Những từ “đặc biệt”

trong Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ

 Nguyn văn Hip

 

Mỗi khi tán dương văn tài của Đức Huỳnh Giáo Chủ, mọi người thường nhắc đến câu thơ mà Ngài viết trong bài “Nang Thơ Cẩm Tú” tại làng Nhơn Nghiă ngày 29-5 Canh Th́n :

 

“Miệng nhích môi đầy văn tao nhă,

                                                  Hạ bút thần thơ đă đề khai.”

 

Sau nầy, Ban Phổ Thông Giáo Lư Trung Ương Giáo Hội PGHH (Nhiệm kỳ I, 1964-1966) trong bài “Vài nét về Đức Huỳnh Giáo Chủ” có viết : “Văn chương của Ngài cực kỳ b́nh dân nhưng rất hàm súc hấp dẫn. Ngài viết không cần giấy nháp.” và trong bài KHẢI NGÔN th́ cho biết :”Một điều đặc biệt đáng chú ư là trong khi cầm bút, dù tản văn hay vận văn, Ngài luôn luôn viết thẳng một mạch không vấp không ngưng, không dùng giấy nháp và không hề bôi xóa, cắt xén như các văn sĩ thường làm…” Thêm vào đó, rải rác trong Sấm Giảng và Thi Văn Giáo Lư, chính Ngài cũng đă tỏ lộ thâm ư và mục đích của ḿnh :

 

                                     -“Kể từ nay nói chuyện chiều mơi,

Chớ chẳng nói dông dài khó hiểu.” (Q.2 – Tr.66)

 

-“Quyết dạy trần nên nói lời thường,

                 Cho sanh chúng đời nay dễ biết.” (Q.4 - Tr.90)

 

                                      -“Dạy bổn đạo nói câu trung đẳng,

  Chẳng nói cao v́ sắp rốt đời.” (Q.4 – Tr.106)

 

                                      -“Bút nghiên hạ viết bài an lạc,

Dẫu cho người dốt nát cũng nghe.”

                          (Xuân hạ tác cuồng thơ – Tr.281)

 

-“Xuống trần lăo dụng khuyến ca,

Đầu đuôi cạn tỏ ngâm nga ít bài.”

                             (Từ giă bổn đạo khắp nơi – Tr.282)

 

Chính v́ vậy mà chỉ trong một thời gian ngắn, Ngài đă thu phục được gần hai triệu tín đồ tại miền Tây Nam Việt mà đa số là hạng dân quê ít học và chất phác. Điều nầy, đă được Cố Giáo sư Nguyễn văn Hầu nhận xét như sau :

-“ Phải có lối b́nh dân giản dị mới làm rung động được những tâm hồn phác thực, trong lành .

- Phải có tính chất vần vè mới gợi cảm được những quả tim mà từ khi c̣n ở trong nôi, đă từng biết nghe những câu hát ru em qua tiết điệu Ca-dao, thơ Vân-tiên, vè Sáu-Trọng .

- Phải có những tiếng nói, nói được cái nói của gă chèo đ̣, của cô hàng nước, của bác nông phu, mới có tác dụng kích động tâm tính hồn nhiên của những hạng người ấy một cách chân thành.”

Cùng với ḷng tôn kính vô biên và tán thán văn tài kiệt xuất của Đức Tôn Sư,  chúng tôi xin được tŕnh bày về những từ ngữ hết sức “đặc biệt” mà ĐHGC đă sử dụng trong các bài thơ văn để thấy rằng Ngài quả thật là một bậc siêu phàm, quán thế.

Trước hết, như lời Ngài cho biết :

“Chuyển miền Nam địa lung lay,

Nam Trung cùng Bắc một tay giáo đời.”

                  (Để chơn đất Bắc – Tr.262)

V́ vậy, chúng tôi thấy tiếng địa phương của ba miền Nam Trung Bắc đều có đủ trong quyển SGTV-TB :

            - Tiếng miền Bắc : vang mồm niệm Phật (tr.34) gà cồ ăn bẩn (tr.91) Ta đà kể nốt (tr.129) đ̣i xơi bữa (tr.272) gát bút nghĩ suy (tr.251) cất bút mượn thi ca (tr.268) hết bỡn Khùng Điên (tr.281) bút liền ra cơ (tr.283) lầm than bể khổ (tr.292) đút nhét đầy mồm (tr.293) mặc áo, mặc quần (tr.404) thấy bát đầy đây (tr.407) mà nhờm đi thôi (tr.442) để ṿi mề đay (tr.463) mà bẩn tiết trinh (tr.466) …

            -  Tiếng miền Trung : chuyện ni tỏ tường (tr.49) chuyện ni rơ ràng (tr.78) thiệt rành tiếng ni (tr.79) bằng ni rơ ràng (tr.79) Về chốn ni (tr.98) đâu biết ở (tr.132) cũng lẽ tự ni (tr.206) Bịnh ni là tâm bịnh (tr.364) như thể bây chừ (tr.380) Chừ dầu có (tr.419) hùng cường thế ni (tr.465) dạ mỗ (tr.207) thân mỗ (tr.323)…

            -  Tiếng miền Nam : vưng lịnh Minh Vương, Phương Tây (tr.25, 49, 61, 189) ḍm xem (tr. 37, 44, 264, 271, 288) Ḍm biển trần (tr.56) ḍm thấy (tr.42, 59) bận áo màu (tr.44) chuông đồng Phật bự (tr.64) nói chuyện chiều mơi (tr.66, 73, 76, 84, 244) rồi lại đói mơi (tr.70) Ḍm trước mắt (tr.89) mà dưng làm ǵ ? (tr.77) cũng là quá bự (tr.107) cơi Tiên mới bảnh (tr.108) đỡ nưng chống chỏi (tr.124, 336) chay to đám bựdưng cúng bạc tiền (tr.136) dang lưng mà chịu (tr.94, 369) lớn nhỏ quày vià (tr.200) Đặng trở lợi (tr.203) vưng sắc Ngọc ṭa (232) Thừa vưng sắc lịnh (244) đến chưn, ôi ! khó nhảy (tr.265) Ḍm khắp chốn (tr.281) Ḍm trong bản chữ (tr.283) Lo nưng đỡ (tr.291) ḍm êm trời (tr.299) ḍm lưng trời (tr.301) mang soi bận áo dà (tr.311) ḍm riết chú chàng vùng mắc cỡ (311) ḍm ngó…ḍm trời (tr.313) có tật đái dầm (tr.384) ổng quên…ổng đành…ổng kéo (tr.422) đứa biểu đầu…đứa biểu đừng (tr.426) Đành ngó non sông (tr.461)…

            Ngoài ra, có những cụm từ thường xuất phát từ cửa miệng của giới b́nh dân, quê mùa, chất phác (mà phần lớn là dân miền Tây Nam Việt) cũng đă được Ngài đem vào :  

           -  chẳng có bao dai (tr.27) - miệng nói vang rân (tr.32) – làm chức nắc nia (tr.33) - con đĩ chó (tr.38) – nhổ bừa cái răng (tr.44) - nói riết dần lân (tr.50) –có ăn bỏn sẻn (tr.58) - chưởi mắng um sùm (tr.64) - các việc tầm phào  (tr.75) – ăn xài lả lê - chưởi thề vang rân (tr.84) – th́ rinh ra ngoài (tr.85) – thêm bắt chán (tr.188) - thấy chàng ray (tr.187) - ră bèn sạch trơn (tr.215) - khéo bày bá láp (tr.255) - có mấy lăm hơi (tr.271) – lê mê lết mết (tr.291) – quèo móc chi ta…đi xa đánh chén…rỗi nhàn cụng ly (tr.332) – quá cũ mèm ! (tr.336) - chần ngần chun ra (tr.378) – đ̣n bể đít (tr.384) - một lần sướng rang (tr.455) – phùng mang trợn mắt (tr.463) - ngồi trơ mỏ chó (tr.464)…

            Bên cạnh những từ địa phương của ba miền Nam Trung Bắc, c̣n có một số tiếng Pháp và Tàu cũng được ĐHGC sử dụng :

-         Lang-sa (Francaise = nước Pháp, tiếng Pháp) (tr.20, 77)

-         toa mỏa (toi moi = tao mầy hoặc tôi và anh) (tr.362)

-         mét-x́ (merci = cám ơn) nơ-quô-rẻn (ne vaut rien = không ǵ cả) Xăng-phú-ba-manh (S’en f…pas mal) (tr.372)

-         “ách-ta-lê” (Hatle là ! = Ê ! đứng lại đó) (tr.422)

-         Ạc-núc (tên Thực dân Pháp) (tr.425) Đờ-cu (Decoux = Tên toàn quyền người Pháp) (tr.426)

-         Phát-xít (Fasciste) (tr.46) - mề-đay (médaille = huy chương) (tr.463)

-         Ba-ri (Paris = thủ đô nước Pháp) (tr.465)

-         bót (poste de police = trạm cảnh sát) (tr.46)

-         xẩm hia (tiếng Trung hoa = thím và anh) (tr.269)

Hoặc có một vài từ nói lái sau đây :

-         Dùng tôi thiểu mà an bá tánh (tr.110) tôi thiểu à tiêu thổi

-         Xứ “Hà Tiên” linh hiển cơ quan (tr.199) “Hà Tiên” à Hiền ta.

(Được biết, khi c̣n ở Tổ Đ́nh, Đức Thầy thường xưng là “Thầy tu”à thù Tây, hay “bán chồng” à bóng chàng, cũng như Trạng Tŕnh Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) cách nay 380 năm có tiên đoán “Bất chiến tự nhiên thành” c̣n Đức Thầy th́ “Ra đời bất chiến”(tr.192). Phải chăng “Bất chiến” tức là “Biến chất” từ Cộng sản tự nhiên thành Dân chủ Tự Do mà không cần đổ máu như các nước ở Đông Âu và Liên-Xô hồi 18 năm về trước ?). Mới đây, trong Nội san Tinh Tấn số 07 cũng có một câu nói lái ngộ nghĩnh như sau: “đây là lần ấn tống Kinh Giảng của Đức Thầy với h́nh thức trong trạng nhất.”(tr.170)

            Đồng thời, ĐHGC c̣n sử dụng một số từ kép nửa mới nửa cũ đă làm cho âm điệu thơ văn của Ngài càng thêm gần gũi với ca dao, ḥ vè Nam bộ :

            -  bông lông (tr.26, 40) – sơ sơ (tr.26, 320) - lăng xăng (tr.30, 40, 44, 46, 130, 310, 332) – thoi loi (tr.45) - dần lân (tr.50) – phang ngang (tr.75) – hoa hoè (tr.76) – lung lăng (tr.78) - hồ đồ (tr.79) - lục thục (tr.93) - ḷng ḍng (tr.94) - thẳng bẳng (tr.108) - lỏng bỏng (tr.124) – lu bù (tr.130) – bôn chôn (tr.131) - thủng thỉnh (tr.181) - long đong (tr.190, 195, 221, 288, 369) – sồn sộn (tr.19) - lôi thôi (tr.196) – thung dung (tr.224) – lưng chưng (tr.249, 323) – lùng tung (tr.230, 231) – nưa nửa (tr.293) - thỏn mỏn (tr.295) – lung tung (tr.315, 330) - lụp bụp, lây quây, men mét (tr.319) – lỡ vở (tr.332) – lát đát (tr.333) - ong ỏng (tr.337) – ngà ngà (tr.343) – linh đinh (tr.350) - lục đục (tr.368) – lăng quằng (tr.377) - chần ngần (tr.378) – li b́ (tr.418) – tanh banh (tr.454)…

Điều đáng ghi nhận nữa trong cách dùng từ vô cùng “đặc biệt” của ĐHGC là từ “nói trại” (to mispronounce as…). Thông thường, nói trại là do cách phát âm khác nhau giữa hai miền Nam Bắc như : ngày mơi -> ngày mai,  vơ trụ -> vũ trụ,  huỳnh hôn -> hoàng hôn,  vít t́ -> vết t́,  bịnh t́nh -> bệnh t́nh,  trở lợi -> trở lại, đi vià -> đi về…hoặc do từ cổ và từ mới như : thoàn -> thuyền,  giái -> giới, quờn -> quyền,  tầm -> t́m, phang -> phương, ngỡi -> nghiă…hay do sự húy kỵ từ triều đ́nh nhà Nguyễn đặt ra như : Hoa kiều -> Huê kiều, Vĩnh Long -> Văng Long… Trong quyển SGTV-TB, chúng tôi t́m thấy có rất nhiều từ nói trại như sau :

-         thiềng thị à thành thị (tr.39, 40, 48) - Thị thiềng à Thị thành (tr.30, 40, 46, 48, 348)   

-         thiềng ḷng à thành ḷng (tr.30) - thiềng tâm à thành tâm (tr.33)

-         Thiên Trước à Thiên Trúc (tr.30, 55, 187)

-         bực tu mi à bậc tu mi (tr.56, 369) – pháp tràng à pháp trường (tr.56)

-         đảnh núi à đỉnh núi (tr.69)  - đảnh thượng à đỉnh thượng (tr.69)

-         tầm bực à t́m bực (tr.69) – tầm phương à t́m phương (tr.122) 

-         bốn phang à bốn phương (tr.354) - tầm kiếm à t́m kiếm (tr.54, 250)

-         máu điều à máu đào (tr.94) - thiệt hành à thực hành (tr.135, 327)

-         ngũ giái à ngũ giới (tr.99) - Thượng Giái à Thượng Giới (tr.65, 108, 349)

-         Hạ giái (tr.263), tŕ giái (tr.298), thế giái (tr.327) à Hạ giới, tŕ giới, thế giới.

-         Bát Nhă Thoàn, thoàn nhă à Bát Nhă Thuyền, thuyền nhă (tr.54, 377)

-         cỡi thoàn à cỡi thuyền (tr.73) – thoàn nhỏ à thuyền nhỏ (tr.187, 232, 263)

-         thoàn t́nh à thuyền t́nh (tr.262) - dời thoàn à dời thuyền (tr.202)

-         chèo thoàn à chèo thuyền (tr.299) – thoàn linh đinhà thuyền linh đinh (tr.350)  -  xa xuôi à xa xôi (tr.105, 245, 288, 305, 307, 410)

-         Khùng troàn à Khùng truyền ? (tr.104) sạ dươn (tr.72, 75, 244)à sạ duyên ?

-         làm dươn à làm duyên (tr.47, 57) - tuần hườn à tuần hoàn (tr.125, 354, 420)

-         tước quờn à tước quyền (tr.198, 328) – nâu sùng à nâu ṣng (tr.422)

-         các bực à các bậc (tr.265) - bực Thánh à bậc Thánh (tr.292)

-         bực siêu nhơn à bậc siêu nhân (tr.297) - bực anh hào à bậc anh hào (tr.380)

-         bực tiên hiền à bậc tiên hiền (tr.117) – đúng bực à đúng bậc (tr.262)

-         đói mơi à đói mai (tr.70) - chiều mơi à chiều mai (tr.66, 73, 76, 84, 244)

-         kiểng tiên à cảnh tiên (tr.245, 250) - kiểng vật à cảnh vật (tr.361)

-         đương cơn à đang cơn (tr.454) – đương đồ thán à đang đồ thán (tr.249) - bốn phang à bốn phương (tr.354) - đoạn tràng à đoạn trường (tr.350)

-         đảm đương à đảm đang (tr.342) - huỳnh hôn à hoàng hôn (tr.291)

-         pḥng huê à pḥng hoa (tr.120) – vinh huê à vinh hoa (tr.43, 137, 258, 460)

-         trồng huê à trồng hoa (tr.328) – huê mỹ à hoa mỹ (tr.105)

-         thẳng kiếng à thẳng cánh (tr.134) - thiệt hành à thực hành (tr.135, 327)

-         đồng thinh à đồng thanh (tr.138) – năo nồng à năo nùng (tr.106, 204, 254, 259) - thiệt thà à thật thà (tr.340)

-         nhơn ngỡi à nhân nghiă (tr.393) - đạo ngỡi à đạo nghiă (tr.298)

-         bằng an à b́nh an (tr.302, 419) – nhu sĩ à nho sĩ (tr.320)

-         vơ trụ à vũ trụ (tr.352, 385) – vó cu à vó câu (tr.300,319)

-         yên hào à anh hào (tr.351) – ngày mùng à ngày mồng (tr.230, 231)

-         tân tấn à tân tiến (tr. 117) - hẫng hờ à hững hờ (tr.139, 362, 451)

-         hạnh phước à hạnh phúc (tr.472) – hy sanh à hy sinh (tr.473)

-         giải vi à giải vây (tr.443) – phương phép à phương pháp (tr.211)

           Tuy nhiên, c̣n một cách dùng từ thật “đặc biệt” nữa của ĐHGC là đảo ngữ. Có lẽ do nhu cầu âm vận giữa các câu thơ mà Ngài đẵ dùng rất nhiều từ đảo ngữ trong Sấm Giảng và Thi phú của Ngài. Điều suy đoán nầy, chúng tôi xin chờ các nhà nghiên cứu và các bậc cao minh phán đoán :

-  cấn gay à gay cấn (tr.27) – thông lảu à lảu thông (tr.35)     

            -  pha xông à xông pha (tr.309) # xông pha (tr.123, 416, 418) - hiền tu à tu hiền    

               (tr.312) # tu hiền (tr.220)

            -  thảo lương à lương thảo (tr.488) - trẻ trai à trai trẻ (tr.58) 

            -  kính thành à thành kính (tr.58) - lương hiền à hiền lương (tr.54, 58, 60,421)

                # hiền lương (tr.70, 72)

            -  cần chuyên à chuyên cần (tr.59, 73, 124) # chuyên cần (tr.73)

            -  gạt lường à lường gạt (tr.27) - góp tom à tom góp (tr.301)

            -  trễ bê à bê trễ (tr.387, 319)  - thơi thảnh à thảnh thơi (tr.56)

            -  b́nh ḥa à ḥa b́nh (tr.117) - nhứt thống à thống nhứt (tr.104)

            -  tranh cạnh à cạnh tranh (tr.110) # cạnh tranh (tr.117)

            -  hạng nắng à nắng hạn (tr.295)

            -  sầu ưu à ưu sầu (tr.126) - cừu oán à oán cừu (tr.126)

            -  góp tom à tom góp (tr.126, 285) - dân thứ à thứ dân (tr.55)

            -  trang vơ à vơ trang (tr.118) - tráng cường à cường tráng (tr.124)

-  Thích- đạo -> đạo Thích (tr.204, 265) - siêu cao à cao siêu (tr.224)

-  tố trần à trần tố (tr.249, 301) # trần tố (tr.292) 

-  giái ngũ qui tam à tam qui ngũ giái (tr.379) # tam qui ngũ giái (tr.377)

-  tịnh thanh à thanh tịnh (tr.404) - cao thanh à thanh cao (tr.60)

-  bộn bề à bề bộn (tr.39) - bại lụn à lụn bại (tr.370)

-  thế trần à trần thế (tr.72) # trần thế (tr.111)

-  khờ khật à khật khờ (tr.136, 267) - đài lầu à lầu đài (tr.205)

-  trần hồng à hồng trần (tr.282) - giục thúc à thúc giục (tr.223, 289, 319, 321)

-  thảo thuận à thuận thảo (tr.295) - liễu kết à kết liễu (tr.314)

-  châu trân à trân châu (tr.316) - siểm gièm à gièm siểm (tr.334)

-  xé xâu à xâu xé (tr.348) - sơn xuyên à xuyên sơn (tr.349)

-  môn tông à tông môn (tr.354) - cau mo à mo cau (tr.362)

-  luân trầm à trầm luân (tr.371)# trầm luân (411) - cao thanh à thanh cao (384)

-  trọng tôn à tôn trọng (tr.415) - tầm truy à truy tầm (tr.460)

-  đạp vày à vày đạp = giày đạp (tr.462) - thơi thảnh à thảnh thơi (tr.56)

-  xéo vày à vày xéo = giày xéo (tr.129) - tục thô à thô tục (tr.292)

-  báu quí à quí báu (tr.63) - thương thảm à thảm thương (tr.218, 219)

-  luận biện à biện luận (tr.298) - cang kỷ à kỷ cang (tr.315, 338)…

Tuy nhiên, điều cần phải nói thêm là ngoài các từ “đặc biệt” trên, chúng tôi c̣n t́m thấy được rất nhiều Thành Ngữ Điển Tích trong quyển SGTV-TB :

          - Thành Ngữ :

          Trộm gà cắp vịt (tr.82) đàng tiên cơi tục (tr.82) lên ngựa xuống xe (tr.57, 82)

          Gà cồ ăn bẩn cối xay (tr.91) gạo châu củi quế (tr.111) chia áo rẽ bâu (tr.111)

          dày gió dạn sương (tr.115) ngọc thốt hoa cười (tr.119)

          dăi gió dầm mưa (tr.125) c̣ bay thẳng kiếng (tr.134) bọt nước làn mây (tr.134)

          rày đó mai đây (tr.134) gặp sông quên nguồn (tr.139)

          mắt lấp tai ngơ (tr.139) ăn giấy bỏ bià (tr.285) nước đổ lá môn (tr.207)

 mua bưởi bán bồng (tr.285) gió kép mưa đơn (tr.244) kim chi ngọc diệp (tr.288)

 được cá quên nơm (tr.293) đặng chim bẻ ná (tr.293) thiên kim vạn lượng (tr.293)

 đầu trâu mặt ngựa (tr.293) ngưu đầu mă diện (tr.316)

 đồng khô cỏ cháy (tr.301) tiếng kèn lời huyễn (tr.316) tang bồng hồ thỉ (tr.318)

 mưa ḥa gió thuận (tr.321) biển lấp non dời à dời non lấp biển (tr.321)

 phú trọng bần khinhà trọng phú khinh bần (tr.325)

 múa mỏ khua môi (tr.329) miệng mối lưỡi lằn à miệng lằn lưỡi mối (tr.341)

 xổ lồng tháo củi à tháo củi xổ lồng (tr.342) Mài sắt nên kim (tr.369)

 Mưa đơn gió kép (tr.377) biển cạn non ṃn (tr.378)

 Nằm gai nếm mật (tr.380) Nền xưa nếp cũ (tr.385) thở vắn than dài (tr.385)

 giá áo túi cơm (tr.442) nghinh tân yểm cựu (tr.55) đường tà nẻo chánh (tr.64)

          nồi da xáo thịt (tr.157) khóc đứng than ngồi (tr.157) sửa kiểng trồng huê (tr.328)

 tóc bạc da mồi (tr.396) ăn sống nuốt tươi (tr.58) trau tâm trỉa tánh (tr.10)

 đổi họa làm may (tr.133) sóng lặng gió êm (tr.134) thay ḷng đổi dạ (tr.293)

          thổi lông t́m vít (tr.316) vạch lá t́m sâu (tr.295) phùng mang trợn mắt (tr.398, 463)

         - Điển Tích :

Nhắc ra…Trụ Vương. Ham mê Đắc Kỷ… (tr.33)

Quản chi nắng Sở mưa Tần,…không thôi.  (tr.41) mưa Tần nắng Sở (tr.342)

Có người…ông Quan, Tên ..Vân Trường…(tr.41)

Hỏi ông.. Trả lời ..Non cày vua Nghiêu (tr.42) - thời buổi Thuấn Nghiêu (tr.324)

Khúc thời …chàng Lư Phủ… Trọng Ngư     (tr.37)

Xem truyện … mà làm thói Điêu Thuyền, Lữ Bố  (tr.55)

Xưa mạt Thương non Kỳ. Bởi Vơ Vương   (tr.56) Xưa Tây Bá …Dũ lư  (tr.56)

Ghét bạo chúa  Trụ Kiệt…Thương Minh Vương…Thuấn Nghiêu (tr.56)

Ở Cao Miên v́ mến Tần Hoàng (tr.57)   

Theo Lục Tổ chớ theo Thần Tú (tr.61) Đức Lục Tổ ít ai dám sánh (tr.99)

Thần Tú ra đời…(tr.278) Thần Tú bày chè (tr.370)

Qua sông nhờ được cầu Lam (tr.71) Lam kiều được lên (tr.271)

Tuy là nương dựa non Tần (tr.71) ác thú non Tần (tr.95) chư quốc non Tần (tr.205)

Đời xưa có Ngũ Viên Kỳ (tr.77) bốc ngọn lửa Tần (tr.349)

Nhắc năm Gia Tĩnh triều Minh…nàng Kiều (tr.84)

Chừng nào ta gặp Hớn Hoàng (tr.85) - Mạnh Tông xưa cũng khóc măng (tr.85)

Ta nghiệm xét từ đời Bàn Cổ (tr.94) - Trạng Tŕnh truyền sấm mấy lời (tr.82)

Nhớ thuở ..Lương Vơ Đế (tr.101)

Nhớ đời xưa có gă Tử Pḥng (tr.110) Mắc kế Trương Lương (tr.192)

Sống dư trăm …lăo Bành (tr.112)

Như thuở trước Nhan Hồi c̣n trẻ (tr.112) thầy Nhan bầu nước…(tr.298)

Thuở Trung Quốc nhà Châu Chiêu Đế (tr.118)

vua Tề với vợ Thôi Tử, An lộc Sơn với Dương quí Phi (tr.154)

gương Thạch Sùng Vương Khải (tr.157) Thạch Sùng Vương Khải (tr.270)

Chim Ô đà dựa cầu Ngân (tr.202, 274)

Say như Lưu Khánh…Say thể Trần Đoàn…(tr.214)

Say như Nhơn Quí (tr.214) Hiền thần Nhơn Quí…(tr.286)

Non Lịch rừng nhu… (tr.246) - Diệm Hồng Liên thơ thới…(tr.267)

Bá Nha hiệp mặt…Tử Kỳ trổi giọng…(tr.280)

Ngặt ông thất thủ Hạ b́…(tr.281) - Tam Hoàng Thượng cổ…(tr.281)

Tử Nha như thể cát đằng… hưng Châu (tr.281)

Trụ kia bạo ác…Vơ vương hữu đức…(tr.281)

Thuyền Đông Pha lèo lái…(tr.282) - đợi thời vua Kiệt hồi qui (tr.282)

chực nuốt Đường Tăng…may nhờ Đại Thánh (tr.282, 287)

Hạng Vơ mắc lừa Trương Lương (tr.286) kế Trương Lương (tr.369)

Cửu Thiên c̣n dấu…(tr.286)

tỉnh giấc Nam Kha (tr.288) Giấc mộng Nam Kha (352) chợt tỉnh Nam kha (tr.381)

xưa có Trưng Vương (tr.290)  - Xưa Châu Xáng..ngăn Sư Đồ..cứu Ngũ Viên (290)

Say như …Huỳnh Bào. Trần Di ngủ say (tr.291)

Tạo Lư Bồng…Khương Tử Nha…(tr.291) - Đức Khổng Thánh…nước Lỗ (tr.92)

…Chiến Quốc Xuân Thu…Thầy Mạnh…(tr.292)

Trương Ban Xương…Tống Khâm Tôn (tr.293) - Gă Tần Cối…Nhạc Phi (tr.293)

Thuở Hiến Đế…nhà họ Đổng nhờ Tư Đồ…lập Liên Hoàn (tr.293)

Lưu Hoàng Thúc  nhờ Viên Thiệu…Quan Công Hầu…(tr.293)

Cấp cô Độc là nhà bá hộ (tr.294) - người Bùi Kiệm,Tiên mù…Trịnh Hâm (tr.294)

đức Hoàng Thang luật chế (tr.295) - Gặp Biển Thước, Hoa Đà …(tr.295)

mưa Ngâu…sương Đông hạ..(tr.295) –

Tam Tạng…Bát Giái, Sa Tăng, Đại Thánh Tề Thiên…(tr.299)

Nhạc âm Châu Vơ…(tr.308) - chàng Nhạc Nghị…Ông Bàn Cử…(tr.320)

Hằng Nga…Hậu Nghệ…(tr.322) ta bảo Hằng Nga (tr.381)

Khổng Minh nhờ gió (tr.341) chỉ Vơ Hầu..(tr.474) mộng Vơ Hầu (tr.475)…

            Thật ra, những từ “đặc biệt” mà chúng tôi liệt kê trên đây vẫn chưa đầy đủ và hoàn toàn chính xác. Sở dĩ chúng tôi đưa ra vấn đề nầy v́ có những mục đích như sau :

         1/- Quyển SGTV-TB là một Kho tàng Pháp bảo vô cùng quư giá không những dành làm của riêng cho tín đồ PGHH mà c̣n phải ban phát đến toàn thể nhơn loại. V́ vậy, ngoài việc điều chỉnh một số lỗi Chánh tả (mà phần lớn là do lỗi của ấn công), chúng ta c̣n phải tiến hành việc Chú thích hoặc Chú giải những từ ngữ cổ, từ nói trại, đảo ngữ từ, từ Hán-Việt, từ ngoại quốc, thành ngữ, điển tích, cố sự…nhằm làm sáng tỏ ư nghiă những lời dạy bảo quư báu của ĐHGC mà từ hơn 60 năm nay có rất ít người quan tâm nghiên cứu. Chúng tôi nói đến việc điều chỉnh lỗi Chánh tả (theo tinh thần Thông báo số 40/BTSTƯHN ngày 10-07-2004 của Ban trị sự Trung Ương Hải Ngoại) và Chú thích cùng Chú giải chớ không dám nói đến việc sửa đổi Sấm Giảng và Thi Văn Giáo Lư của ĐHGC v́ chúng tôi quan niệm rằng bất cứ ai hễ là thân phàm mắt thịt đều không được quyền sửa đổi bất cứ câu Thơ Văn nào của Ngài ngay cả những dấu chấm, phết.

          2/- Chúng tôi đề nghị Chú thích hoặc Chú giải quyển SGTV-TB của ĐHGC v́ nhận thấy trong đó có rất nhiều từ ngữ “đặc biệt” nên người đọc không rơ nghiă hoặc hiểu một cách lệch lạc. Chẳng hạn như : - sạ dươn (tr.72. 75, 244) - đồ hổ bịt (tr.79) - mấy đon đời nầy (tr.83) – h́nh vóc dảy chưn (tr.200) – chững mới rầu (tr224) - t́m đạo quá ṃm (tr.301) – nào khờn dạ ái (tr.304) - niềm chích mát (355) cái nhiệt vọng (tr.437)… Đặc biệt là có hơn chục bài thơ bằng chữ Hán, hàng trăm Thành ngữ, Điển tích và cố sự nếu được các bậc cao minh hoặc quư cao đồ để tâm chỉ giáo th́ Kho tàng Pháp bảo nầy sẽ trở nên vô giá.

               Chúng tôi là tín đồ PGHH thuộc thế hệ thứ ba, có chút ít học vấn nhưng c̣n nhiều câu trong SG và TV của Đức Thầy vẫn không hiểu nghiă, nhứt là những bài thơ bằng chữ Hán th́ lại càng mù tịt. Chúng tôi nghĩ rằng khi đến đời con cháu, chúng sẽ gặp nhiều trở ngại mỗi khi muốn nghiên cứu hoặc học hỏi Giáo lư PGHH (qua quyền SGTV-TB nầy).

           3/- Quyển SGTV-TB hiện nay đă được tái bản lần thứ 9 tại Hải ngoại và lên đến 584 trang (Ấn bản 2004). V́ vậy, nếu có thêm phần Chú thích hay Chú giải th́ quyển sách sẽ rất dầy không tiện khi sử dụng. Do đó, chúng tôi đề nghị nên có quyển Chú thích & Chú giải SGTV-TB riêng biệt để những ai muốn t́m hiểu, tra cứu nên chịu khó dùng thêm quyển sách nầy vậy.  

           4/- Những đề nghị của chúng tôi hôm nay thực ra đă do Viện Nghiên Cứu PGHH (do cố đồng đạo Trần văn Tươi làm Viện Trưởng và đồng đạo Trần Bá Phải làm Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành) đề xuất trong Chương tŕnh hoạt động của Viện từ năm 1996. Tuy nhiên, tính đến nay đă trên 10 năm nhưng không biết kết quả đă được đến đâu rồi. Chúng tôi xin phép được trích dẫn một đoạn (trang 4) trong Văn Thư số: 1/96/HĐĐH/ĐN ngày 20-9-1996 của Viện để quư đồng đạo cùng nhau tham khảo :

              - “Ngoài quyển SGTV-TB hiện có, nên lần lượt biên soạn và ấn tống thêm từng quyển Sấm Giảng 1, 2, 3, 4, v.v. Những quyển sách nầy sẽ được tŕnh bày với ba phần như sau:   (1) Giới thiệu và nội dung chánh yếu.

                      Phần nầy đă có trong SGTV-TB, từ trang 6 đến trang 12, nhưng quá ngắn, cần biên soạn thêm để bổ túc.

                (2) Nguyên tác của Đức Thầy.

                      Cần được in lại với cỡ chữ lớn hơn, rơ ràng, dễ đọc. Ngoài ra, in từng đoạn và kèm theo là phần chú thích.          

                (3) Chú thích.

                                  Đánh số thứ tự và giải thích các từ ngữ, các câu thi, kệ, các đoạn văn, điển tích mà Đức Thầy đă viết. Phần chú thích được in với cỡ chữ nhỏ hơn (để phân biệt với nguyên tác của Đức Thầy).

                            Trong hoàn cảnh hiện thời, từ sau biến cố tang thương năm 1975 đến nay tại quê hương chúng ta, cũng như nơi hải ngoại Giáo Hội PGHH không thể tổ chức các lớp đào tạo Giảng viên Phổ thông Giáo lư như xưa kia, nên công việc biên soạn để giải nghiă các từ ngữ, cũng như giải thích những lời dạy của Đức Thầy thật vô cùng cần thiết.”

                Theo quyển “Phật học Phổ thông” do Ḥa Thượng Thích Thiện Hoa biên soạn th́ sau khi Đức Thích Ca Mâu Ni Phật nhập Niết-bàn đă có đến bốn thời kỳ kết tập kinh điển tại Ấn Độ. Trong bốn kỳ kết tập nầy th́ hai kỳ đầu chưa cần đến sự biên chép, nghiă là chỉ đọc tụng lại, xem lời lẽ nào là của Đức Phật đă nói ra, hay xét cho những ư nghiă nào là đúng với chánh pháp. Đến thời kỳ thứ ba và thứ tư mới dùng đến văn tự để biên chép thành sách vở. Trong sự biên chép nầy, chư Tăng chia làm hai phái : Phái Nam th́ ghi bằng văn Pali, c̣n phái Bắc th́ ghi bằng văn Phạn.

                Được biết, kỳ kết tập thứ ba được tổ chức sau hơn hai thế kỷ kể từ ngày Đức Phật nhập diệt (274 năm trước Tây lịch) c̣n kỳ kết tập thứ tư xảy ra vào thế kỷ thứ nhứt của Tây lịch.

                 Theo đó, chúng ta là tín đồ PGHH phải nói là rất “có phước” v́ những lời giáo hóa của Đức Tôn Sư đều được lưu lại đầy đủ bằng giấy trắng mực đen và được kết tập thành quyển SGTV-TB. (Nếu không lầm th́ Trọn bộ sưu tập Thi văn Giáo lư được in thành sách ấn hành năm 1955 và trọn bộ Sấm giảng được ấn hành năm 1958). Là những tín đồ trung kiên của ĐHGC, không ǵ khác hơn là tuân thủ theo Giáo pháp của Ngài, tu hành theo những Pháp môn mà Ngài truyền thụ và đặc biệt là phải truyền bá cùng phát huy Giáo lư PGHH đến khắp mọi nơi trên toàn thế giới.

                  Nếu những lời đề nghị của chúng tôi xét ra hợp t́nh hợp lư, xin mong cầu Quư đồng đạo đang có trách nhiệm trong Ban trị sự Giáo Hội Trung Ương Hải ngoại và toàn thể đồng đạo khắp nơi hăy tiếp tục phát động Chương tŕnh hoạt động mà Viện Nghiên cứu PGHH đă đề xuất từ năm 1996. Chúng tôi nghĩ rằng đây là dịp may để chúng ta trả ơn Đạo báo ơn Thầy, bởi v́ nếu để lỡ cơ hội nầy th́ e trọn đời hối tiếc.

                  Những tín đồ PGHH hiện đang sống ở hải ngoại, phần lớn là ở độ tuổi 60, 70 hoặc 80 có nghiă là những bước thăng trầm của nền đạo PGHH trải dài trong các thập niên vừa qua, quư vị đều có chứng kiến và thu lượm được nhiều kinh nghiệm sống. Đồng thời, những điều thấu đáo của quư vị về Giáo lư PGHH chắc chắn không phải ít. Vậy th́,  quư vị c̣n câu nệ ǵ mà không đem sở học của ḿnh có liên quan đến Sấm giảng và Thi văn của Đức Thầy để truyền thụ cho thế hệ kế thừa cũng như làm cho nền đạo PGHH ngày càng phát khai rực rỡ.

                   Lần nữa, chúng tôi tha thiết kêu gọi BTS/ TƯHN hăy tái phát động Chương tŕnh hoạt động mà Viện Nghiên cứu PGHH đă đề nghị năm 1996 đến toàn thể đồng đạo PGHH khắp mọi nơi để có thể kết tập thành những quyển Sấm giảng và Thi văn Giáo lư riêng biệt với đầy đủ Chú thích, Chú giải một cách tận tường để thế hệ mai sau mỗi khi muốn học hỏi hoặc nghiên cứu Giáo lư của ĐHGC đều cảm thấy thoải mái và thâu thập một cách tinh tường, chính xác./.             

                                                         Nguyn văn Hip

             (Rằm tháng Giêng năm Đinh Hợi -2007)

 

              [NSLONGHOA]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TR̀NH HỘI ĐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ NSLONGHOA
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 03/16/08