|
Các công
tŕnh văn học quốc ngữ
miền Nam
Huỳnh Ái Tông
Tiết 1: Đại Cương
Tiết 2: Báo Chí
Tiết 3: Thơ
Tiết 4 : Truyện Tàu
Tiết 5: Tiểu Thuyết
Tiết 6: Thơ Mới
Tiết 1: Đại
Cương
Ở chương trước, chúng ta biết chữ quốc ngữ h́nh thành khởi
đi từ các nhà truyền giáo Đàng Trong cũng như Đàng Ngoài,
rồi lần lượt chữ quốc ngữ được phổ biến trong giới Thiên
chúa giáo, chữ quốc ngữ thời ấy là phương tiện truyền giáo.
Cho đến khi Pháp đặt chân lên miền Nam, th́ chữ quốc ngữ
được dùng làm phương tiện đô hộ dân Việt Nam ta.
Từ đó chữ quốc ngữ có cơ hội tiến triển mạnh mẻ, được phổ
biến, truyền bá đến quảng đại quần chúng. Các nhà văn tiền
bối như Trương Vĩnh Kư, Húnh Tịnh Của, Trương Minh Kư đă
dịch các tác phẩm Nho giáo, soạn tự vị, in các tác phẩm văn
chương Việt Nam, truyện đời xưa, nhằm mục đích truyền bá tư
tưởng Khổng Mạnh, phổ biến văn chương Việt Nam và chữ quốc
ngữ.
Trước hết là Báo Chí, khởi đầu là tờ Gia Định Báo ra ngày
15-4-1865, kế đó là Phan Yên Báo ra năm 1868, Nông Cổ Mín
Đàm 1901... Sau đó đến thời kỳ thơ như Lục Vân Tiên của
Nguyễn Đ́nh Chiểu do Trương Vĩnh Kư phiên âm ra quốc ngữ năm
1880, sau đó là dịch truyện Tàu vào khoảng năm 1904, c̣n
quyển tiểu thuyết được viết đầu tiên in năm 1887, là quyển
Thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản, rồi quyển Hoàng Tố
Oanh Hàm Oan của Trần Chánh Chiếu ra đời năm 1910, nó mới
nhen nhúm gây thành phong trào viết tiểu thuyết sau nầy. Các
giai đoạn ấy đă tạo thành trào lưu văn học quốc ngữ, nó có
sắc thái và truyền thống đặc biệt mang cá tính của người
miền Nam.
Chúng ta đi sâu vào chi tiết ở phần sau, tưởng cũng cần nhắc
lại chữ quốc ngữ ở miền Bắc được chính thức sử dụng từ năm
1913, sau khi miền Nam đă chính thức sử dụng chữ quốc ngữ
trên 20 năm và đă gần nửa thế kỷ truyền bá chữ quốc ngữ.
Tiết 2: Báo
Chí
A. Gia Định Báo
Là tờ báo do nhà cầm quyền Pháp chủ trương. Số 1 ra ngày
15-4-1865, do Ernset Potteaux làm Chánh Tổng Tài. Chức vụ
nầy có lẽ bao gồm Chủ Nhiệm, Chủ Bút và luôn cả Quản Lư (1).
Từ năm 1869-1872, Trương Vĩnh Kư được cử làm Chánh Tổng Tài.
Từ năm 1872, do J. Bonet làm Chánh Tổng Tài, có lẽ tờ báo
đ́nh bản vào năm 1909 (2)
Tờ báo nầy trước tiên mỗi tháng phát hành một số ra vào ngày
15 mỗi tháng, khoảng năm 1870 th́ cứ mỗi tháng ra 3 số, về
sau cứ mỗi tuần ra 1 số.
Mỗi số báo có 4 trang. Về nội dung, trước tiên chỉ có hai
phần: Phần công vụ và phần tạp vụ.
- Phần công vụ: Dụ, nghị định, chỉ thị, thông tư, biên bản
Hội Đồng Quản Hạt (3)...
- Phần Tạp vụ: Lời rao, tin tức, trả lời cho các đương đơn,
án Hội Đồng xét lại ...
Đơn cử nghị định ngày 16-9-1869 của Thống Soái Nam Kỳ G.
Ohier, đăng trên Gia Định Báo (4) :
"...Kể từ ngày hôm nay, việc biên-tập tờ báo An-nam Gia Định
Báo được giao cho ông Pétrus Trương-Vĩnh-Kư với tư cách
Chánh-tổng-tài tờ báo nầy, ông sẽ lănh một bổng-cấp hàng năm
3.000 phật-lăng (5).
Tờ báo tiếp-tục ra hàng tuần. Nó chia làm hai phần, phần
công-vụ gồm các văn-thư, quyết-định của quan Thống Soái và
của nhà cầm quyền, nguyên văn bằng tiếng Pháp do Nha Nội-trị
cung cấp và ông Trương Vĩnh Kư dịch ra chữ An-nam; phần
tạp-vụ gồm các bài có ích cho sự học và vui thích với các
bài sử-học, luân-lư, thời-sự để có thể đọc trong các trường
bản xứ và làm cho dân chúng An-nam chú ư."
Sau đây là phần công vụ, đăng ở số 3 năm thứ 10, phát hành
ngày 1-2-1874, đăng nghị định thăng trật của hai công chức
như sau :
Trường Hậu-bổ Sàig̣n
Trần Nguyên Hanh làm thông ngôn hạng 3, lên hạng nh́, đồng
niên ăn 1.400 quan tiền.
Trường Khải Tường
Trương Minh Kư, nguyên làm thầy dạy giúp hạng ba, lên hạng
nh́, đồng niên ăn 1.400 quan tiền.
Về phần tạp vụ, một bài thuộc vào loại phiếm luận ngày nay,
đăng trong số 5, năm thứ 6, phát hành ngày 16-2-1870:
Người bên Tàu thường gọi là người Trung-Quốc nghĩa là nước ở
giữa v́ thuở xưa bên ấy có 18 nước chư hầu; chỗ Kinh thành
Hoàng-đế ở lại vô ở giữa các nước chư hầu nên gọi là Trung
Quốc.Người bên Tàu thường kêu ḿnh là Đường-nhơn hay
Thanh-nhơn, nghĩa là người nhà Đường nhà Thanh.An-nam ta kêu
là Tàu, người bên Tàu, là v́ khách thường đi tàu qua đây,
lại dùng tàu chở đồ hàng hóa qua đây buôn bán; nên kêu là
Tàu, hàng Tàu, đồ Tàu v.v...
Người Bắc th́ kêu là Ngô, nghĩa là nước Ngô, có kẻ lại cắt
nghĩa rằng v́ bởi nó hay xưng ḿnh là Ngô nghĩa là tôi.
Kêu Các-chú là bởi người Minh-hương mà ra; mẹ An-nam cha
Khách nên nh́n người Tàu là anh em, bằng không th́ cũng là
người đồng châu với cha ḿnh, nên mới kêu là Các-chú nghĩa
là anh em với cha ḿnh. Sau lần lần người ta bắt chước mà
kêu bậy theo làm vậy.
C̣n kêu là Chệt là tại tiếng Triều Châu kêu tâng Chệt nghĩa
là chú. Người bên Tàu hay giữ phép, cũng như An-nam ta, thấy
người ta tuổi đáng cậu, cô, chú, bác th́ kêu tâng là chú là
cậu vân vân. Người An-nam ta nghe vậy vịn theo mà kêu các
ảnh là Chệt ...
C̣n tin tức, như mẫu tin sau đây, đăng vào Gia Định Báo số 8
năm thứ 6, phát hành ngày 8-3-1870:
... Có một người tên là Thiện, nhà ở gần chợ Hốc-môn. Tối 12
tháng giêng nầy người ấy xuống ghe mà ngủ, c̣n vợ con th́ để
ngủ ở nhà. Vừa đặng một hồi kế lửa phát lên, thím Thiện chạy
ra la, làng xóm chạy đến, khuân đồ giùm đặng phân nửa, rồi
nhà cháy trụm đi, chú Thiện có tật điếc, vợ kêu, la làng
trốc trôn lồi đít, làng xóm khuân đồ tở mở, lửa cháy đùng
đùng, mà cho lọt vào tai va th́ nhà cửa, tài vật đă ra tro
rồi...
Chánh Tổng Tài Trương Vĩnh Kư muốn có những tin tức mới lạ,
cùng khuyến khích những thông tín viên tự nguyện, để góp cho
Gia Định Báo được dồi dào tin tức khắp Nam kỳ lục tỉnh, ông
đă có lời rao sau đây, đăng trong số 11 năm thứ 6, phát hành
ngày 8-4-1870
Lời cùng các thầy thông-ngôn, kư-lục, giáo tập vân vân đặng
hay:
Nay việc làm Gia Định Báo tại Sàig̣n, ở một chỗ, nên không
có lẽ mà biết các việc mới lạ các nơi trong 6 tỉnh mà làm
cho thiên hạ coi; nên xin các thầy cứ mỗi tuần hay nửa tháng
phải viết những chuyện ḿnh biết tại chỗ, tại xứ ḿnh ở,
như:
Ăn cướp, ăn trộm.
Bệnh-hoạn, tai-nạn.
Sự rủi-ro, hùm tha, sấu bắt.
Cháy chợ, cháy nhà; mùa màng thể nào.
Tại sở nghề nào thạnh hơn vân vân
Nói tắt một lời là những chuyện mới lạ, đem vô nhựt-tŕnh
cho người ta biết, viết rồi th́ phải đề mà gửi về cho Gia
Định Báo Chánh tổng-tài ở Chợ-quán.
Trong tờ báo, như đă nói có phần công vụ và tạp vụ, có những
bài không ghi rơ xuất xứ. Trương Vĩnh Kư giải thích phần
nầy:
Những kẻ coi nhựt-tŕnh phải có ư cũng hiểu điều nầy là:
Thường những chuyện Tạp-vụ các nơi trong đất Nam-kỳ gửi về
cho kẻ coi Gia-Định Báo, th́ có kẻ coi lại, có trắc th́ sửa
lại cho xuôi cho dễ nghe v́ các thầy gửi cho nhựt-tŕnh th́
cũng ưng chịu làm vậy; lại cũng để tên các thầy ấy kư lấy v́
là của các thầy ấy viết và gửi. C̣n như phần công-vụ, các
bài nghị-luận quan lớn Nguyên-Soái cùng những khúc chẳng có
tên ai đứng là kẻ coi nhựt-tŕnh làm. Mà những khoản thẩm
xét án các quan tham-biện hay là trả lời cho kẻ qú đơn,
việc nọ việc kia th́ của Hội-đồng quan Thống-soái Nam-kỳ
luật-vụ làm ra sẵn rồi mà gửi đem vô Gia-Định Báo, có tên
người đứng kư vô đó, th́ hể gửi thế nào th́ in ra thế ấy mà
thôi. Cho nên khi có điều ǵ không được cho rơ mấy th́ xin
kẻ coi nhựt-tŕnh chớ trách-cứ kẻ coi việc ấy ...
Cũng có phần văn chương như bài sau đây, đăng trong số 39
năm thứ 19, ngày 13-10-1883:
Nồi Đất Với Nồi Đồng
Nồi đồng tính việc đi đàng,
Rủ ren nồi đất cùng trang đang th́.
Kiếu rằng: Chẳng tiện nổi đi,
Ở an xó bếp, không ly góc ḷ.
V́ e sẩy bước rủi ro,
Rách lành chịu vậy, đói no vui vầy.
Rằng da đấy cứng hơn đây,
Phận kia dễ tính, thân nầy khó toan.
Đáp rằng: rủi gặp dọc đàng,
"" Vật chi cứng cát cản ngang không v́.
Để ta qua bữa lo chi,
Bên th́ vật ấy bên th́ nhà ngươi.
Tai nghe nói ngọt tin lời,
Ch́u ḷng bạn hữu bèn dời chân đi.
Bước khua lộp cộp dị kỳ !
Xa nhau e sợ, gần th́ đụng nhau.
Hai nồi đi chẳng đặng mau,
Chưa đầy trăm bước đụng nhau ră rời.
Hỡi ôi Nồi đất rồi đời,
Khôn lời năn nỉ, khôn lời thở than.
Nơi nghèo khổ, chỗ giàu sang,
Ở đời giao kết kẻ ngang vai ḿnh.
Diễn quốc âm Trương Minh Kư
B. Phan Yên Báo
Nhiều nhà nghiên cứu đều cho rằng Phan Yên Báo được xuất bản
năm 1868, do ông Diệp Văn Cương (6) chủ trương biên tập, về
nội dung như Gia Định Báo lúc đầu, tờ báo nầy về sau bị đóng
cửa, v́ có những bài báo có tánh cách chánh trị, do vậy mà
tờ Phan Yên Báo ngày nay không c̣n, cũng không rơ nó là
nguyệt san hay tuần san.
Có người cho rằng Phan Yên hay Phiên An Trấn là tên cũ của
đất Gia Định và Phan Yên Báo là tờ báo viết bằng chữ Hán do
Nguyễn Trường Tộ làm chủ nhiệm.
Qua tiểu sử của Diệp Văn Cương, tờ Phan Yên Báo của ông
không thể có vào những năm đầu Pháp mới đô hộ miền Nam, ít
ra báo của ông cũng chỉ có từ 1880 hay trễ hơn, c̣n Phan Yên
Báo của Nguyễn Trường Tộ nếu có, chắc không xuất bản ở miền
Nam, v́ nó là tờ báo chữ Hán.
C. Nhựt Tŕnh Nam Kỳ
Là tuần báo, xuất bản số đầu vào năm 1883
D. Thông Loại Khóa Tŕnh
Nó giống như Gia Định Báo ở chỗ có hàng chữ Hán Thông Loại
Khóa Tŕnh ở trên, bên dưới là hàng chữ Miscellanées, số 1
và 2 không ghi tháng phát hành, số 3 có ghi Juillet 1888,
như vậy số 1 có thể ra vào tháng 5 (Mai) năm 1888. Số cuối
cùng là số 18 ra tháng 10-1888. Khổ 16cm x 24cm, từ số 1 đến
số 3 mỗi số có 12 trang, từ số 4 trở đi, mỗi số có 16 trang.
Từ số đầu cho đến số 5, các bài đều không có ghi tên tác
giả, nhưng theo bài Bảo (7), những bài ấy đều của Trương
Vĩnh Kư viết, kể từ số 6 mới có thêm các bài văn vần, gọi là
diễn Nôm của Trương Minh Kư làm để giải nghĩa các câu chữ
Nho, có lẽ để cho người ta dễ học thuộc ḷng, sau đó mới có
bài của những người khác.
Về nội dung gồm có :
• Dạy chữ Nhu (chữ Hán)
• Dạy chữ Pháp (thời bấy giờ gọi là Phang sa hay Lang sa)
• Giảng nghĩa về luân lư
• Khảo cứu về thi ca, phong tục.
• Nhơn vật (danh nhân)
Sau đây là các bài trích dẫn:
a ) Câu Chữ Nhu(8)
( x x x x x x x x x x x x x x ) (9)
Thập phần tinh tinh sử ngũ phần, lưu thủ ngũ phần giữ nhi
tôn
(x x x x x x x x x x x x x)
Thập phần tinh tinh đô sử tận, hậu đại nhi tôn bất như nhân
Nghĩa đen:
Mười phần rành rành dùng lấy năm phần, Để lại lấy năm phần
cho con cháu;
Mười phần rành rành đều ḿnh dùng hết, Đời sau con cháu
chẳng như người ta.
Nghĩa là:
Như ḿnh có đặng giàu sang rơ-ràng cả mười phần th́ hăy
hưởng lấy năm phần mà thôi, để dành lại năm phần sau con
cháu hưởng với: v́ nếu như ḿnh được mười phần ḿnh hưởng
hết đi cả mười, th́ đời sau con cháu ḿnh c̣n ǵ mà hưởng,
té ra sa sút chẳng bằng người ta.
Trương-Minh-Kư diễn ra ca Nôm rằng:
Mười phần rỡ rỡ lấy năm xài, Để lại năm phần trẻ gái trai,
Rỡ rỡ mười phần đều dùng hết, Đời sau con cháu dám b́ ai.
b ) Một hai câu tiếng Phangsa(10)
( Monsieur,(Bongdur moxơ) = chào ông
Bonjour (Madame,( ----""------ madăm) = chào bà
(Mademoiselle,(--""--madơmoaxel) = chào cô
Comment cela va-t-il? (C̣măng xa va ti) = mạnh-khỏe thế nào
?
Cela va bien (xa va biêng) = mạnh khỏe.
Où allez-vous ? (u alê vú) = anh đi đâu ?
Je vais me promener (dờ ve mơ promơnê) = tôi di dạo
c) Tam Cang Là Những Cang Nào ?(11)
là (x) (x) quân thần = vua tôi (=vua với tôi)
"" (x) (x) phụ tử = cha con (= cha với con)
"" (x) (x) phu phụ = vợ chồng (= vợ với chồng)
(x) (x) (x) (x) quân vi thần cang (vua là giềng tôi)
(x) (x) (x) (x) phụ vi tử cang (cha là giềng con)
(x) (x) (x) (x) phu vi thê cang (chồng là giềng vợ)
Chỉ vua với tôi ở cùng nhau phải cho có đạo, cha với con ở
cùng nhau phải cho có t́nh, chồng với vợ ở cùng nhau phải
cho có nghĩa là thuận ḥa với nhau.
Ấy là ba giềng cả.
Giềng là mối dây b́a giềng lưới, có nó mới thành tấm lưới,
mới chắc cho lưới.
Về Tam Cang(12)
Ở dưới đời, người ta không phép sinh ra mà ở một ḿnh cho
đặng. Có cha có mẹ, có anh em chị em, bà con cô bác, có
bằng-hữu, thân-quyến. Có vợ có chồng sanh con đẻ cháu ra nối
ḍng; thành nên gia-thất; nhiều ra, ở lan ra có xóm có làng,
có huyện, có phủ, có tỉnh, có xứ, có nước, có ra như vậy th́
phải có tôn-ti, đẳng-cấp, nên phải có vua có chúa, có quan
có quyền mà cai-trị, ǵn-giữ đùm-bọc lấy nhau cho yên nhà
vững nước.
V́ vậy phải có đạo tam-cang ràng-rịt vấn-vít nhau; mà giữ
phép ở với nhau cho trên thuận dưới ḥa, th́ mới bảo hộ nhau
được. Lớn theo phận lớn, nhỏ theo phận nhỏ các y kỳ phận th́
bằng-an.
Vua cũng có phép buộc phải ở với tôi dân làm sao; con dân
cũng có luật buộc phải ở với vua quan thể nào cho phải đạo.
Cha mẹ có phận phải giữ với con-cái cách nào; con-cái có
phép dạy phải ở làm sao với cha mẹ cho trọn niềm; c̣n chồng
với vợ cũng có ngăi phải giữ với nhau cho trọn nhân trọn
ngăi nữa.
Ấy là ba mối cả, là chánh giềng làm nên tấm lưới chắc chắn
vững bền.
d) Hát Nhà Tṛ(13)
Hát nhà tṛ là tục ngoài Bắc vô tới Nghệ-An, Hà-Tỉnh chí
sông Gianh.
Tại kinh thành Huế cũng có mà là đào ngoài Bắc rước vô dùng
tại triều.
Ngoài Bắc hể khi có đám-tiệc, hội-hữu, hôn-tế, ḱ-yên,
chạp-miễu, th́ thường có hát nhà tṛ. Tùy theo ư chủ muốn,
có khi kêu một đào một kép, có khi hai, có khi năm bảy hay
là nhiều hơn mặc ư ḿnh. Trải chiếu dưới đất, đào ra ngồi
hát đó, kép cầm đờn đáy gảy ngồi lại một bên.
Thường đào là con-gái có xuân-sắc, chuyên tập nghề xướng-ca,
ngâm-nga, múa hát,bắt-bộ v.v. tục kêu là cô-đào (đàu B). Tay
cầm quạt tay cầm sanh nhịp, miệng hát nhiều cung bậc giọng
thấp cao ngân-nga hay và êm tai lắm.
Hát th́ hát những là Ca-trù, hoặc giậm Túy-kiều, câu hát
rời, Tần cung-oán, Chinh-phụ-ngâm, thơ phú hoặc kể truyện.
Có người đánh trống nhỏ cầm chầu hoặc là chủ đám, hoặc là
người chủ nhường mời. Hát cũng có khi đứng khi ngồi, khi múa
tay, bắt bộ. Lại có khi bắt đào qúnh tương (14) rượu cho
khách, là bắt tay bưng chén rượu, chơn bước khoan- thai,
miệng hát câu chi cho hay đẹp t́nh ưa ư khuyên mời khách
uống, đem lại dâng đưa vô tới miệng.
Cung giọng nhà-tṛ thường là những cung giọng nầy
Mẫu dựng
Thiệt nhạc
Ngâm vọng
T́ bà
Tắc phản
Hát hói
Gửi thư
Húnh
Hăm
Cung bắc
Cửa quyền
Non mai
Nường hạnh
Chữ khi
Thơ
Thỏng
e) Ca kiêng giống độc(15)
Rượu để b́nh đồng ấm thiết lâu,
Gan ḅ một lá, với gan trân.
Giải (ba-ba) ba chơn, cá lân không vảy,
Dê một sừng, tôm chẳng có râu.
Chó bốn đề, lương vàng cất cổ,
Gà năm sắc, ngựa trắng đen đầu.
Cua sinh một mắt, lệch sao điểm.
Vật ấy đừng dùng kẻo lệ âu.
g) Ba bậc bộ hành ở nhà quán (16)
Nhứt quân tử, ăn mứt gừng, uống nước chè tàu, ngồi chiếu
bông, nằm nhà trong, đánh cờ tiên.
Nh́ quân tử, ăn thịt trâu, uống nước chè huế, ngồi chiếu kế,
nằm nhà giữa, đánh cờ tướng
Tam quân tử, ăn cơm nguội, uống nước lạnh, ngồi chiếu manh,
nằm nhà ngoài, đánh cờ chó.
h) Lư-Thường-Kiệt (x) (x) (x) (17)
Lư-thường-Kiệt người tỉnh Hà-Nội, huyện Vĩnh-Thuận làm quan
tướng nhà Lư. Thuở ấy bền Tàu nhà Tống nghe lời
Vương-an-Thạch mà khinh dị Annam, vua Lư-nhơn-Tông mới sai
Lư-thường-Kiệt, với Tôn Đản đem 10 vạn binh qua đánh Tống,
lấy đất Châu Khâm, châu Liêm giết Thương-thủ-Tiết, lấy châu
Ưng, giết châu Nham và hơn 10 vạn con người ta.
Sau Tống sai binh tướng qua đánh Annam, khi đóng binh tại bờ
sông Như-nguyệt, th́ Lư-thường-Kiệt biết bụng dân hay tin
tưởng thần thánh, thấy Quách-qú với Triệu-tiết đem binh Tàu
hơn 87 vạn qua, nao sợ ngă ḷng, th́ dụng mưu mà làm cho
vững ḷng quân. Vậy mới cho người ra sau bàn-thờ miễu ông
Tương-tướng giả thần ứng phán, ngâm như lời sấm bốn câu như
sau đây.
Nam quốc sơn-hà nam đế cư,
Tiệt nhiên phân-định tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Binh lính nghe liền vững bụng, bèn đánh quân nhà Tống phải
thua. Ông Lư-thường-Kiệt là người nhiều mưu-lược, có tài
tướng-soái, làm tôi 3 đời vua, đánh Tống thua, dẹp an
Chiêm-thành, huân-nghiệp công-trận lớn lắm. Được tặng là
Việt quốc công.
Đời nhà Nguyễn, Minh Mạng năm thứ 4 cho tế theo trong miễu
Lịch-đại đế vương.
Tóm lại, Thông Loại Khóa Tŕnh được coi như nguyệt san văn
học, nội dung gồm có những bài sao lục, một số bài khảo cứu
và sáng tác; phần lớn dùng văn vần và không có h́nh ảnh
trang trí.
Các công tŕnh văn học quốc ngữ miền Nam (kỳ 2)
Huỳnh Ái Tông
E. Nông Cổ Mín Đàm
Là tuần báo phát hành vào ngày thứ Năm, có 8 trang, khổ 27cm
x 20cm do Canavaggio sáng lập. Số 1 ra ngày 1-8-1901, những
người cộng tác với Canavaggio làm chủ bút tờ báo nầy lần
lượt gồm có: Dũ Thúc Lương Khắc Ninh, Gilbert Trần Chánh
Chiếu, Tân Châu Nguyễn Chánh Sắt, Nguyễn Viên Kiều, Nguyễn
Đồng Trụ, Lê Văn Trung, ngoài số những người chủ bút vừa kể,
c̣n có sự cộng tác của các nhà văn danh tiếng như Nguyễn An
Khương, Thượng Tân Thị Phan Quốc Quang, Lê Quang Chiểu, Giáo
Sỏi, Đỗ Thanh Phong.
Nội dung báo gồm có luận thuyết, tin tức, lời rao, dịch
chuyện Tàu, diễn Nôm các bản cổ văn, thi ca, nhàn đàm và
quảng cáo.
Sau đây là một số bài trích dẫn:
Băo lụt phía Tây-Nam(18)
Trong một năm hai lần băo, tại xứ nhỏ như Nam Kỳ, thương hại
thay cho dân khổ, 16 tháng ba băo nơi Đông Nam (19) dân
Tây-Nam b́nh tịnh, đến đêm 26 tháng chín băo nơi Tây Nam từ
8 giờ tối tới 4 giờ sáng mới ngơi. Từ Sóc Trăng, Đại Ngăi,
Bạc Liêu, Cần Thơ, Long Xuyên, Rạch Giá, Châu Đốc và Hà
Tiên, cây ngă nhà xiêu, ghe ch́m người chết, hao của dân
vật, nghĩ rất thảm thương. Chẳng phải băo mà thôi, lại nước
lụt tràn bờ, lúa cày mạ gieo đều trốc rễ. Nghĩ coi sáu tháng
chia nhau chịu khổ, người mắc trước kẻ bị sau, lúa thóc mùa
màng mang hại. Thương là thương dân hèn gặp khổ, kẻ khó chịu
tai; nhọc h́nh-hài làm mọi cho người, đói ḷng, dạ không an
con vợ. Thương ôi Đă biết rằng: Trời c̣n có khi mưa khi
nắng, người sao không lúc thạnh lúc suy. Nhưng vậy mà ngoài
ba mươi năm dân luống thảnh-thơi, quen thời-tiết phong điều
vơ-thuận. Xăy một phút trời sanh tai biến, người không dè
phải chịu nghèo nàn. Dẫu tiên-tri cũng khó thở-than, v́
dân-vật thường không tin lời phải. Nếu luận chuyện thành
tiên thành phật cùng địa-phủ thiên-đàng, th́ nhiều nơi tham
nơi sướng tránh chỗ go; bằng mà luận trái phải việc đời, lo
việc tới lui, thạnh lắm phải lo suy, sướng lâu th́ sợ cực;
những điều ấy người cho rằng luận vấy, ăn cơm nhà để lo
chuyện bao đồng. Ôi thôi ! Hể trời khiến tai-nàn người chịu,
xót t́nh thương nên tỏ một đôi lời. Gia Cát xưa chưa bỏ lều
tranh, đă rơ trước tam-phân đảnh túc; bởi Chiếu-liệt
đốc-thành kỉnh-sĩ, nên người đành tận-tụy cúc-cung. V́ một
người, chịu nhọc một ḿnh; làm hết sức, chớ cơ trời nào dám
căi. Thương trăm họ nên phân trái-phải, hết sức ḿnh cho
trọn phận làm người, há cầu ai rằng phải rằng chăng, điều
phải chẳng tự nhiên người xét lấy.
Thương ôi !
Bị bị tai tai trời trời khiến khiến hại hại người người đời
đời hết hết tưởng tưởng chơi chơi th́ th́ phải phải sợ sợ.
Xin chư văn hữu đọc bài tứ tuyệt nầy, rồi gửi đến cho bổn
quán, như trúng th́ xin phụng lại một tháng nhựt-tŕnh xem
chơi.
Chủ bút
Đọc đoạn văn vừa trích, chúng ta thấy chủ bút cũng như những
người viết khác, c̣n chịu ảnh hưởng của cổ văn rất nhiều,
nhất là cách hành văn biền ngẫu. Hai bài trích kế tiếp sau
đây, không dụng lối biền ngẫu, họ viết y như câu nói, đó là
nét đặc trưng của văn chương miền Nam.
Trường Tabert(20)
Mỗi năm hể sau ít ngày ăn lễ sanh-nhật, th́ trường học
Taberd phát phần thưởng học tṛ rồi đặng băi trường. Khi
phát phần thưởng mời cha mẹ học tṛ đến xem hát cho vui.
Trường dạy học Taberd, thiệt lập nhiều cach vui cho người có
con học vào trường ấy và dục ḷng trẻ nhỏ vui và siêng học,
học đạo đức, học lễ nghi, học văn chương, học vẽ lại thêm
học hát xướng. Đến lúc làm điều vui, cũng c̣n kiếm điều cho
có ích, điều dạy làm lành, răn đời lấy nhơn-nghĩa. Như là
bày tuồng hát chơi mà có ư khuyên người làm phải, dạy trẻ
ḷng lành, xem đáng cám ơn người bày biện, ḷng tốt thương
người, tập rèn cho con em phải cách.
Lời Rao
Thường thường hể làm cha mẹ ai ai đều thương con chẳng cùng.
Bởi con tôi quá lắm, mới lấy lẽ phải mà răn. Nay vợ chồng
tôi là Nguyễn-Hữu-Phước làm tri huyện tại hạt G̣ Công, rao
cho chư vị đồng bang và người khách đặng rơ: Xin chớ có cho
tên Nguyễn Hữu Vạng vay tiền mượn bạc chi. Nó là con của vợ
chồng tôi mà nó không nghe lời dạy-dỗ , cứ theo hoang-đàng
phóng-tứ. Nếu ai có cho mượn, mất tiền phải chịu lấy, chớ vợ
chồng tôi không biết đến.
Tự hậu không ai được phép nói động đến vợ chồng tôi về tên
Vạng thiếu nợ.
Tri huyện Nguyễn-Hữu-Phước
Sau đây là mẫu tin đăng trên Nông Cổ Mín Đàm năm 1915, chúng
ta thấy những người viết văn lúc đó vẫn c̣n chịu ảnh hưởng
cách hành văn biền ngẫu, những người viết tin, lồng vào đó
phần trào phúng, ngày nay các thông tín viên vẫn c̣n dùng :
Rồi trái oan
Một phu-nhân ở đường d" Espagne (21) ngó qua chùa chà chưa
biết đạo xướng tùy có chi cay đắng hay là nghĩ trần ai ngán
sự đời, tạm nha phiến một chung trộn với dấm mà liều má
phấn. Vào nhà thương thôi rồi nợ phong trần trả sạch c̣n cái
giây oan trái buộc ràng. Bởi v́ không rơ cơ quang, quan mới
lập đàng tra vấn. Vấn cho rơ v́ sao mà tự tận, có phải v́
t́nh trường mà giận hờn ghen. Vấn cho ra coi ai ép uổng phận
nhỏ nhen, làm đến đổi cánh sen chôn lấp.
Tuy nhiên cũng có người hành văn không dụng lối biền ngẫu
nên vừa ngắn mà vẫn giữ tánh chất trào lộng như đoạn văn sau
đây :
Lê-văn-Búp ở Thủ-Dầu-Một đi xách nước giếng hồi nào không
biết, đến chừng người nhà hay tri hô lên th́ thấy anh
Lê-văn-Búp trồng chuối ngược. Bộ vó chổng khu xách nước nên
mới té dọng đầu xuống giếng.
Nguyễn Chánh Sắt và Nguyễn An Khương dịch nhiều truyện Tàu
đăng trên Nông Cổ Mín Đàm và bản dịch Tam Quốc Chí đăng
trong báo nầy, kư kên Canavaggio, nhưng theo Vương Hồng Sễn,
người dịch là Lương Khắc Ninh.
Sau đây trích một bài dịch Hán văn của Nguyễn Chánh Sắt :
Chuyện mộ Tào Tháo
Phía ngoài thành Hứa-Đô có một cái sông nước chảy rất mạnh,
hai bên th́ bờ vực hẳm sâu. Mùa hè trời nóng nực, có một
người kia xuống tắm, giây phút nổi lên như bị đao búa chém
đứt ra từng khúc. Sau có một người cũng bị như vậy, thiên-hạ
thất-kinh lấy làm lạ. Quan phủ sở tại thấy vậy, bèn bắt
nhiều dân khiêng đất đốn cây chận ngọn nước sông lại, lúc
nước cạn rồi th́ thấy dưới sông có cái hang sâu, trong ấy có
đặt những xa máy tinh những gươm bén lắm. Phá máy lấy gươm
lên, moi riết vào thấy có cái bia nhỏ đề chữ giống điệu chữ
đời Hớn, xem kỷ ra mới biết là mộ của Tào Mạnh Đức. Quan phủ
bèn dạy phá ḥm ra, lấy xương đem chôn nơi khác. C̣n những
ngọc ngà châu báu liệm trong ḥm, th́ lấy hết mà bỏ vào kho.
Trong sách có nói Tào Tháo có bảy mươi hai cái mă nghi, hay
đâu ngoài bảy mươi hai cái lại c̣n một cái nầy nữa. Ấy vậy
th́ gian trá như Tào Tháo, đến thác cũng c̣n gian trá. Song
đă ngoài ngàn năm mà một nắm xương tàn c̣n chẳng giữ đặng
thay, nghĩ lại mà coi, th́ gian trá cho lắm lại có ích ǵ.
Rút trong LIÊU TRAI CHÍ DỊ dịch ra
Tân Châu, NGUYỄN CHÁNH S¡T
Và sau đây là phần Nhàn Đàm đăng vào năm 1908 (không rơ số
mấy)
CON VOI VỚI CON TRÂU
(tranh công)
Con trâu ngày kia đi ngao du ngoài rừng, xăy gặp con voi
đứng lại mà đàm luận việc công cán với nhau, th́ con Voi
thấy con Trâu có hơi mệt, liền hỏi sức lực mầy làm dường bao
mà coi bộ mệt lắm vậy, th́ con trâu trả lời rằng:
Tôi làm vầy chớ công cán tôi cao dày lắm, biết mấy đời
vương, giúp trong thiên hạ đà lắm thuở, tuy tôi tuổi tác nhỏ
nhen chớ trong ḷng sẵn có ba lá sách, nhưng vậy cũng biết
đặng đường nhơn nghĩa mà cư xử trong và bề ngoài.
Con voi nói lại rằng: Nè c̣n công cán tao cao dày lắm, nhơn
v́ trước tao giúp cho vua Thuấn đă cày nên ruộng, bởi vậy
sau đây người ta tặng kêu tao là ông-tượng, nên tao biết tao
phải lớn hơn hết.
Con trâu trả lời: Phải ông thiệt là lớn hơn hết, lớn là lớn
cái vóc và khoe ḿnh nên người ta gọi là ông tượng, và h́nh
thù th́ lớn mà tánh nết ăn nói nhỏ nhen lắm, nên người ta sợ
bụng ông không chừng, thiệt tôi coi đi xét lại, nhằm trước
xem sau có một ḿnh ông bụng lớn và bao tử cũng lớn chứa
phẩn nhiều hơn hết, mà lại xông lớn đống, hể ai đi có gặp
nói phẩn của ông-tượng là vậy đó.
Nguyễn Quang Trường
Tự Cửu Viễn
Cũng ở trang 6 tờ báo nầy có đăng những quảng cáo như sau :
NHÀ ĐÓNG SÁCH J. VIẾT-LỘC & CIE
ở đường d"Ormay số 61, Sàig̣n
LÊ-VĂN-NGÀN, kế vị
Kính cùng chư quư vị đặng rơ, kể từ ngày 15 tháng sáu
langsa, chúng tôi mới làm hùn thêm đặng lo tấn tới và mở
mang cuộc đóng sách và cuộc buôn bán thuở nay của mấy thầy
Viết-Lộc và Công-ty.
Vậy xin trong lục châu cùng châu thành Saigon Chợlớn tưởng
t́nh anh em chúng tôi trước sau cũng vậy mà giúp sức cho
người nam ta cho tấn tới theo đường thương măi.
Luôn diệp nầy chúng tôi xin trong chư quư vị ai c̣n thiếu
bạc hay là có muốn mua cái chi th́ x́n từ ngày nay đến sau
phải gửi cho thầy Lê-văn-Ngàn.
C̣n nhà J. Viết-Lộc & Cie có thiếu của ai th́ hạn trong một
tháng phải đem tờ giấy chi đến tại nhà nầy mà tính. Bằng quá
hạn nầy rồi th́ chúng tôi chẳng biết tới nữa.
Saigon, le 16 Juin 1908
Phần quảng cáo đa số là của người ngoại quốc, đủ chứng tỏ
thuở ấy người Pháp và Ấn chiếm hầu hết việc thương mại ở
Sàig̣n. Đây là một mẫu quảng cáo hàng :
Tiệm Bán Hàng Hoá
Ông Courtinat và Công-Ty
ở đường Catinat, Saigon
Số 96-98-100-102-104-106-108
Có bán: lụa, nhun, tố, nỉ, hàng tây, đủ thứ, đủ màu;
Tủ sắt, giường sắt có ruột gà, bàn rữa mặt lót mặt đá cẩm
thạch, tủ cây Hongkong, xe máy từ 55 đồng;
Xa bong hiệu Mignon mỗi hộp 100 miếng giá gửi đến chổ 1$85
và xa bong thơm, dầu thơm đủ thứ;
Ghế Thonet mặt cây tốt lắm;
Dù lục soạn hay là dù vải đủ thứ;
Giày, vớ, khăn, đồng hồ vàng, bạc và nickel, kiếng soi lớn
nhỏ đủ thứ, cùng đồ hành lư;
Máy nói hiệu Pathé;
Pháo bông, cùng đồ cho con nít chơi đủ thứ;
Hột xoàn lớn nhỏ tốt nhứt hạng;
Có bán xe hơi hiệu Berliet, chạy từ Saigon xuống Vũng tàu 28
phút, cũng có lảnh sữa xe hơi.
Tại nhà nầy chẳng thiếu món chi mà lại giá rẻ.
Tóm lại Nông Cổ Mín Đàm là một tuần báo khổ lớn, nội dung
gồm đủ các phần tuy có 8 chỉ trang, nhưng phần văn chương
chiếm hết tờ báo. Nông Cổ Mín Đàm ra đời trong thời buổi sơ
khai của nền báo chí nước ta, lúc chữ quốc ngữ cũng c̣n ít
người biết đọc. Cho nên mặc dù nó đă đ́nh bản chưa đầy một
thế kỷ, mà ít có người được biết đến tờ báo nầy.
Tờ Nông Cổ Mín Đàm ra mắt, mặc dù sau Gia Định báo, Thông
Loại Khóa Tŕnh, nhưng hiện t́nh báo chí thuở ấy chỉ có Tờ
Nông Cổ Mín Đàm mà thôi, măi cho đến năm 1907 mới có tờ Lục
Tỉnh Tân Văn.
Dù sao th́ tờ Nông Cổ Mín Đàm cũng có đủ yếu tố là một tờ
báo, nó gồm đủ các phần như báo chí ngày nay.
Về chữ Quốc ngữ, chúng ta để ư sẽ thấy rằng chữ thuở ấy
chẳng có mấy sai khác như hiện nay, trừ một số lỗi chánh tả.
Lối hành văn dài thậm thượt, nhận xét nầy cho thấy hành văn
thuở đó chưa được chú trọng, quy cũ như hiện nay.
Tờ Nông Cổ Mín Đàm không những phổ biến tư tưởng Đông
phương, mà c̣n phổ biến tư tưởng học thuật Tây phương, đi
theo đường lối Trương Vĩnh Kư đă làm từ trước.
F.- Nhật Báo Tỉnh
Cũng là tuần báo, phát hành vào ngày Thứ Năm hàng tuần, từ
năm 1905 đến 1912.
G.- Lục Tỉnh Tân Văn
Năm 1907 H.F. Schneider lập ra tờ Lục Tỉnh Tân Văn, Trần
Chánh Chiếu làm chủ bút, phát hành hàng tuần, có một phần
nhỏ về công báo. Năm 1910, Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút, đến
năm 1919 Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút tờ Trung Bắc Tân Văn,
là một ấn bản của Lục Tỉnh Tân Văn, phát hành cho miền Trung
và Bắc.
Về sau Lục Tỉnh Tân Văn nhượng lại cho Nguyễn Văn Của làm
chủ nhiệm và do Lê Hoằng Mưu làm chủ bút.
Bước sang thập niên 20 c̣n có những tờ báo như :
H.- Nữ Giới Chung
Do Lê Đức làm Chủ nhiệm và Sương Nguyệt Anh, con gái của
Nguyễn Đ́nh Chiểu làm Chủ Bút.
I.- Công Luận Báo
Do Lê Sum làm chủ bút, phát hành vào ngày Thứ Ba và Thứ Sáu,
kể từ báo Công Luận trở đi, mỗi tờ báo sau nầy đều có dành
riêng một trang văn thơ, hay ít ra 1 cột gọi là Văn Uyển.
II.- Trung Lập Báo
Do Phi Vân Trần Văn Chim tác giả Đồng Quê làm chủ bút, đặt
biệt báo nầy khởi đăng tiểu thuyết "" Châu Về Hiệp Phố ""
của nhà văn Phú Đức, tiểu thuyết nầy sau vẫn c̣n đăng lại ở
nhật báo Thần Chung của Nam Đ́nh, Tiếng Chuông của Đinh Văn
Khai, tuần báo B́nh Dân của chính tác giả Phú Đức
Báo chí đă đóng góp một phần lớn cho việc truyền bá chữ Quốc
Ngữ, mặc dù trong thời kỳ đầu nầy, báo chí chỉ được phổ biến
trong giới quan lại người Việt, giúp việc trong guồng máy
cai trị của Pháp, từ cấp Tổng, Huyện trở lên. Dần dần báo
chí lan rộng đến các điền chủ, giáo học, cho đến khi báo chí
đăng những truyện tàu, tiểu thuyết lúc ấy báo chí mới được
phổ cập đến giới trung lưu ở thôn quê, v́ lúc ấy báo chí đă
thoát khỏi cái vỏ công báo, và chữ Quốc ngữ đă được dạy ở
các trường học ở thôn quê miền nam.
Tưởng cũng nên ghi nhận, ở Bắc năm 1892 có tờ Đại Nam Đồng
Văn Nhật Báo (in chữ Hán) (22), phải đợi cho đến năm 1905
mới có tờ Đại Việt Tân Báo in cả chữ Quốc Ngữ và Chữ Hán .
Năm 1907, tờ Đại Nam Đồng Văn Nhật Báo có thêm Đăng Cổ Tùng
Báosố ra mắt ngày 28-3-1907 do Nguyễn Văn Vĩnh làm Chủ bút.
Sở dĩ báo chí ở Trung và Bắc chậm xuất bản là v́ theo Đạo Dụ
ngày 31-5-1906, chánh phủ Nam triều mới đổi mới cho chế độ
học và thi cử ở Bắc và Trung, chương tŕnh học vẫn lấy chữ
Hán làm gốc, nhưng thêm các khoa Cách trí, Sư kư, Địa
dư,Toán pháp dạy bằng Quốc Ngữ và một ít chữ Pháp. Thi Hương
và Thi Hội cũng có những bài chữ Quốc Ngữ và chữ Pháp. Ở Bắc
năm 1915 và ở Trung năm 1919 mới bỏ lối thi cử cũ (23).
Tiến tŕnh báo chí ở Miền Nam, cho chúng ta thấy nó cũng là
một yếu tố để truyền bá chữ Quốc Ngữ, đọc lại tiểu thuyết
của Hồ Biểu Chánh đôi chỗ nói tới nhựt tŕnh thời bấy giờ,
đọc T́nh Nghĩa Giáo Khoa Thư trong Hương Rừng Cà Mau của Sơn
Nam, chúng ta thấy ghi đậm nét về sự truyền bá chữ Quốc Ngữ,
và sự phổ cập báo chí ở Miền Nam.
Ghi chú :
( 1 ) Theo lời Bác sĩ Nguyễn Minh Tâm Giám Đốc Nha Y Tế Học
Đường thuộc Bộ Giáo Dục, trong phiên họp các Trưởng Ty Văn
Hóa Giáo Dục và Thanh Niên vào cuối năm 1974 tại Bộ Giáo
Dục, ông cho biết, có người bán trọn bộ báo nầy cho một
người Mỹ trong năm ấy, giá 1 triệu 5 trăm ngàn đồng Việt Nam
(thời giá 1US=200 đồng VN).
( 2 ) Theo Giáo sư Huỳnh Văn Ṭng cho biết tại Thư viện
trường Ngôn Ngữ Đông Phương (L"École National des Langues
Orientales) ở Paris, số 3 phát hành ngày 15-7-1865, số 4
phát hành ngày 15-8-1865 và số chót mà thư viện có là số 42,
phát hành ngày 25-10-1909
( 3 ) Hội Đồng Tỉnh.
( 4 ) Phan Long Điền trích dịch, đăng trong Giai Phẩm Bách
Khoa ngày 17-8-1974
( 5 ) Franc: Đơn vị tiền tệ Pháp.
( 6 ) Diệp Văn Cương tự Thọ Sơn, bút hiệu Yên Sa, người làng
An Nhơn, tỉnh Gia Định, sau khi thi đậu bằng Trung Học, ông
được chánh phủ bảo hộ cho sang Pháp học và đổ bằng Tú Tài,
về Việt nam dạy trường Chasseloup-Laubat, ông được Toàn
quyền Paul-Bert chú ư, nên có đưa ra Bắc và Trung làm việc.
Ở Huế ông đảm trách việc dạy học cho vua Đồng Khánh, tại đây
ông kết duyên cùng một bà công chúa, con của Thoại Thái
vương sinh ra Diệp Văn Kỳ cũng là một nhà báo kỳ cựu trong
Nam vào thập niên 30.
Diệp Văn Cương có những tác phẩm sau :
Recueil de morale annamite (1917)
Syllabaire quốc ngữ (1919)
Tập Phong hóa dịch ra quốc ngữ
( 7 ) Đă trích bài Bảo ở chương trước, trong phần tiểu sử
Trương Vĩnh Kư.
( 8 ) Số 10, trang 5 và 6.
( 9 ) Chữ x trong ngoặc là thay cho chữ Hán
( 10 ) Số 2, trang 11
( 11 ) Số 1, trang 4
( 12 ) Số 2, trang 3
( 13 ) Số 4, trang 13
( 14 ) Qúnh tương là tích chén nước Vân-anh đưa cho Bùi Hàn
uống (coi giải trong Túy-Kiều) - Tài liệu chú -
( 15 ) Số 1, trang 9
( 16 ) Số 3, trang 4
( 17 ) Số 3, trang 3
( 18 ) Nông Cổ Mín Đàm số 166 ngày 17-11-1904
( 19) Hai trận băo nầy xăy ra vào năm Th́n, nên người ta hay
nói "" Năm Th́n Băo Lụt"", trong Ca dao miền Nam có câu nói
về trận băo nầy :
Đèn nào cao cho bằng đèn Châu Đốc,
Gió nào độc cho bằng ngọn gió G̣ Công.
Thổi ngọn Đông phong lạc vợ xa chồng,
Nằm đêm nghĩ lại nước mắt hồng tuôn rơi.
( 20 ) Nông Cổ Mín Đàm số 173 ngày 5-1-1905
( 21 ) Đường Lê Thánh Tôn Sàig̣n.
(22) Theo Quốc Triều Chính Biên. Năm 1888, tháng 4 quan Đại
Pháp mới lập sở Đại Nam Nhật Báo.
(23) Đề thi Hội cuối cùng năm 1919:
Việc chánh trị bây giờ càng khó, Trung Kỳ và Bắc Kỳ t́nh thế
khác nhau, nên sửa sang những điều ǵ trước ? Luận.
Nước ta Văn hiến, trải mấy ngàn năm, bây giờ nghĩ phỏng Thái
Tây đặt Viện Hàn Lâm dịch các sách vở. Luận
Nước ta việc h́nh luật đời nào cũng trọng, quan hệ nhơn tâm
phong tục là thế nào ? Luận
Khoa thi nầy, kết quả lấy 7 Tiến sĩ và 16 Phó bảng.
Các công tŕnh văn học quốc ngữ miền Nam (kỳ 3)
Huỳnh Ái Tông
Tiết 3: Thơ
I.- Đại Cương
Nếu báo chí giữ vai tṛ khá quan trọng trong việc truyền bá
chữ quốc ngữ ở giai cấp trung lưu, Thơ lại giữ một vai tṛ
quan trọng trong việc phổ biến chữ quốc ngữ trong giai cấp
b́nh dân ở miền Nam.
Thơ là danh từ của người miền Nam dùng, để chỉ cho các loại
truyện như Thúy Kiều, Lục Vân Tiên, Phạm Công Cúc Hoa...,
c̣n danh từ truyện là để chỉ cho truyện Tàu như Tam Quốc
Chí, Tây Du Kư, Thuyết Đường... Chúng tôi dùng từ Thơ trong
tiết nầy, cốt để giữ nguyên danh từ thông dụng của nó ở miền
Nam.
Tất cả thơ đều soạn theo thể thơ Lục Bát của Việt Nam ta,
căn cứ vào quá tŕnh sau đây, chúng tôi xếp thơ trước truyện
và tiểu thuyết.
1. Năm 1875, Trương Vĩnh Kư xuất bản Kim Vân Kiều của Nguyễn
Du bằng Quốc ngữ. Đến năm 1889, sau khi tác giả Nguyễn Đ́nh
Chiểu mất được một năm, ông lại cho xuất bản quyển Lục Vân
Tiên, Phan Trần.
2. Văn nghiệp của Húnh Tịnh Của (1834-1907), cũng có tác
phẩm Quan Âm Diễn Ca bằng Quốc ngữ.
3. Theo tài liệu ông Nguyễn Văn Kiềm, trong quyển Tân Châu
1870-1964, cho biết nhà văn Tân Châu Nguyễn Chánh Sắt đă
dịch truyện Tây Hớn do J. Viết Lộc & Cie ở Sàig̣n xuất bản,
là quyển truyện Tàu đầu tiên dịch ra Quốc ngữ, được độc giả
rất hoan nghênh, nhưng ông Kiềm không cho biết truyện ấy
xuất bản năm nào, nhà J. Viết Lộc & Cie được thành lập và
hoạt động từ năm 1900 đến 1908, vậy truyện Tây Hớn xuất bản
thời gian đó.
Tóm lại thơ in và phổ biến qua chữ Quốc ngữ có từ năm 1875,
nhưng đó là Kim Vân Kiều chưa chắc nó đă được ưa chuộng v́
là áng văn chương tuyệt tác, có nhiều điển tích, người b́nh
dân khó hiểu, phải đợi đến sau năm 1889,khi quyển Lục vân
Tiên và Phan Trần ra đời, người b́nh dân mới có thể bắt đầu
ưa chuộng thơ, chính trên sách Lục vân Tiên cũng ghi thơ văn
b́nh dân (Poème populaire).
Từ đó thơ được giới b́nh dân ưa chuộng, các nhà văn thời ấy
đua nhau sáng tác, cho đến năm 1907, đă có thêm những quyển
thơ sau đây, xuất bản tại nhà in
Saigonnaise:
- Lâm Sanh Xuân Nương soạn giả Nguyễn Kim Đính (1)
- Trần Đại Lang -
- Dương Ngọc - Bà Huỳnh Kim Danh
- Trương Ngộ -
- Quang Âm giáng thế -
- Trần Sanh Ngọc Minh - Nguyễn Bá Thời
- Bạch Viên Tôn Các -
- Đào Trinh Luông Sanh -
- Lư Công - Nguyễn Bá Thời
- Ngọc Cam Ngọc Khổ - Nguyễn Bá Thời
- Chiêu Quân Cống Hồ - Đặng Lễ Nghi
- Thoại Khanh Châu Tuấn - Bà Huỳnh Kim Danh
- Thạch Sanh Lư Thông - Hà Trung
- Tống Tử Vưu -
- Lang Châu -
- Lâm Sanh Lâm Thoại -
- Tiên Bửu -
- Mục Liên Thanh Đề - Bà Huỳnh Kim Danh
- Tam Nương -
- Trương Ngáo - Hoàng Minh Tự
- Mụ Đội -
- Nam Kỳ -
- Học Tập Qui Chánh -
- Kiều Truyện có giải nghĩa -
- Trần Minh Khố Chuối - Nguyễn Bá Thời, Nguyễn Văn Khỏe
- Trọng Tương Vấn Hớn -
- Văn Doan -
V́ thơ thuộc loại sách phổ biến trong giới b́nh dân, tŕnh
bày hết sức đơn sơ, không chú trọng ấn bản, từ lúc thơ được
in trong những năm đầu tiên cho đến những năm sau nầy, nó
vẫn được giữ y nguyên h́nh thức cũ, in khổ 16cm x 24 cm,
trang b́a giấy màu loại mỏng, có vẽ h́nh để minh họa một
cảnh nào đó trong nội dung, h́nh vẽ và tựa in một màu, đôi
khi h́nh vẽ in một màu và tựa in màu khác, b́a màu khác,
sách dầy kể luôn cả b́a là 16 hay 24 trang, b́a sau thường
in danh mục các quyển thơ đă được in. Năm 1907, giá một
quyển trung b́nh là 35 xu, đến thập niên 50, giá 2 đồng, đến
thập niên 70 giá 10 đồng đến 20 đồng tùy sách dầy hay mỏng.
Về cách tŕnh bày bên trong, mỗi hàng in cả 2 câu Lục và Bát
thành một ḍng, không phân đoạn hay tiết mục ǵ cả. Có quyển
v́ ngắn, nên trong có thêm h́nh vẽ cho đủ số 16 trang của
quyển thơ, những quyển loại nầy có chua thêm dưới tựa ‘‘ Có
h́nh ‘’.
Thơ được sáng tác phần lớn dựa theo các chuyện cổ tích, như
: Thạch Sanh Lư Thông, Nàng Út, Chàng Nhái Kiểng Tiên...,
đựa theo tuồng tích truyện Tàu như Vơ Ṭng Sát Tẩu, Tề Thiên
Đại Thánh loạn thiên đ́nh ...có liên quan đến thời sự như
Sáu Trọng, Hai Đẩu, Sáu Nhỏ... có liên quan tôn giáo như
Quan Âm giáng thế, Mục Liên Thanh Đề...
Mặc dù cốt chuyện soạn đúng theo quy ước, luôn luôn kết thúc
có hậu, ân đền nghĩa trả, mọi gút đều được mở, nhưng v́
người ta quá yêu chuộng thơ, cho nên thơ được đặt thêm ra
chẳng hạn như Hậu Lục Vân Tiên, Hậu Phạm Công Cúc Hoa, Hậu
Bạch Viên Tôn Các...
Một số cốt chuyện đă được 2 tác giả soạn thơ, ví dụ như nhà
xuất bản Phạm Văn Cường có thơ Trần Minh Khố Chuối của soạn
giả Nguyễn Bá Thời, nhà xuất bản Phạm Văn Th́nh cũng có thơ
Trần Minh Khố Chuối của soạn giả Nguyễn Văn Khoẻ.
Đă là thơ th́ người ta không đọc, phải ngâm, nhưng giọng
ngâm ấy đặc biệt có tánh cách ngâm thơ của người miền Nam,
nó gần với giọng hát ru em của người miền Nam vậy.
Như đă tŕnh bày, thơ được phổ biến trong giới b́nh dân miền
Nam, người ta chú trọng nội dung mà không quan tâm đến h́nh
thức, do đó những tác giả của các tập thơ đều bị lăng quên,
ngày nay khó sưu tầm được.
Các tập thơ trước kia do nhà xuất bản Saigonnaise số 39-41
đường Catinat (sau đổi là Tự Do, Đồng Khởi), hay nhà in Phạm
Văn Th́nh số 179, rue d’Espagne (đường Lê Thánh Tôn), cho
đến thập niên 60 vẫn c̣n có 3 nhà xuất bản : T huận Ḥa, 54
Tháp Mười Chợ Lớn, Phạm Đ́nh Khương 31 Bd Bonhoure và Phạm
Văn Cường 171 Đại Lộ Khổng Tử Chợ Lớn. Đến thập niên 70, chỉ
c̣n có hai nhà xuất bản Phạm Đ́nh Khương và Phạm Văn Cường.
Có quyển Lục Vân Tiên của nhà xuất bản Phạm Văn Th́nh, không
ghi rơ năm in, nhưng có lẽ trước năm 1950, đă thấy ghi tái
bản đến lần thứ 13, sau đó bản quyền nhường cho nhà Thuận
Ḥa in tiếp, nhà xuất bản nầy cũng như nhà xuất bản Phạm Văn
Cường sau nầy không ghi lần tái bản các quyển thơ.
Các nhà xuất bản chắc có dụng ư riêng của họ là không ghi
lần tái bản, để in lậu tránh việc xin cấp giấy phép. Do đó,
chúng ta không thể biết được một số quyển thơ đă tái bản vào
năm nào.
Cũng như truyện tàu sau nầy, phải nói người b́nh dân rất ưa
chuộng thơ, đêm đêm bên ngọn đèn dầu, một người nằm đọc thơ
cho những người khác cùng nghe, đấy cũng là cách giải trí
của người b́nh dân ở thôn quê ngày trước, thỉnh thoảng họ
mới được giải trí với những đoàn hát bộ khi ở đ́nh làng có
cúng kỳ yên, giỗ thần, năm chỉ một đôi lần, cho nên cùng
nhau quây quần nghe đọc truyện ban đêm, khi mùa màng nhàn
rỗi là một thú vui của họ, nhu cầu đọc truyện bắt buộc người
ta phải biết chữ. Từ đó người b́nh dân mới cho con em cấp
sách đến trường làng học đôi năm, họ không có cao vọng cho
con cái học thành tài, làm thầy Thông, thầy Kư, mục dích của
họ là học để biết đọc biết viết, nhất là đọc thơ cho họ nghe
lúc nhàn rỗi. Đó cũng là yếu tố góp phần vào việc truyền bá
chữ quốc ngữ buổi sơ thời ở miền Nam.
Gần một thế kỷ đă qua rồi, thơ khôn c̣n được sáng tác thêm
nữa, trong danh mục chủng loại của thơ, chúng ta có thể tổng
kết được số lượng sau đây :
- Lục Vân Tiên của Nguyễn Đ́nh Chiểu
- Phạm Công Cúc Hoa - Nguyễn Bá Thời, Nguyễn Văn Khỏe
- Lâm Sanh Xuân Nương - Nguyễn Kim Đính
- Thoại Khanh Châu Tuấn - Bà Huỳnh Kim Danh
- Bạch Viên Tôn Các
- Tống Tử Vưu
- Nàng Út
- Chàng Nhái - Nguyễn Bá Thời
- Đơn Hùng Tín I & II
- Dương Ngọc - Bà Huỳnh Kim Danh
- Thạch sanh Lư Thông - Hà Trung
- Con Tấm Con Cám - Nguyễn Bá Thời
- Nam Kinh Bắc Kinh - Bà Huỳnh Kim danh
- Trần Đại Lang
- Lang Châu cùi
- Lư Công - Nguyễn Bá Thời
- Lâm Sanh Lâm Thoại
- Tṛ Đông - Đặng Lễ Nghi
- Tam Nương
- Trần Minh Khố Chuối - Nguyễn Bá Thờ, Nguyễn Văn Khỏe
- Ngọc Cam Ngọc Khổ - Nguyễn Bá Thời
- Ông Trượng Tiên Bửu
- Mục Liên Thanh Đề
- Chiêu Quân Cống Hồ - Đặng Lễ Nghi
- Trần Sanh Ngọc Anh - Nguyễn Bá Thời
- Nhị Thập Tứ Hiếu
- Đương Dương Trường Bản
- Sáu Trọng Hai Đẩu
- Sáu Nhỏ
- Túy Kiều đời nay
- Vân Tiên cờ bạc
- Tiết Giao đoạt ngọc
- Tiết Cương khởi nghĩa
- Phụng Kiều Lư Đáng
- Năm Tỵ
- Phan Công - Nguyễn Bá Thời
- Quan Âm thơ
- Ân t́nh
- Mụ Đội
- Nữ Trung báo oán - Đặng Lễ Nghi
- Hoàng Trừu (Công chúa đội đèn) - Nguyễn Bá Thời
- Chàng chuột Lệ Tiên
- Trần Nhựt Chánh hội tam thê
- Cậu Hai Miêng
- Thơ đi Tây
- Sử Công
- Tiết Đinh San
- Phàn Lê Huê - Hoàng Minh Tự
- Tống tửu Đơn Hùng Tín
- Triệu Tử đoạt ấu chúa
- Phụng Nghi Đ́nh
- Vơ Ṭng Sát Tẩu - Nguyễn Bá Thời
- Lưu Bị cầu hôn Giang tả
- Hạng Vơ biệt Ngu Cơ
- Tề Thiên Đại Thánh loạn thiên đ́nh - Hoàng Minh Tự
- Tam Tạng Thỉnh Kinh
- Bá Áp Khảo dạy đờn Đắc Kỷ
- Mộc Quế Anh dưng cây
- Ông pḥ nhị tẩu - Nguyễn Thành Long
- Tiết Nhơn Quí lấy Ma Thiên Lănh
- Trụ Vương mê Đắc Kỷ
- Xử Bàng Quí Phi
- Chung Vô Diệm hội Kỳ Bàn
- Quan Công thất thủ Hạ B́
- Thôi Tử thí Tề quân
- Quốc Tŕ giả điên
- Giang Đông phó hội
- Tam khí Châu Du
- Phật Tổ ra đời
- Bà Quan Âm
- Trương Ngáo - Hoàng Minh Tự
- Lănh bán heo
- Lưu B́nh Dương Lễ gả vợ cho con
- Cha mẹ dạy con
- Mạnh Lệ Quân
Các loại thơ đặt tiếp theo :
- Hậu Lục Vân Tiên - Nguyễn Bá Thời
- Hậu Phạm Công Cúc Hoa
- Hậu Lâm Xanh Xuân Nương - Thanh Tâm
- Hậu Trần Minh Khố Chuối - Đinh Công Thống
- Hậu Thạch Sanh - Nguyễn Bá Thời
- Hậu Thoại Khanh Châu Tuấn - Nguyễn Bá Thời
- Hậu Bạch Viên Tôn Các
- Hậu Tống Tử Vưu
- Hậu Nàng Út
- Hậu Chàng Nhái - Thanh Tâm
II.- Kết cấu
nội dung
Qua danh mục trên, chúng ta thấy một số lớn thơ được sáng
tác theo chuyện cổ tích, hay truyện Tàu. Nhân vật được xây
dựng đặt trên căn bản quan niệm xây dựng con người của Khổng
giáọ Trai thời : Trung, Hiếu, Tiết, Nghĩa; gái thời : Công,
Dung, Ngôn, Hạnh. Bối cảnh được xây dựng từ đồng quê cho đến
triều đ́nh, cốt chuyện đi từ hoàn cảnh nhân vật nghèo khó,
rồi dần dần bước lên đường công danh sau khi nhân vật chánh
gặp nghịch cảnh trớ trêu, cay nghiệt do những kẻ có ác tâm
hoặc nịnh thần ở triều đ́nh tạo ra, dù cho nghịch cảnh thế
nào đi nữa, phần kết chuyện cũng phải có Hậu, nghĩa là người
ngay được hưởng vinh quang, ân đền nghĩa trả, kẻ gian ác
phải bị trừng phạt. Như Lục Vân Tiên sau cùng được lên ngôi
thiên tử, sau khi trăi qua những nghịch cảnh bị mù ḷa, bị
Trịnh Hâm gạt gẩm xô xuống biển Đông, bị Vơ Công đưa vào
hang núi Thương Ṭng, nhưng những nghịch cảnh như thế, đều
được Tiên, Phật ra tay tế độ cho, rồi Vân Tiên cũng được
thuốc Tiên chữa cho mắt sáng, rồi ứng thí đỗ Quốc trạng, đi
dẹp giặc Ô Qua, gặp lại Nguyệt Nga, cuối cùng một nhà đoàn
tụ vinh hiển. C̣n những kẻ ác tâm như Trịnh Hâm th́ bị đắm
thuyền chết đuối, mẹ con Thể Loan (gia đ́nh Vơ Công) bị cọp
tha.
Bối cảnh, nhân vật, t́nh tiết mỗi chuyện dù có khác nhau,
nhưng nó đều có chung một mô thức như truyện Lục Vân Tiên
của Nguyễn Đ́nh Chiểu.
Thật ra th́ thơ hầu hết là chuyện cổ tích trong dân gian
Việt Nam, một phần là truyện Tàu, chính Nguyễn Đ́nh Chiểu
sáng tác Lục Vân Tiên cũng phải phỏng theo mô thức xây dựng
con người Việt Nam chịu ảnh hưởng Trung Hoa về Tam Cang và
Ngũ Thường của nam giới hay Tam Ṭng và Tứ Đức của nữ giới.
Chẳng hạn như chuyện Trần Minh Khố Chuối.
Trần Công một phủ quan giàu có, đă trộng tuổi mà chưa có con
để nối dơi tông đường, rồi một hôm đi cầu tự ở một ngôi chùa
danh tiếng kia. Nơi dây, Trần Công gặp một viên quan Thị vệ
cũng đi cầu tự, hai bên đồng cảnh ngộ nên kết nghĩa với
nhau, họ hẹn ước gian khổ có nhau, và nếu hai nhà sau nầy kẻ
sanh con trai, người sanh con gái, họ sẽ kết nghĩa thông
gia.
Sau khi cầu tự về, Trần thị có mang, Trần công từ ấy gia
công thi ân bố đức, rồi Trần Minh chào đời, gia đ́nh Trần
công lại thi ân bố đức nhiều hơn, cho đến năm Trần Minh được
7 tuổi, Trần công mất, gia cảnh sa sút nghèo nàn, Trần Minh
phải xin ăn nuôi mẹ, ngày th́ bửa đói bửa no, thân không
mảnh vải che thân phải đóng khố.
Rồi Trần Thị nhớ tới lời hẹn ước xưa, mới cùng Trần Minh đi
t́m quan Thị Vệ, nhưng viên quan Thị Vệ nầy thấy cảnh nghèo
của Trần Minh, bèn ngảnh mặt làm ngơ, mẹ con Trần Thị lại
phải dắt díu tiếp tục ăn xin., rồi Trần Thị mất. Trần Minh
tiếp tục sống tha phương cầu thực và đến huyện Vơ Khê tầm
thầy học đạo.
Ở trường học, con nhà giàu có ỷ lại vào sự giàu sang của cha
me chúng hiếp đáp Trần Minh đủ điều, chàng cam tâm nhẫn nhục
cố gắng học với mục đích bảng hổ đề danh sau nầy.
C̣n viên quan Thị Vệ sau khi xô đuổi mẹ con Trần Thị, muốn
thử ḷng con gái là nàng Đệ Nhất, bèn thuật lại mọi chuyện
của gia đ́nh Trần Minh và mối giây liên hệ với nàng, ông ta
cho biết rằng nếu nàng đồng ư, ông sẽ gă nàng cho Trần Minh.
Nàng tỏ bày bằng ḷng với số phận theo lời giao ước ngày xưa
của cha mẹ hai bên. Ông ta giận dữ, phân tách thiệt hơn cho
nàng nghe, sợ làm phật ư cha, nàng xin cha cho mở một cửa
hàng với dụng tâm t́m cho gặp mặt để giúp đỡ Trần Minh. Nhờ
đó nàng t́m ra manh mối Trần Minh, giúp Trần Minh phương
tiện học hành, đi ứng thí, kỳ thi ấy chàng đỗ Trạng nguyên.
Nam vương liền gả công chúa cho chàng.
Sau khi bái tổ vinh qui, sum họp với nàng Đệ Nhứt, quan Thị
Vệ bị sét đánh chết, sau khi cư tang, vợ chồng Trần Minh trở
lại triều đ́nh, được Nam Vương truyền ngôi, nàng Đệ Nhứt lên
ngôi chánh hậu và công chúa giữ phận thứ phi.
Chuyện Trần Minh không có nhiều t́nh tiết, nghịch cảnh trớ
trêu dồn dập như Lục Vân Tiên. Trần Minh chỉ có nghèo và đi
tới cùng cực của cảnh nghèo là phải đóng khố chethân, xin ăn
qua ngày, phải chịu những cảnh ức hiếp của bọn học tṛ con
nhà giàu, ấy là bối cảnh xă hội thời nào cũng có. Cũng cùng
chung cái cảnh đoạn trường bị từ hôn như Lục Vân Tiên, nhưng
Trần Minh chỉ gặp khổ chớ chẳng gặp cảnh hiểm nguy.
Như đă nói trên, chuyện xưa đều có chung mô thức, kết thúc
phải đi đến chỗ tốt đẹp cho người Trung, Hiếu, Tiết, Nghĩa,
phải ân đền oán trả, những cái oán mà con người chỉ trả
trong giới hạn nào đó, nó không tương xứng với hành động đă
gieo, th́ những kẻ gây oán phải trả theo luật nhân quả nhăn
tiền, kết cục hết sức rơ ràng và minh bạch, nhằm mục đích ‘’
khuyến thiện, trừng gian ‘’.
Đứng về mặt tôn giáo mà nói, nội dung các chuyện có ảnh
hưởng các tôn giáo lâu đời ở nước ta như Phật, Khổng, Lăo,
nó luôn luôn thích hợp với người b́nh dân. Họ tin tưởng vào
đức Phật Tổ để sống đời sống ăn hiền ở lành hay làm lành
lánh dữ. Đề cao Trung, hiếu, tiết, nghĩa của đạo Khổng và
cũng tin tưởng vào pháp thuật của tiên gia để trừ tà, ếm
quỷ, cầu phong, đảo vơ những h́nh thức mà đời sống nông dân
cần đến.
Đọc qua thơ, sẽ thấy nội dung tŕnh bày triết lư sống phổ
quát của người miền Nam, nó cũng là triết lư sống của người
Việt vậy.
III.- Văn
Chương thơ
Thơ như đă đề cập trước, chính danh nó là truyện, như truyện
Kiều, truyện Nhị Độ Mai trong chủng loại của Văn học Việt
Nam. Vậy Thơ là truyện bằng thi ca, kể theo thể lục bát,
h́nh thức của Thi ca b́nh dân, cũng có thể nói Thơ là truyện
hay chuyện diễn ca, nghĩa là người ta dùng h́nh thức thi ca
b́nh dân, để diễn các chuyện cổ tích và trích những đoạn
truyện Tàu thành một khúc ca, v́ vậy mà cùng một chuyện có
thể có vài ba tác giả.
Chẳng hạn như thơ Phạm Công Cúc Hoa có bổn do Nguyễn Bá Thời
soạn, có bổn do Nguyễn Văn Khỏe soạn, thơ Trần Minh khố
chuối cũng vậy, một vài chuyện do hai tác giả soạn như thế,
tựa và lời diễn ca tuy có khác nhưng nội dung chỉ là một.
Ví dụ :
Thơ Chàng Nhái hay Thơ Chàng Nhái Kiểng Tiên
Thơ Lư Công hay Thơ Lư Công Thị Hươu
Thơ Trương Ngáo hay Thơ Trương Ngáo đ̣i tiền Phật
Các công tŕnh văn học quốc ngữ miền Nam (kỳ 4)
Huỳnh Ái Tông
Thể lục bát rất thích hợp cho h́nh thức diễn ca cho chuyện
và cốt chuyện có sẵn, soạn giả chỉ dụng công diễn thành thi
ca, nhiều khi diễn ca có tiết điệu mà không chú trọng về
vần, cho nên nhiều vần bị gượng ép hay thất vận.
Ví dụ :
Phạm Công ngẫm nghĩ gần xa,
Không thi th́ uổng công ta sách đèn.
Chàng bèn ứng thí đậu liền.
Bèn vào yết kiến bệ tiền Hoàng gia (2)
hoặc :
Thà anh thác xuống suối vàng,
Để em ở lại cho nhàn tấm thân.
Em về ở với song thân
Để chi mà chịu nhọc nhằn thế ni ( 3 )
hoặc :
Măng đương bàn bạc sự t́nh,
Lang vương đắc ư rượu đào giao bôi.
....
Chiêu Quân liếc ngó Vương Long,
Bèn trao mê dược tửu trung bỏ vào.
...
Chiêu Quân thôi mới tâu vào,
Người Mao Diên Thọ Hớn trào gian hung.
Vốn tôi có sự cừu nhân,
Cho tôi tẩy oán thành thân mới đành.
Cừu nầy tôi trả chẳng xong,
Tôi nguyền mạng một trôi gịng biên giang. (4)
Trong số các soạn giả thơ - trừ Nguyễn Đ́nh Chiểu - chỉ có
Hoàng Minh Tự gieo vần nghiêm chỉnh hơn cả.
Cũng có câu vần được dời từ chữ thứ 6 câu 8, sang chữ thứ 4
câu 8 như :
Đoạn nầy nói việc mụ già,
Cưới dâu về nhà, tính đă ba năm. (5)
hay :
Gieo tiền thầy nói vội vàng,
Hoàng hậu rơ ràng, ḿnh mới thọ thai (6)
Cách gieo vần nầy, chúng ta thấy một số câu trong Chinh Phụ
Ngâm :
Ngập ngừng lá rụng cành trâm,
Buổi hôm nghe dậy tiếng cầm xôn xao.
Hẹn nơi nao, Hán Dương cầu nọ,
Chiều lại t́m nào có tiêu hao.
Ngập ngừng gió thổi áo bào,
Buổi hôm tuôn đẩy nước trào mênh mông.
Ngay chính trong Ca dao cũng có gieo vần như vậy :
Chị Xuân đi chợ mùa Hè,
Mua cá Thu về, chợ hăy c̣n Đông.
hay :
Đèn nào cao cho bằng đèn Châu Đốc,
Gió nào độc cho bằng gió G̣ Công.
Thổi ngọn Đông phong, lạc vợ xa chồng,
Nằm đêm nghĩ lại, nước mắt hông tuôn rơi.
Về tiểu đối hay b́nh đối th́ rất hiếm, nhưng cũng có :
Ầm ầm nổi trận phong lôi,
Sấm rền gió dập, sóng dồi mưa chang (7)
hay:
Ngày đêm lội suối qua đ̣,
Băng truông tuyết đượm, qua đ̣ nắng chan (8)
Cũng dùng lối hồi văn như :
Nh́n nhau bốn mắt ṛng ṛng,
Nh́n nhau chạnh dạ xót ḷng biết bao. (9)
dùng lối điệp ngữ như
Tạc thù chén lại chén qua
Càng phân việc trước, càng ḥa chén sau. (10)
Như lối hồi văn và điệp ngữ trong Chinh Phụ Ngâm :
229 Chẳng hay muôn dặm ruỗi dong,
Ḷng chàng có cũng như ḷng thiếp chăng.
Ḷng chàng ví cũng bằng như thế,
Ḷng thiếp đâu dám nghĩ gần xa.
Hướng dương ḷng thiếp dường hoa,
Ḷng chàng lẫn thản e tà bóng dương.
Và :
225 Hoa trải nguyệt, nguyệt in một tấm,
Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông.
Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng.
Trước hoa dưới nguyệt trong ḷng xiết đau.
Trong Ca dao cũng có :
Thiếp than cha mẹ thiếp nghèo,
Thiếp than phập thiếp như bèo trôi sông.
hay :
Gió đưa gió đẩy về rẩy ăn c̣ng,
Về sông ăn cá, về đồng ăn cua.
Đôi chỗ có những câu thất luật như:
Gian nan bậu chịu trăm đường,
Thảm sầu luống những đoạn trường xiết chi.
Anh muốn hạ tờ phân ly,
Lại e thất hiếu lễ nghi sanh thành. (11)
Nếu như soạn giả cẩn thận trao chuốc câu văn, chỉ cần đảo
vị, đă tránh được thất luật :
Hạ tờ anh muốn phân ly,
Lại e thất hiếu lễ nghi sanh thành.
Nhưng đặc tính b́nh dân của Thơ là ở chỗ không dùng hay ít
dùng đến điển tích, nhờ vậy người b́nh dân đọc dễ hiểu,
chính chỗ đó, Thơ đă được họ ưa chuộng. Tuy nhiên không phải
hoàn toàn không dùng điển tích và từ Hán Việt:
Xuân Nương phân hết đuôi đầu,
Lâm Sanh nghe nói hột châu tuôn dầm.
Tưởng là dứt giải đồng tâm,
Hay đâu lại đặng sắt cầm sánh đôi.
Truyền quân vội chước kim bôi,
Cha con chồng vợ vầy vui một nhà (12)
Những từ như Phụ vương, Hoàng Hậu, Thái Tử ... được dùng
nhiều, cho nên người b́nh dân cũng dễ hiểu, tính chất b́nh
dân c̣n ở chỗ hành văn b́nh dị, dùng từ thông dụng, có tánh
cách địa phương như :
Thầy Viên vội vả vái vang,
Lâm dâm miệng vái tứ phan chư thần (13)
Công Nương cũng dự hồng nhan,
Muốn đưa cho Trạng dượu vàng kết đôi (14)
Ta đem nàng lại ṭa chương,
Tâu cùng vương phụ cho tường sự dươn(15)
Hành văn, người ta cố tránh những chữ th́, mà, là .. nhưng
trong thơ không thiếu ǵ những chữ ấy. Đặc biệt soạn giả hay
dùng: kia là, thay là như từ đệm :
Dặn nhau cho chiếc chiếu manh kia là (Phạm Công Cúc Hoa)
Gắng công đèn sách thảo ngay kia là (PCCH)
Về ai nấy mặc mới xongkia là (PCCH)
Học tṛ cười nói đă vang kia là (PCCH)
Đẹp thay cảnh vật kia là (Hậu Lâm Sanh)
Khen rằng như thế vẹn trinh thay là (HLS)
Vẹn toàn ở lại đông phương kia là (Hậu Thoại Khanh)
Máu hồng tuôn chảy hăy kinh kia là (HTK)
Binh thuyền ước hạn chật sông kia là (Dương Ngọc)
Nàng hồi tiên cảnh đắng cay thay là (Bạch Viên Tôn Các)
Tôn Hương, Tôn Lượng đẹp xinh kia là (BVTC)
Mỹ vị quí lại cao lương thay là (Con Tấm Con Cám)
Và cũng hay dùng từ ni :
Cớ nào mà chạy theo rừng thể ni (Hậu Chàng Nhái)
Mặc t́nh trai gái phỉ nguyền ḷng ni (Dương Ngọc)
Tôi muốn đoán thật quẻ ni (DN)
Nào hay nhơn đạo t́nh đời thế ni (Trần Minh Khố Chuối)
Sử dụng những từ đệm như trên, nó giúp cho soạn giả hành văn
dễ dàng, nhưng chính ở chỗ đó làm hại văn chương, nó đă đẩy
soạn giả tới chỗ không cần trao chuốc câu văn, lập đi lập
lại một từ rất thông thường, như vậy làm cho bản văn trở nên
tầm thường, thiếu tánh cách văn chương trao chuốc.
Đôi khi, cách hành văn bỗng trở nên ví von như :
Anh nên day lại xem rành,
Ngựa xe em đă sắm sanh sẵng sàng.
Bây giờ anh kiếp sữa sang,
Đặng mà xuống chốn Tràng an kịp th́.
(Trần Minh Khố Chuối)
Như người ta nói đùa một câu toàn là vần ‘’ s ‘’: Sáng sớm
sắm sanh sữa sang sáng sủa sẵn sàng xuống sở‘’.
Thơ nói chung, soạn giả đua nhau sáng tác, nhà xuất bản đua
nhau phát hành, không chú trọng về h́nh thức tŕnh bày, về
hành văn cho sáng sủa mang tánh chất văn chương, có những
quyển đă tái bản 15 hay 20 lần, nhưng nó cứ y : ‘’ Bổn cũ
soạn lại ‘’, nhiều lầm lỗi đáng trách, như tập Hậu Vân Tiên
có h́nh của Nhà Xuất bản Phạm Văn Cường, in trọn trang 22
cũng là trang chót, in nhầm một đoạn của truyện Lục Vân Tiên
từ câu 1943 đến câu 1996, cho nên bản Hậu Vân Tiên nầy không
có đoạn chót.
Các nhà xuất bản cũng không sữa chửa lỗi chánh tả, v́ chữ
Quốc ngữ lúc c̣n phôi thai, chánh tả chưa phân minh hoặc do
thợ nhà in sắp chữ sai.
Ngày nay muốn nghiên cứu về thơ, chúng ta sẽ gặp nhiều khó
khăn do các nhà xuất bản không chú trọng về sản phẩm của họ,
trước năm 1975 nhà phát hành Phạm Văn Cường, 171 Khổng Tử,
Chợ Lớn vẫn c̣n in ấn phát hành các lọai Thơ, Truyện, Tuồng.
Nhưng độc giả đă hiếm rồi, sách in giấy xấu, khó lưu trữ,
sau nầy sưu tập sẽ hết sức khó khăn.
IV Kết luận
Sau khi nghiên cứu qua thơ, chúng ta thấy rằng nó đă được
phổ biến một cách rộng răi trong giới b́nh dân, v́ từ ngữ và
nội dung thơ mang tính chất b́nh dân, đặc trưng nầy không
thể phủ nhận được.
Theo luật cung cầu tự nhiên, giới b́nh dân thuở trước giải
trí khi làm việc th́ có câu ḥ, giọng hát, lúc ngày mùa nhổ
mạ, cấy lúa, gặt hái, những đêm trăng thanh gió mát, xay lúa
giả gạo. Lúc nhàn rỗi nằm nghe kể chuyện đọc thơ, thỉnh
thoảng xem hát bội ở đ́nh làng. Những thứ giải trí ấy, không
chỉ thuần tính chất giải trí, nó c̣n mang tính cách giáo dục
nữa.
Chúng ta có dân tộc tính, nhưng không thể chối cải ảnh hưỡng
sâu đậm và lâu dài của tư tưởng học thuật Trung Hoa đối với
đời sống tinh thần và vật chất của người Việt Nam, dân tộc
chúng ta luôn luôn chống tính đồng hóa của người Trung Hoa,
nhưng chấp nhận thu thái những tinh hoa văn hóa Trung Hoa và
Ấn Độ và các nước khác. Cho nên quan niệm ‘’ Văn dĩ tải đạo
‘’ của Hàn Dũ, vẫn là quan niệm hàng đầu của những nhà văn
thuở trước, điều nầy trong một số tập thơ cũng có nhắc tới
như :
Trời kia hữu nhăn rất tài,
Bao giờ nở phụ độc rày thơ nhơn.
Tích xưa truyện cũ đành rành,
Cho hay muôn việc học hành phải lo.
(Trần Minh Khố Chuối của Nguyễn Bá Thời)
Xem qua tích cũ ngậm ngùi,
Chí công thiên địa đầu đuôi tích nầy.
Thiện ác hữu báo cho hay,
Khá xem chuyện cỗ người nay giữ ḿnh.
(Hậu Thạch Sanh của Nguyễn Bá Thời)
Ở cho biết ngải biết nhân,
Biết Trung biết hiếu quỷ thần cũng kiên.
Tu nhơn tích đức ḷng hiền,
Lễ nghi trọn giữ ḷng thiền hiếu trung.
(Mục Liên Thanh Đề của Bà Huỳnh Kim Danh)
Hiếu trung người thế giữ toàn,
Theo hiền lánh dữ tầm đàng chánh ngay.
Hoàng Trừu dứt tích từ đây,
Giúp chư liệc vị giải khuây đêm tràng.
(Hoàng Trừu của Nguyễn Bá Thời)
Đến đây chúng ta đă thấy quá tŕnh của chữ Quốc ngữ nó đi từ
phiên âm đến ghép câu, điển chế, báo chí, diễn ca rồi nó sẽ
đi đến dịch truyện Tàu và sáng tác tiểu thuyết sau nầy.
Thơ đă trải qua giai đoạn phát sinh, hiện hữu và suy tàn, nó
đă làm tṛn nhiệm vụ một cách xứng đáng. Nó đă để lại trong
văn học miền Nam một thời kỳ, như một cành hoa cỏ dại nở ven
cánh rừng, bởi v́ nó là giai đoạn chập chửng, ḍ dẫm từng
bước, để tiến nhanh khi đến giai đoạn trưởng thành của chữ
Quốc ngữ.
Đứng về mặt văn hóa, thơ là bước đầu tiên rồi sang truyện
Tàu là nền tảng để xây dựng cho tiểu thuyết sau nầy, kể cả
các mặt sáng tác và thưởng ngoạn, thơ đă góp phần vào nền
văn hóa đặc thù miền Nam.
Ngày cuối năm 2000
Ghi chú :
1.- Một số soạn giả c̣n được ghi trên các quyển thơ tái bản
sau nầy.
2.- Nguyễn Bá Thời, Phạm Công Cúc Hoa, trang 11, Nhà Xuất
Bản Thuận Ḥa, Sàig̣n, Việt Nam.
3 & 5.- Nguyễn Kim Đính, Lâm Sanh Xuân Nương, trang 1, NXB
Phạm Văn Cường, Sàig̣n, VN.
4.- Đặng Lễ Nghi, Chiêu Quân Cống Hồ, trang 9, NXB Phạm Văn
Th́nh, Sàig̣n, VN
3 & 5.- Nguyễn K im Đính, Lâm Sanh Xuân Nương, trang 1, NXB
Phạm Văn Cường, Sàig̣n, VN.
6.- Bà Huỳnh Kim Danh, Dương Ngọc, trang 2, NXB Phạm Văn
Cường, Sàig̣n, VN
7.- Nguyễn Bá Thời, Hoàng Trừu, trang 11, NXB Phạm Đ́nh
Khương, Sàig̣n, VN
8.- Nguyễn Văn Khoẻ, Trần Minh Khố Chuối, trang 5, , NXB
Phạm Văn Th́nh, Sàig̣n, VN
9 & 10.- Nguyễn Văn Khoẻ, Trần Minh Khố Chuối, trang 13, NXB
Phạm Văn Th́nh, Sàig̣n, VN.
9 & 10.- Nguyễn Văn Khoẻ, Trần Minh Khố Chuối, trang 13, NXB
Phạm Văn Th́nh, Sàig̣n, VN.
11.- Nguyễn Kim Đính, Lâm Sanh Xuân Nương, trang 1, NXB Phạ
m Văn Cường, Sàig̣n, VN.
12.- Nguyễn Kim Đính, Lâm sanh Xuân Nương, trang 16, NXB
Phạm Văn Cường, Sàig̣n,VN.
13.- Bà Huỳnh Kim Danh, Dương Ngọc, trang 2 NXB Phạm Văn
Cường, Sàig̣n, VN. 1958
14.- Nguyễn Văn Khoẻ, Trần Minh Khố Chuối, trang 16, NXB
Phạm Văn Th́nh, Sàig̣n, VN
15.- Bà Huỳnh Kim Danh, Nàng Út, trang 7, NXB Phạm Văn
Cường, Sàig̣n, VN
|