ngũ Hành, ta thấy đường về hành Thổ khởi đầu từ
Chu Tri. Tri là sự hiểu biết, ở đây là chu tri, có nghĩa
là sự hiểu biết của cái tri thức trọn vẹn, tṛn đầy như
chân lư. Có thể gọi chu tri là trí tuệ, là cái biết về
Đạo lư của cả tử lẫn sinh. Của cả thường hằng bất biến
lẫn thường nghiệm biến dịch. Chu tri là trong biến dịch
cảm lẽ bất dịch. Trong động nắm vững tịnh. Chu tri là
trong bất an động loạn biết giữ b́nh an thanh tịnh. Chu
tri là Trí tuệ của cả vô biên lẫn hữu hạn. Chu tri là
cái biết vươn lên tới đợt Tâm. Là cái biết vượt bé nhỏ
giới hạn để bay bổng về ṿm trời linh thiêng của Đạo
thể. Chu tri là Huệ Tri.
Duy tâm hay duy vật là cái biết chưa đến độ tṛn,
đến chân lư tṛn đầy viên măn. Đó là cái biết phần mớ,
mảnh vụn, hạn cục, khiếm khuyết. Những loại tri như vậy
chưa phải là cái tri của người cầu t́m chân tri. V́, như
đă tŕnh bày, chân tri phải có t́nh tṛn đầy và dung hợp
- Đạo Thể Viên Dung.
Đạo Tế Thiên Hạ, Cố Bất
Quá
Đối đăi thiên hạ từ cái chu tri cho nên không đi
quá, có nghĩa là không sa vào cực đoan, bất cập, thái
quá, một chiều. Chỉ có chu tri mới đạt được đạo B́nh
Quân của trời đất trong việc tiếp nhân xử thế trên đời.
Chu tri là biết, nhưng biết để thực hành nơi cơi nhân
sinh, nên từ tâm thức chu tri, người trí thức Việt Nho
hành đạo th́ cuộc sống sẽ không đi vào tệ hại của căn
bệnh “duy” một chiều kích mà thường cá nhân hay xă hội,
các lư thuyết thường mắc phải. Duy là chỉ có thế này mà
không có ngược lại, là cô độc, lẻ loi giữa bầu trời của
trí tuệ tṛn đầy, là tiêu diệt đối lập, là không truy
nhận giá trị của đối kháng, là hủy thể, là diệt, là lạc
vào cơi giới hạn, là con đường của tử vong. Các chủ
thuyết duy giai cấp, duy dân tộc, duy thực nghiệm, duy
thần linh, hay bất cứ khái niệm duy ǵ ǵ đi nữa chỉ là
cái ư thức đưa đến sự mất b́nh quân, mà đáng lẽ phải đi
vào sự “ bất quá”.
Chu Tri là mới nói đến cái tri thức, dù là tri thức
tṛn đầy, viên măn hai chiều của Đạo thể Viên Dung.
Nhưng với Việt Nho, biết không để mà biết, biết không là
ṿm sao trên trời vô dụng. Người Trí mang trời xuống
cùng đất. Với Đạo học Việt Nho, tri hành hợp nhất, nên
cái tri thức sẽ được mang ra áp dụng nơi nhân quần xă
hội, chu tri đưa đến một cuộc sống tiếp nhân xử thế
chừng mực, không bất cập hay là thái quá. Có thể nói,
chu tri đưa đến nền tảng B́nh Quân trên mọi sinh hoạt xă
hội.
Bàng Hành Nhi Bất Lưu
Hoạt động ṿng ngoài mà không trôi theo lưu tục.
Hoạt động ṿng ngoài là tất cả các h́nh thái sinh hoạt
của cuộc sống cá nhân, gia đ́nh và xă hội. Đây là lộ
tŕnh hướng ngoại của chu tri, con người cứ đi, đi măi
trở ra ngoài cái bản thể, cái trí tuệ của ḿnh. Như tác
động “gieo-gặt” của thổ, con người cứ đi gieo rồi gặt
hái mang về cái hạt mầm nhỏ bé của một kiếp nhân sinh.
Đi rồi cứ lăn măi vào cuộc tử sinh, vào cơi động loạn,
vào cảnh giới của phân biệt, đa đoan, trá ngụy, ưu sầu,
một cơi mê, một cảnh lầm. Nhưng làm sao bước chân ra
khỏi sa lầy của cuộc tranh đua cơi tử sinh, của hệ lụy
trần gian? Th́ đây, Việt Nho đă có ch́a khóa hóa giải
bằng cái chu tri của đạo. Biết được cái vô cùng bao la
rồi nên sẽ có đường trở về, đi ra ngoài, nhưng vẫn c̣n
đạo nội ǵn giữ tấm ḷng son. Son mài được nhưng vẫn c̣n
sắc đỏ. Trí hiểu đến suối nguồn Minh Triết Siêu Việt
rồi. chốn trần gian thô cạn không thể lấp lối t́m về.
Đời sẽ không trôi đi đi măi. Đời sẽ không cuốn xa xa
măi. Đi sẽ không đi xa măi. Chu Tri là đến cơi Đạo Thể
Viên Dung, là vào quỹ đạo của ṿng tṛn không kết thúc
cũng như khởi đầu, cứ đi đi măi nhưng không lạc, cứ trở
ra đi nhưng đi xa mà cũng là trở về. Đạo tṛn, tṛn xoe.
Đi đâu mà lạc? Bàng hành nhi bất lưu.
Lạc Thiên Tri Mệnh Cố Bất
Ưu
Niềm rung cảm sâu xa với đạo trời gọi là Lạc Thiên.
Chu tri là biết Thiên. Tri Mệnh cũng là biết cái bao la
của Thiên trong cái tôi nhỏ bé. Mệnh là trong tiểu ngă
này ta biết được đường vận hành cùng đại ngă. Cái ta nhỏ
bé ḥa cùng cái Ta bao la, cái tiểu thiên địa này hội
nhập cùng cuộc đại diễn hành của Đạo. Đời không là cuộc
hành hương về Nhất thể bao la, linh thiêng, huyền nhiệm
sao? Niềm An vui của tâm hồn trong cảnh giới của chân
tri mà cũng là chu tri, niềm An vui thênh thang vỡ bờ
tạo vật để sang bờ Tính Thể Tâm Linh, đó là “lạc thiên”.
Trí liễu hiểu lộ tŕnh gieo gặt của thổ tâm linh là “tri
mệnh”. Cho nên ưu sầu nào lẩn quẩn được bên bước chân
Trí giả Việt Nho. Đạo đâu c̣n để cho người sầu bi. Lạc
đến sau chu tri. Chu tri là đường đi đến Lạc. Lạc ở đây
sẽ là cái vui của đạo. Lạc đạo nên vui cách thâm trầm,
diệu huyền, thanh nhẹ. Chu tri rồi sẽ Lạc Đạo. Lạc Đạo
là An Lạc nơi mệnh trời. Cho nên người trí Việt Nho tu
thân, trước tiên là tu Đức Trí. Bảo chứng đầu tiên của
đạo tu thân là chính ḷng người trí thức Việt Nho: Tâm
hồn An Vui, Thường Tịnh. Trí giả Việt Nho sau khi tung
ra đời theo ṿng ngoài của Đạo, nếu để ḷng đă vấn vương
ưu sầu, là chưa biết cái vui của đạo, là chưa thấu hiểu
cái tính mệnh của ḿnh, là chưa lấy Tâm trùm cảnh, là
chưa tu thân, trau giồi Đức Tri tới độ Chu Tri. Đường tu
dưỡng nội tâm tới độ trí tri, chu tri có thể kiểm chứng
nơi sự thanh b́nh của đáy ḷng. Người Việt Nho mang tâm
thân ḿnh cảm nghiệm đạo nhiệm mầu. Lạc Thiên Tri Mệnh
cố bất ưu.
An Thổ
Thổ bây giờ ta đă hiểu rồi, đó không phải là tố
chất đất như cái hiểu thường nghiệm của vật chất. Thổ ở
tại gieo gặt. Thổ là đức của Tâm, có tính dưỡng nuôi
của Đạo. Đi ra là gieo, và đi vào th́ gặt. Kiếp người
là ǵ, có phải chính là tác động gieo gặt của thổ. Sinh
ra, lớn lên, lăn xả vào cuộc vật thể của cơi nhân sinh
đó là động tác gieo. Rồi được những ǵ sau bao đấu tranh
và ngụp lặn trong cái thú đau thương và hạnh phúc của
cuộc tử sinh, đó là gặt. Ai cũng gieo gặt. Nhưng ai cũng
gieo cái mầm hạt và gặt cái trái quả của chính ḿnh. Đó
là tác động gieo gặt của cá thể. Nhưng c̣n cuộc gieo lớn
lao của cơi tính thể bao la vượt qua cái tôi bé nhỏ, cái
đại cuộc gặt của mùa gieo gặt của Tâm Thổ tâm linh. Nơi
đó có cái gieo của Chu Tri, có cái gặt của mùa An vui
mênh mang của tấm ḷng vũ trụ. Mùa Gieo Gặt, mùa Vui với
Đạo Trời, Mùa An Lạc đó sẽ đến khi con người biết gieo
gặt nơi hành thổ của Tâm linh trong cơi ḷng ḿnh. An
thổ, theo Việt Nho, là tu thân bằng cách
Qui Tâm.
Đôn Hồ Nhân
Chân đạo Việt Nho nhiệm mầu cũng c̣n để nuôi dưỡng
Đức Nhân của ḷng người. Người Việt Nho tu đức Trí cho
đạt tới độ tṛn đầy th́ ḷng nhân ái càng bao la. T́nh
yêu người hạn hẹp, phe đảng, giai cấp, đoàn lũ xuất phát
từ trí hiểu phân chia, cục bộ, lẩn quẩn. Ḷng nhân trong
trí hiểu c̣n thấp kém, chật hẹp, giới hạn chưa được nuôi
dưỡng và phát triển đúng mức sẽ chỉ sinh ra những căn
bệnh của căm thù và đau thương. Cho nên, chỉ có đạt Chu
Tri mới nuôi dưỡng, hun đúc được Đức Nhân một cách toàn
hảo nhất: Trí Tuệ chỉ phục vụ Yêu Thương th́ mới nuôi
dưỡng được yêu thương. Trí tuệ phục vụ bất kỳ một sự
ghét bỏ, kỳ thị, căm thù nào chỉ hủy diệt mầm hạt yêu
thương, linh lực sống đời của nhân loại.
Cố Năng Ái
Đức Nhân là thể thường hằng của Đạo. Biểu tỏ của
Đức Nhân là cái dụng của đạo, là Yêu Thương. Người trí
Việt Nho khi tu thân, hun đúc đức nhân, cũng là để hành
xử trong cuộc sinh hoạt ṿng ngoài của đạo. Tấm ḷng yêu
thương vô biên và chân thực chỉ có thể có nơi những tâm
hồn bao la, đức nhân đă được trưởng dưỡng từ giác ngộ
một trí hiểu cũng bao la như trời đất.
Ư Nghĩa Cơ Cấu Ngũ Hành
Tóm lại, qua Cơ Cấu Ngũ Hành, thánh nhân Việt Nho đă để
lại một bài học cô đọng về bước Tu Thân cả ṿng trong
tâm linh lẫn ṿng ngoài hiện tượng. Bảo chứng của tŕnh
độ tu dưỡng nội tâm là đạt đến
AN nơi Tâm linh và H̉A
nơi t́nh yêu thương chân thực. Có nghĩa là khi đạt nội
tỉnh An th́ mới có ngoại giới Ḥa. Có đạt tới cái Chu
Tri th́ mới có An, Tịnh trong ḷng. Ḷng có An, có Tịnh
th́ mới sắp đặt mọi việc bên ngoài sao cho hợp đạo, tự
nhiên gây được cảnh thái ḥa. Cảnh giới thái ḥa sẽ tự
nhiên mang đến sự chừng mực, b́nh quân cho tất cả. Do
đó, đă hiểu được Đạo Thể Viên Dung, dù có hoạt động ṿng
ngoài của đời sống cách nào đi nữa, nhưng Trí giả Việt
Nho không bị cuốn trôi theo lưu tục. Như Tâm vẫn hằng An
vui trong mọi cảnh sắc ở đời. Lưu hành trong chốn động
loạn nhưng Tâm người hiểu Đạo vẫn Tịnh An. Và, chỉ có
dừng lại nơi thổ tâm linh, dừng chân nơi chốn quê hương
b́nh an thâm sâu của tâm hồn, th́ từ đó mới có thể có
tấm ḷng yêu thương chân thật.
Thật thế, ta không thể yêu người bằng lư trí suông,
từ nội tâm động loạn, bất an, nghiêng lệch. Ta không thể
yêu người khi chưa hiểu biết về tính thể trọn vẹn của
người. Chưa nắm vững chân lư An Thổ th́ làm sao có khả
năng yêu thương tha nhân bao la và chân thật. Triết lư
Ngũ Hành định hướng cho ta một lộ tŕnh đi t́m hành thổ
tâm linh, mảnh đất thiêng của quê hương tinh thần, để
nội tâm được Tịnh An, Trí Tuệ thông suốt, để dưỡng nuôi
t́nh người chân thực. Triết lư Ngũ Hành nhắc ta con
đường của Trí Tuệ để phục vụ đức Nhân. Hay nói cách
khác, theo triết lư Ngũ Hành, Trí tuệ là nguồn mạch cho
t́nh yêu người cụ thể và thiết thực. Trí tuệ ở đây là sự
liễu hiểu đạo lư hai chiều bổ túc, tương quan, ḥa hợp
trong vũ trụ, đời sống, cụ thể như yếu tính tiêu biểu
của các tố chất làm biểu tượng.
Ta thấy triết lư Việt Nho không dùng những ư niệm
xa thực tế, thuần lư trí. Đơn giản, rơ rệt như các tố
chất kim, mộc, thủy, hỏa, thổ mà bất cứ người nào cũng
có thể quan sát được, Minh Triết An Vi từ những biểu
tượng ngũ hành mà khai mở chân lư nền tảng của nhân
sinh. Những yếu tính của Kim và Mộc là những bài học
ṿng ngoài của bước lưu hành thế tục. Có lúc phải như
mộc, uốn khúc để rồi chính trực. Có lúc như kim, vâng
theo để mà biến cải. Những nguyên tắc này là nguyên tắc
của sự linh động trong thực tế, của sự chấp nhận đi từ
những bất lợi, trắc trở, bất như ư từ những hoàn cảnh
riêng tư của cá nhân, xă hội, để rồi từ đó mà biến đổi,
đưa về chính trực. Hiện thực triết lư ngũ hành là phải
rèn luyện cái yếu tính của kim, của mộc trong sinh hoạt
hiện tượng, nhưng không để sự uyển chuyển và tùy thời mà
trôi luôn theo ngoại cảnh, mất cả Đạo Tâm. Cho nên Hiền
Triết Việt Nho phải nhủ ḷng “Bàng hành nhi bất lưu”.
Hoạt động ṿng ngoài nhưng không trôi theo lưu tục, luôn
An Nhiên Tự Tại nơi hành Thổ tâm linh. Đó cũng cùng ư
nghĩa của đoá hoa sen tinh khiết. Do đó, với Tâm trùm
cảnh, ḷng người là đóa sen trong sạch An vui thường
tịnh, lan tỏa nguồn yêu thương chân thực. Chu tri và An
Tịnh là một bảo chứng cho ḷng chân thực của đức yêu
người. Hay nói cách khác, đạo đức tu thân phải là đầu
mối của yêu thương, là cội nguồn của mọi sinh hoạt xă
hội. Tu thân là tĩnh tâm cho an định, vững vàng trong sự
đoạn trừ vô minh của bất cứ tư tưởng, ư niệm một chiều,
quá khích nào làm mất đạo B́nh Quân tự nhiên của trời
đất.
Thế giới hiện nay đang bị sâu xé v́ những ư hệ đủ
loại, kiếp người bị vật thể hóa v́ đời sống nặng nề cùm
kẹp của vật chất, t́nh yêu thương bị héo ṃn theo. Triết
Lư Ngũ Hành, cơ cấu siêu việt của Đạo Thể Viên Dung, là
thực phẩm tài bồi cho đất Tâm linh khô cằn, là lộ tŕnh
tu thân về hành thổ Tâm Linh -
Ḿền Quê Hương B́nh An của Mỗi
Tâm Hồn.
Đông Lan
|