Một vài suy nghĩ về bài “Thay Lời Tựa”

của Đức Huỳnh Giáo Chủ.

                                                           * Nguyn văn Hip

 

Như mọi người đă biết, bài “Thay Lời Tựa” là do chính tay Đức Huỳnh Giáo Chủ viết tại Bạc Liêu ngày 18-5 Nhâm Ngũ (1942). Khi viết bài nầy, không biết Ngài đặt tựa là ǵ nhưng trong quyển “Sưu tập Thi Văn Giáo Lư của Đức Huỳnh Giáo Chủ” ấn hành năm 1955 do “Một nhóm tín đồ Hoà Hảo” thực hiện, phía dưới tiêu đề “Thay Lời Tựa“ nơi đầu trang c̣n có ghi câu :” Để thay lời tựa, chúng tôi chép lại dưới đây bài “Lịch sử Đức Thầy” viết năm 1942 ”.

Thêm vào đó, trong quyển “”Sấm Giảng của Đức Huỳnh Giáo Chủ” ấn hành năm 1958, bài “Thay Lời Tựa” được đặt ngay đầu trang 1 nhưng ngay bên dưới cũng có ghi thêm câu “Lịch sử Đức Thầy” viết năm 1942.

Cho đến khi quyển “Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ” ra đời, có lẽ kể từ ấn bản 1965 th́ câu “Lịch sử Đức Thầy” được thay bằng câu “Sứ mạng của Đức Thầy” và hiện hữu cho đến ngày nay. Tuy nhiên, dù cho mang tên “Lịch sử Đức Thầy” hay là “Sứ mạng của Đức Thầy” th́ cả hai đều đúng với nội dung bài viết của Đức Thầy, bởi v́, nếu chúng ta phân tích kỹ lưỡng bài “tự thuật” nầy th́ chúng ta sẽ biết được Đức Thầy là ai, Ngài từ đâu đến, đến đây vào lúc nào và đến đây để làm ǵ ?

Thật vậy, ngay từ câu mở đầu bài viết, Ngài cho biết :”Ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Măo, v́ thời cơ đă đến, lư Thiên Đ́nh hoạch định, cuộc nguy cơ thảm họa sắp tràn lan”. Rơ ràng, Ngài xác nhận ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Măo chính là thời điểm mà lư Thiên Đ́nh đă định sẵn để Ngài mở Đạo cứu Đời :

 

 “Tháng năm mười tám rơ ràng,

Cùng xóm cuối làng ai cũng cười reo.”

                                            (Dặn ḍ bổn đạo – tr.272)

“Năm Mèo Kỷ Măo rơ ràng,

Khắp trong trần hạ nhộn nhàng xiết chi.”

                                   (SG quyển 1 – tr.25) 

 

 Ngoài ra, Ngài c̣n tiên đoán là cuộc Thế chiến thứ hai vô cùng tàn khốc sắp tràn lan trên thế giới. Đúng vậy, khởi đi ngày 1-9-1939 và kết thúc vào ngày 2-9-1945 bằng hai quả bom Nguyên tử, phe Đồng Minh gồm các nước Liên-Xô, Anh, Pháp, Trung Hoa rồi Hoa kỳ…đă lâm chiến với phe Trục gồm các nước Đức, Ư và Nhựt Bản gây nên cuộc đại chiến tranh đẫm máu làm mất đi cả thảy 62 triệu nhơn mạng và hủy diệt không biết bao nhiêu là cơ sở vật chất do con người tạo dựng :

 

“Khắp thế giới cửa nhà tan nát,

Cùng xóm làng thưa thớt quạnh hiu.”

                                            (SG quyển Nh́ – tr.59)

hay là :

“Đời cùng c̣n chẳng mấy năm,

Khắp trong các nước thây nằm bằng non.”

                                          (SG quyển 1 – tr.48)

 

Mặc dầu biết trước như vậy, nhưng mọi việc ở thế gian nầy đều do “lư Thiên Đ́nh hoạch định”, nên Đức Thầy đành than thở :”Ta đây tuy không thể đem phép huệ linh mà cứu an tai họa chiến tranh tàn khốc do loài người tàn bạo gây nên,” điều nầy, xác nhận cho chúng ta biết rằng Ngài chính là vị Phật hóa hiện lâm phàm, v́ chỉ có Phật mới có được “phép huệ linh” để cứu an mọi tai họa. Tuy vậy, bằng tấm ḷng từ bi vô lượng đối với chúng sanh trong cơi Ta bà nầy, Ngài thố lộ :” nhưng mà thử nghĩ : Sinh trong ṿng đất Việt Nam nầy, trải qua bao kiếp trong địa cầu lăn lộn mấy phen, tùy cơ pháp chuyển kiếp luân hồi ở nơi hải ngoại để thâu thập những điều đạo học kinh nghiệm huyền thâm, ḷng mê si đă diệt, sự vị kỷ đă tan mà kể lại nguồn gốc phát sinh, trải bao đời giúp nước vùa dân cũng đều măi sinh cư nơi đất Việt…” Qua đoạn văn nầy, chúng ta biết được rằng nhiều kiếp trước đây Ngài đă là dân quan luôn sinh cư nơi đất Việt và dù là quan hay dân, Ngài cũng đều đem thân ra giúp nước vùa dân trọn đời cho đến thác cũng không ĺa.

Đặc biệt, trong những kiếp gần đây, Ngài “may mắn gặp được minh sư, cơ truyền Phật pháp, gội nhuần ơn Đức Phật, ḷng đă quảng đại từ bi,…” nên Ngài đă không ngần ngại sáng lập Tông phái Bửu Sơn Kỳ Hương từ năm 1849 và sau nầy vào năm 1939 khai sáng nền đạo Phật Giáo Ḥa Hảo đều tại miền Tây Nam Việt để cứu vớt sanh linh đất Việt. Trong lần tái thế nầy của Ngài, lại nhằm vào lúc đất nước Việt Nam rơi vào ṿng nô lệ của Thực dân Pháp gây nên cảnh “quốc phá, gia vong”, khiến cho “trăm họ vướng cảnh đồ lao”, “chúng sanh vạn khổ”. V́ vậy, Ngài đă xả thân mở Đạo cứu Đời, là chấp nhận gánh chịu biết bao cảnh truân chuyên của nhà truyền Đạo và biết bao lần vào sanh ra tử của nhà Chí sĩ yêu nước quyết cứu lấy non sông và dân tộc thoát khỏi gông cùm của ngoại bang, cũng giống như Ngài đă từng hành xử cho đất nước Việt Nam nầy trong nhiều tiền kiếp : 

              

“Muốn lập Đạo có câu thành bại,

Sự truân chuyên của khách thiền môn.

Khắp sáu châu nức tiếng người đồn,

Ta chịu khổ, khổ cho bá tánh.”

                                  (Sa-Đéc – tr.296)

 

Sang đoạn kế tiếp, Đức Thầy cho biết là trước đây khi “c̣n làm người trong biển tục, lăn lộn chốn mê đồ” Ngài đă “chẳng quản thân giúp thế cứu dân, vong thân vị quốc” huống chi nay Ngài đă liễu Đạo, tức là nhờ công quả tu hành tích lũy trong nhiều kiếp mà đạt thành Phật vị, th́ việc ra tay trợ thế là việc hiển nhiên không ǵ quản ngại. Được biết, Ngài đang sống cảnh an nhàn nơi Phật quốc, “cơ mầu đà thấu tỏ, sớm chiều hầu chơn Phật nghe kinh” hay “ngao du tứ hải, dạo khắp Tiên bang” hoặc “muôn ngày vô sự, lóng sạch phàm tâm” như Ngài tỏ lộ :

 

“Bồng lai Điên lại có ngôi,

Tây phương Cực Lạc Khùng ngồi ṭa sen.”

                                             (Dặn ḍ bổn đạo – tr.273)

 

Nhưng “v́ ḷng từ ái chứa chan, thương bách tính tới hồi tai họa” mà Ngài phải “len lỏi xuống chốn hồng trần” chịu trăm cay ngàn đắng của kiếp làm người và biết bao “cảnh chê khen” của người dương thế :

“Chịu cay đắng tu hành mới giỏi,

Ta thương đời len lỏi xuống trần.”

                                        (SG quyển Tư – tr.97)

Cảnh Thiên Trước thơm tho nồng nặc,

Chẳng ở yên c̣n xuống phàm trần.

Ấy v́ thương trăm họ vạn dân,

Nên chẳng kể tấm thân lao khổ.

                                         (SG quyển Nh́ – tr.55)

“Thương quá sức nên ta bịn rịn,

Quyết độ đời cho đến chung thân.

Nếu thế gian c̣n chốn mê tân,

Th́ Ta chẳng an vui Cực Lạc.”

                                          (SG quyển Tư – tr.110)

“Liên hoa chín phẩm ở ngọc ṭa,

Được lịnh Thiên Hoàng nấy sai ta.

Hạ giái dạy khuyên truyền đạo lư,

Giả dạng Điên-Khùng mượn thi ca.”

                                              (Để chơn đất Bắc – tr.263)

 

          Bên cạnh đó, Ngài xuống trần lần nầy c̣n có nhiệm vụ do Phật Vương giao phó là “chọn những đấng tu hành cao công quả để ban cho xứng vị xứng ngôi, người đủ các thiện căn để giáo truyền Đại Đạo,” và nhứt là vai tṛ quan trọng của Ngài trong ngày Đại hội Long Hoa sắp đến là cầm cân thưởng phạt. Tất cả không ngoài mục đích “định ngôi phân thứ gây cuộc Ḥa B́nh cho vạn quốc chư bang”. Như Ngài cho biết :

“Muôn thu Thiên định khắp kỳ,

Hạ Ngươn sắc lịnh khai kỳ Long Hoa…

   …Lăo đây vưng lịnh Phật Tôn,

Lănh cân thưởng phạt chư môn dữ lành…

…Trở chơn cho kịp Long Hoa,

Long Hoa có mặt ấy là hiền nhơn.”

                                           (Thiên lư ca – tr.199)

“Long Hoa Tiên Phật đáo ta bà,

Lừa lọc con lành diệt quỉ ma.”

                                      (Thức tỉnh 1 nữ tín đồ ở BL – tr.376)

“Hội Long Hoa chọn kẻ tu mi,

Người hiền đức đặng pḥ chơn Chúa.”

                                     (SG quyển Nh́ – tr.61)

“Lập rồi cái Hội Long Hoa,

Đặng coi hiền đức được là bao nhiêu ?”

                                     (SG quyển Ba – tr.71)

“Long Hoa Hội ân cần lo lập,

Lập cho rồi tam thập lục nhơn.”

                                     (Thiên lư ca – tr.200)

“Sau lập hội th́ già hóa trẻ,

Khắp hoàn cầu đổi xác thay hồn.

Đức Ngọc Hoàng mở cửa thiên môn,

Đặng ban thưởng Phật Tiên với Thánh.”

                                          (SG quyển Nh́ – tr.55)

 

Tiếp theo, căn cứ vào sự xét định của Thiên Tào, Ngài bày tỏ cho chúng ta biết rằng “khắp chúng sanh trong thế giới trong cái buổi Hạ Ngươn nầy, say mê vật dục, ch́m đắm trong biển lợi danh, gây nên nghiệp quả ”.

Thật vậy, theo “lư tam ngươn” của Cao Đài giáo th́ : “Đạo có ba ngươn, ba ngươn ấy là cái số cuối cùng của Trời, Đất. Mở đầu là Thượng Ngươn, c̣n gọi là Ngươn tạo hóa đă gầy dựng cả Càn Khôn Vơ Trụ, con người thuần phác thiện lương nên c̣n gọi là Ngươn Thánh Đức. Bước qua Trung Ngươn th́ nhân tâm bất nhứt, thâm nhiễm những nết hư tật xấu làm xa mất thiện lương nên gây bao cảnh tương tàn, tương sát, mạnh được yếu thua không c̣n nghiă đồng bào, t́nh đồng loại. V́ vậy, Trung ngươn c̣n được gọi là ngươn Tranh Đấu.

Cuối cùng là đến đời Hạ Ngươn th́ sự tranh đấu ngày càng ráo riết và vô cùng dữ dội. Một khi tranh đấu đến thời ác liệt th́ phải bị tiêu diệt. Bởi đó, đời hiện tại gọi là đời Mạt kiếp, c̣n Hạ ngươn nầy là ngươn Điêu Tàn”.

Cái Lư vể Tam ngươn nầy cũng đồng một lư với ba thời kỳ của Phật giáo :

1/- Thời kỳ Chánh pháp là thời kỳ Phật ra đời phổ hóa chúng sanh nên người sanh ở thời nầy mỗi tu mỗi đắc.

2/- Thời kỳ Tượng Pháp là thời kỳ xa dần Chánh pháp, việc tu hành buông lơi nên kẻ tu th́ nhiều mà người đắc quả th́ ít.

3/- Thời kỳ Mạt pháp lại càng xa rời Chánh pháp nên việc tu hành rất bê trễ. Con người sanh ra trong thời kỳ nầy háo danh, háo lợi đưa đến chỗ đốn mạt. Phật Di Lặc sắp ra đời là để trùng hưng Chánh pháp tức là lập lại đời Thượng Ngươn Thánh Đức theo đúng luật tuần hoàn của vũ trụ.

Đức Thầy c̣n cho biết tiếp : “luật trời đà trị tội, xét kẻ thiện căn th́ ít, người tội ác quá nhiều”, y như lời của Lưỡng Thần và Du Thần sau khi ghi chép tội phước xảy ra liên miên dưới miền trần thế đă tâu cùng Ngọc Đế : 

“Tâu qua Thượng Đế Ngọc Hoàng,

Dương trần hung ác đa đoan quá nhiều.

Chúng sanh ngang ngược làm liều,

Ngọc Hoàng Ngài muốn xử tiêu cho rồi.”

                                        (SG quyển Ba – tr.80)

“Lời chơn chánh trần hay bỏ liếp,

Măi lo làm húng hiếp người hiền.

Mà làm cho Ngọc Đế thảm phiền,

Muốn trừng trị trần gian thảm thiết.”

                                         (SG quyển Tư – tr. 99)

 

Việc nầy, Ông Sư Văi Bán Khoai cũng có nhắc :

“Hạ ngươn gian ác rất nhiều,

Thiên đ́nh Ngài muốn xử tiêu cho rồi.”

                                           (Sấm Giảng người đời)

 

Tuy nhiên, v́ ḷng Từ bi bác ái mà Phật Vương đứng ra can gián :

 

“Minh Vương khó đứng khôn ngồi,

Thảm thương lê thứ mắc hồi gian truân.

Trước đền mắt ngọc lụy rưng,

Quí yêu bá tánh biết chừng nào nguôi.”

                                         (SG quyển Ba – tr.80)

 

 và chính Ngài đă “Cúi đầu lạy Phật cầu xin cứu trần”, v́ vậy, Đức Phật Tổ Như Lai phải xin Đức Ngọc Đế dừng tay “giũ sổ, tẩy trần” để cho các vị Phật Tiên lâm phàm mở Đạo cứu Đời :

 

         “Đức Phật Tổ, tâm Ngài nhứt quyết,

Tâu Ngọc Hoàng để Phật dạy trần.”

                                            (SG quyển Tư – tr.99)

 

Do đó, Đức Thầy kể rơ :”chư Phật mới nhủ ḷng từ bi, cùng các vị chơn Tiên lâm phàm độ thế, trước ra công cứu khổ, sau chỉ rơ cơ huyền, khuyên kẻ thế hướng thiện quày đầu, cải tà qui chánh th́ mới mong Thiên Đ́nh ân xá bớt tội căn để kịp đến Long Hoa chầu Phật, trước biết rơ luật Trời thưởng phạt, cùng hữu duyên nghe Phật pháp nhiệm mầu, kiến diện bậc Chơn Sư, tu hành mau đắc quả, sau làm dân Phật quốc hưởng sự thái b́nh, bởi đời nầy pháp môn bế mạc, Thánh đạo trăn vu, người tâm trí tối đen, đời lắm Ma Vương khuấy rối.”, như những lời của Ngài trong các bài Sấm giảng :

“Xưa nay không có mấy khi,

Dương trần có Phật vậy th́ xuống đây.”

                                         (SG quyển 1– tr.41)

“Đức Di Đà xem thấy xót thương,

Sai chư Phật xuống miền dương thế.”

                                              (SG quyển Nh́ – tr.60)

Kể từ rày vàng lộn với thau,

Phật, Tiên, Thánh cùng nhau xuống thế.”

                                               (SG quyển Nh́ – tr.64)

“Nước Nam-Việt nhằm cơi Trung Ương,

Sau sẽ có Phật Tiên tại thế.”

                                               (SG quyển Nh́ – tr.64)

“Cờ thế giới ngày nay gần thúc,

Nên Phật Tiên phải xuống hồng trần.”

                                            (SG quyển Tư – tr.95)

“Kể từ nay Tiên, Phật, Thánh, Thần,

Lo dạy dỗ dương trần chẳng xiết.”

                                               (SG quyển Tư – tr.103)

 

(Trong đoạn văn nầy, chúng tôi đọc thấy chữ “trăn vu” nhưng không hiểu nghiă. Có một vài đồng đạo niên lăo cho biết “trăn vu” là tên hai loài cỏ dại, mọc cao và rậm rạp như loại lau sậy. V́ vậy, cụm từ “Thánh đạo trăn vu” được quư vị nầy giải thích là nền Đạo Đức giống như bị đám cỏ trăn và cỏ vu phủ kín nên không c̣n ai t́m thấy được. Tuy nhiên, trong hai quyển sách mà chúng tôi đề cập trong phần mở đầu đều ghi là “Thánh đạo tăng du”. Vậy, chữ nào là đúng với nguyên bản do Đức Thầy viết và ư nghiă như thế nào ? Kính mong chờ các đồng đạo cao minh giải thích và bổ chánh).

 

Tiếp đó, Đức Thầy xác nhận :”Ta là một trong các vị cứu đời ấy. Ai liễu Đạo nơi quốc độ nào th́ cũng phải trở về nơi quốc độ ấy mà trợ tế nhân dân.” Rơ ràng, Đức Thầy chính là vị Phật đă cùng với các vị Phật Tiên khác thừa lịnh Đức Phật Tổ Như Lai lâm phàm độ thế (thế ở đây tức là toàn thế giới chớ không riêng nước nào, và quốc độ nào cũng có Tiên Phật xuống trần mở Đạo) và cứu khổ chúng sanh bằng cách chỉ rơ cơ huyền của tạo hóa để cho họ hướng thiện quày đầu, cải tà qui chánh mong được Thiên Đ́nh ân xá bớt tội căn hầu có mặt trong ngày Long Hoa Đại Hội. Thêm vào đó, nhờ cận kề tận mặt với những vị Chơn sư (thật ra là hóa thân của Đức Phật) họ sẽ biết rơ luật Trời công minh thưởng phạt thế nào và nhứt là trực tiếp nghe được Phật pháp nhiệm mầu nên tu hành mau đắc quả để sau nầy làm dân Phật quốc, hưởng sự thái b́nh vĩnh cửu. Bởi v́, như lời Ngài nói, đời nầy pháp môn bế mạc nên :

 

“Cả ngàn năm nhơn tâm xao xuyến,

Sao tu hoài chẳng thấy ai thành.”

                                              (SG quyển Tư – tr.99)

“Từ ngàn xưa Phật pháp gài then,

Nên ít kẻ tu hành đắc Đạo.”

                                                (Diệu pháp QM.- tr.288)

 

C̣n con người th́ tâm trí tối đen và đời th́ lắm Ma Vương khuấy rối :

 

“Thời kỳ nầy nhiều quỉ cùng ma,

Trời mở cửa Quỉ-Vương xuống thế.”

                                                  (SG quyển Tư – tr.102)

“Đạo Quỉ Vương rất nhiều chi ngánh,

Khuyên dương trần sớm tránh mới mầu.

                                                  (SG quyển Tư – tr.101)

“Dạo trong khắp cơi ta bà,

Nơi nơi chốn chốn quỉ ma rối loàn.”

                                                (Từ giă b/đ khắp nơi – tr.283)

Đặc biệt, “ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Măo” được Đức Thầy nhắc lại lần nữa v́ đó chính là thời điểm mà Ngài chọn để hóa hiện ra đời cứu độ chúng sanh nhằm thể hiện ḷng từ bi bác ái của Ngài cũng như để thù đáp những linh hồn đă trợ duyên trong nhiều tiền kiếp giúp Ngài nương cậy tu hành, đạt thành chánh quả. Cho nên, ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Măo mang một ư nghiă vô cùng hệ trọng không những riêng cho hàng triệu tín đồ PGHH mà c̣n cho cả giống ṇi Hồng Lạc. Chúng tôi xin phép trích dẫn những ư kiến của Quư đồng đạo PGHH đang sống nơi hải ngoại về Ư nghiă ngày trọng đại nầy :

- “Ngày 18 tháng Năm năm Kỷ Măo, một ngày kỳ diệu và hi hữu cho dân tộc Việt Nam, ngày mà ánh sáng từ bi quang minh chí thiện bừng lên từ mảnh đất quê hương, đáng yêu và đáng trân trọng đối với mọi người.”

                                      (Sơn Hảo, Tinh Tấn số 4 – tr.94)

- “Ư nghiă thiêng liêng và cao quí nhứt của ngày Đại lễ 18/5 vẫn là một tấm ḷng : Một tấm ḷng thành biết ơn và nhớ ơn vị Giáo Chủ khai Đạo”.

                                                     (Cao văn Chơn, Tinh Tấn số 4 – tr.21)

- “Chính ngày 18-5 âl năm Kỷ Măo là dấu ấn lịch sử đă khai sanh một tông phái lớn của Đạo Phật tại Việt Nam, ngày đó đă tạo một nếp sống tâm linh vô cùng phong phú đối với mỗi người thật ḷng theo Đạo, dốc ḷng miệt mài hướng về cứu cánh giải thoát cho kiếp người đầy thống khổ trong tinh thần tứ đế mà Đức Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni đă thuyết giảng trên 25 thế kỷ trước đây.”

(BTS PGHH vùng Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn                                                                          & Phụ cận soạn, Tinh Tấn số 5 – tr.31)

- “Sự ra đời của PGHH năm Kỷ Măo đă tạo ra một “Niềm Tin Mới” hay một “Áng Sáng Tín Ngưỡng Mới” với bản sắc đặc thù của Dân tộc”.

                                                     (Huỳnh văn Hiệp, Tinh Tấn số 9 – tr.14)

- “Chính nét đặc thù đó mà PGHH đă được đón nhận nồng nhiệt khi khai sáng và ĐHGC trở thành một biểu tượng tâm linh cao cả, một vị Phật hóa hiện qua nhiều tiền kiếp với sứ mạng cứu nhân độ thế được tuyệt đối tôn thờ. Và ngày 18 tháng 5 trở thành ngày thiêng liêng trọng đại, mở một kỷ nguyên mới trong sinh hoạt quốc gia, xă hội và Đạo pháp”. 

                                                  (Nguyễn Thành Long, Tinh Tấn số 9 – tr.5)

- “Nếu Đức Phật Thích Ca lâm phàm nhằm hoằng khai Phật Đạo, để chỉ hướng cho chúng sanh con đường đi đến cứu cánh giải thoát trong thời Chánh pháp, th́ đến thời kỳ Hạ ngươn mạt pháp nầy, ĐHGC chính là người có sứ mạng quy nguyên giáo điều, canh tân phương pháp hành đạo, nhằm giáo hóa chúng sanh, người đại trí thượng căn th́ được sớm giác ngộ, liễu đạo ngay tại thế gian, người căn mỏng nghiệp dày th́ được đào tạo trở nên những con người hiền, có đủ công đức để có mặt trong ngày Long Hoa đại hội…”

                                              (Nguyễn Thanh Giàu, Đuốc Từ Bi bộ mới số 54 – tr.17)

Thật vậy, chính v́ sứ mạng nầy mà Đức Thầy cho biết tiếp :”Nên phương pháp của Ta tùy tŕnh độ cơ cảm của Tín nữ Thiện nam, trên th́ nói Phật pháp cho kẻ có ḷng mộ Đạo qui căn, gây gốc thiện duyên cùng Thầy Tổ, dưới dùng huyền diệu của Tiên gia độ bịnh để cho kẻ ít căn lành nhờ được mạnh mà cảm ḷng từ bi của Chư Vị với Trăm Quan”. Điều nầy, đă được Ban Phổ thông Giáo lư Trung Ương nhiệm kỳ I, (1964-1966) dẫn chứng trong bài Khải Ngôn như sau :

“Từ tháng 5 năm Kỷ Măo (1939), sau khi mở đạo, Đức Giáo Chủ đứng ra chữa bịnh độ đời. Tuy Ngài không có để tâm nghiên cứu Đông y cũng như không hề học Lỗ ban phù thủy, nhưng bằng phương pháp chữa trị thật giản đơn như giấy vàng, nước lă, lá xoài, lá ổi, lá bưởi, lá mít, bông trang mà trị được hằng vạn chứng hiểm nghèo như bịnh tà, bịnh suyễn, bịnh phong, bịnh dịch, bịnh dư ruột…(có lẽ v́ vậy mà lúc đầu, nhiều người đă tưởng Đức Thầy “thượng xác cỡi đồng”) cho nên quần chúng ngưỡng mộ, theo về tấp nập và bắt đầu tin tưởng Phật Trời, nghe Pháp và quy y.

Đồng thời với công việc chữa bịnh, Đức Giáo Chủ đứng ra thuyết pháp để truyền giáo. Lời giảng của Ngài thao thao bất tuyệt suốt cả ngày đêm. Nhiều thi sĩ, văn gia, hoặc luật sư, bác sĩ đến chất vấn, bắt bẻ, đều nhận Ngài là bậc đại giác, đại ngộ, không thể suy b́…Những cuộc thuyết pháp nói chung, nếu cộng với 107 lần chu du khuyến nông, chúng ta có thể nói Ngài đă trải qua một ngàn lần khuyến thuyết quan trọng với hàng ngàn đề tài khác biệt. Nhờ những cuộc thuyết pháp như trên, người mộ đạo quy căn ngày càng đông thêm không xiết nói.

Nhưng công đức vĩ đại nhất của Đức Giáo Chủ trong việc truyền giáo là việc viết ra Kệ Giảng. Nhờ những Kệ Giảng đó mới được phổ truyền một cách sâu rộng chủ trương canh tân Phật giáo của Ngài, và nhờ đó mà có hằng triệu người ngộ đạo đă quay về với chân tính, tự tâm.”    

Tuy nhiên, v́ như lời Đức Thầy than thở : “bởi đời nầy pháp môn bế mạc…người tâm trí tối đen…” nên “lời lành nghe tựa hồ như nhớ như quên” hoặc “kẻ xa xôi từ văn (ấn bản cũ ghi : từ nan) chẳng tới, người láng diềng tiếng kệ nhàm tai.” là như vậy :

 

“Người khôn nghe nói càng rầu,

Người ngu nghe nói ngữa đầu cười reo.”

                                                   (SG quyển 1 – tr.25)

“Thấy đời mê muội lầm than,

Ăn bạ nói càn, tội lỗi chỉn ghê.”

                                                  (SG quyển 1 - tr.30)

“Lời lành mắt lấp tai ngơ,

Đua theo vật chất, hẫng hờ đàng tiên.”

                                                      (SG quyển 5 – tr.139)

 

Tiếp theo, nhằm mục đích hoàn thành sứ mạng của ḿnh, Đức Thầy đưa ra giải pháp : “Đến trung tuần tháng tám, Ta cùng Đức Thầy mới tá hiệu Khùng Điên, mượn bút mực tiết lộ lấy Thiên cơ, truyền cho kẻ xa gần đều rơ biết hầu ăn năn cải quá (ấn bản cũ ghi là :cải hóa) làm lành, c̣n kẻ chẳng tỉnh tâm sau đền tội cũng chẳng trách Phật Tiên không chỉ bảo.”

Điều nầy như mọi người đều biết, hầu hết trong các quyển Sấm Giảng và Thi Văn Giáo lư, Đức Thầy đều tự xưng là Khùng và Điên. Cố đồng đạo Nguyễn văn Bửu trong bài “Đạo pháp Nghi vấn” giải thích như sau : “Đức Thầy ra đời nhằm thời kỳ Pháp thuộc, người Pháp rất để ư đến kẻ tu hành và hay làm khó dễ, nhất là đối với khối BỬU SƠN KỲ HƯƠNG họ lại càng nghi kỵ hơn, cho nên Đức Thầy phải xưng KHÙNG xưng ĐIÊN để cho người Pháp không làm khó dễ, nhờ đó Ngài được dễ dàng mở cơ phổ hóa nhơn sinh. Chính Đức Thầy đă bảo :

"Ta mắc lánh tà tây đa sự,
Làm ĐIÊN KHÙNG cũng tự lẽ ni ".

Nhưng KHÙNG ĐIÊN của Ngài không phải như những người lăng trí mà là :

“Khùng toán biết âm dương kết liễu,

Khùng huyền cơ Khùng đạo Thích Ca”.

 

Hơn nữa, trong thời đại văn minh tiến bộ của thế kỷ hai mươi nầy, người ta hay xưng khôn xưng lanh, Đức Thầy muốn cảnh tỉnh họ nên mới xưng Khùng Điên như thế ”.

Đọc qua đoạn văn nầy, chúng ta mới thấy được tấm ḷng Từ bi, Bác ái vô lượng của Đức Thầy :

 

“Khùng dạy dân chẳng dám nghỉ ngơi,

Đi chẳng kể tấm thân già cả.”

                                              (SG quyển Nh́ – tr.58)

“Chừng nào bổn đạo hiểu thông,

Thiên cơ đạo lư để ḷng mới thôi.”

                                                (SG quyển Ba – tr.73)

“Xuống trần Ta dạy cố lỳ,

Cốt cho trần thế nghe th́ mới thôi.”

                                                  (SG quyển Ba – tr.82)

“Buồn đời xuống bút làm thi,

Thương dân chịu chữ cố lỳ dạy dân.”

                                                 (Thiên lư ca – tr.204)

“Cũng đồng cốt nhục hoài thai,

Nên ta ra sức miệt mài dạy khuyên.”

                                                       (Để chơn đất Bắc – tr.264)

 

Tuy nhiên, nếu kẻ nào chẳng tỉnh tâm cứ tiếp tiếp tục gây điều bạo ác th́ sau nầy sẽ bị đền tội, chịu lắm cực h́nh th́ đừng trách Phật Tiên sao không chỉ bảo :

 “Khuyên chúng sanh chẳng biết mấy lần,

Nào ai có tỉnh tâm t́m Đạo.”

                                                 (SG quyển Nh́ – tr.53)

“Ai mà Ta dạy chẳng ǵn,

Th́ sau đừng trách mất t́nh yêu đương.”

                                               (SG quyển Ba – tr.80)

 

Trong đoạn cuối của bài viết, Đức Thầy không quên nhắc nhở hoàn cảnh khó khăn của người dân bị trị cũng như nói lên tâm huyết của Ngài :”Vẫn biết đời Lang-sa thống trị, phép nước nghiêm h́nh, dân chúng nếu yêu thương sẽ lắm điều (ấn bản cũ ghi : lắm lời) hiềm khích…”

Thật vậy, ngay từ những ngày Đức Thầy mới khai Đạo, ở Chợ Mới có ông Phủ Nẵm (trong “Thất sơn Mầu nhiệm” của Dật Sĩ & Nguyễn văn Hầu ghi là Lê tấn Nẩm) làm Quận Trưởng đă lănh trách nhiệm của nhà cầm quyền Pháp, cho người theo dơi Đức Thầy. Hắn mật báo với Chánh tham Biện tỉnh Long Xuyên là Đức Thầy mưu toan quốc sự. Mặt khác, hắn ruồng bắt những người truyền bá kinh giảng PGHH và ra lịnh cho Ban Hội tề các xă trong Quận lập danh sách những ai đă quy y với Đức Thầy để hắn căn cứ theo đó cho lính bắt đánh đập hoặc tù đày.

Lúc ấy, tại xă Long Điền có ông Năm Cống và Nguyễn văn Sóc lén đến gặp Đức Thầy để tŕnh bày sự việc, nhờ Ngài giải quyết. Đức Thầy căn dặn : “Hai ông về yên tâm, nếu họ có đến hỏi th́ cứ nói : Tôi theo Đạo Ông Tư Ḥa Hảo, ông dạy tôi ăn chay, làm lành, lánh dữ, sưu đi, thuế đóng.”

Đức Thầy dặn xong liền đứng dậy, mặt bừng đỏ và nghiêm trang đưa cánh tay ra và xoè bàn tay nghiêng vừa dằn xuống, vừa lập đi lập lại ba lần câu : “Không chỉ sưu đi, thuế đóng như vầy thôi đâu !” Qua ngày hôm sau, khi có làng lính tra hỏi, lập danh sách, hai ông nầy trả lời y như lời dạy của Đức Thầy mà khỏi bị bắt trong đợt đó. Mẩu chuyện nầy mang số 52 trích từ quyển sưu tập “Chuyện Bên Thầy” (tr.215) do nhóm Thanh Niên PGHH thực hiện, ấn bản năm 2005. Trong phần nhận xét, ban Sưu tập nêu ư kiến như sau : “dưới thời Pháp thuộc, họ muốn tiêu diệt những người cốt cán của Đạo PGHH nên hai ông Năm Cống và Nguyễn văn Sóc làm sao chẳng lo sợ, song để trấn an và giải cứu tín đồ, Đức Thầy đă dạy hai ông câu nói dẫn trên. Một câu nói tuy thấy thông thường nhưng vô cùng khéo léo. Trong lúc có người v́ quá sợ không dám nhận ḿnh là tín đồ PGHH để khỏi bị bắt th́ Đức Thầy chỉ dạy hai ông nầy một câu nói vừa tỏ ra cứng rắn không mất chí khí vừa có vẻ mềm dẻo nhẫn nại mà vẫn được tai qua, nạn khỏi. Sở dĩ Đức Thầy dạy tín đồ ẩn nhẫn như thế là v́ chưa phải lúc để chống cự với bọn thực dân Pháp :

 

“Rán nhẫn trăm phần dầu khó nhẫn,

Dạ thưa quan chức phận làm dân.”

                                                  (Nhẫn đợi thời cơ – tr.421)

 

Ngoài ra, câu nói mà Đức Thầy nhấn mạnh đến ba lần là ư Ngài muốn tiên tri sau nầy nạn sưu cao thuế nặng sẽ mỗi lúc mỗi tăng mà dân chúng phải luôn gánh chịu :

 

“Hết đây rồi đến dị kỳ,

Sưu cao thuế nặng vậy th́ thiết tha.

Dân nay như thể không cha,

Chẳng ai dạy dỗ thiệt là thảm thương”.

                                                 (SG quyển 1 – tr.34)

“Ngồi Khùng trí đoái nh́n cuộc thế,

Thấy dân mang sưu thuế mà thương.”

                                                     (SG quyển Nh́ – tr.53)

 

Cuối cùng Đức Thầy tâm sự : “nhưng mà Ta nghĩ nhiều tiền kiếp Ta cũng hy sinh v́ Đạo, nào quản xác thân. Kiếp chót nầy đây há lại tiếc chi thân phàm tục, song v́ t́nh cốt nhục tương thân, cũng ủng hộ, chở che cho xác phàm bớt nỗi cực h́nh.” Điều để chúng ta suy nghĩ và cũng đă làm cho hầu hết tín đồ PGHH quan tâm từ hơn nửa thế kỷ nay, đó là câu “Kiếp chót nầy đây”. V́ như Đức Thầy cho biết, Ngài đă “trải qua bao kiếp trong địa cầu lăn lộn mấy phen” hoặc “Những tiền kiếp dầu sống cũng là dân quan đất Việt…” Vậy th́, lư do ǵ mà Ngài cho rằng đây là “kiếp chót”? Để trả lời câu hỏi nầy, không ai có thể bày tỏ rơ ràng và chính xác hơn Ngài :

 

-          Hạ Ngươn nay đă hết đời, (Q.1 - tr.25)

-          Đời c̣n chẳng có bao lâu, (Q.1 - tr.26)

-          Đời cùng c̣n chẳng mấy năm, (Q.1 - tr.48)

-          Đời tận thế mà c̣n lần lựa, (Q.2 - tr.54)

-          Cuộc dương thế ngày nay mỏng mảnh, (Q.2 - tr.54)

-          Đời Ngươn Hạ ngày nay mỏng mẻo, (Q.2 - tr.57)

-          Nay tận diệt lập đời trở lại.

      Khắp lê thứ biến vi thương hải,

      Dùng phép mầu lập lại Thượng Ngươn. (Q.2 - tr.60)

-          Tận thế gian c̣n có bao lâu, (Q.2 - tr.62)

-          Tuồng đời sắp hạ bằng ni rơ ràng. (Q.3 - tr.79)

-          Đời cùng tu gấp kịp th́,

      Để xem báu ngọc ly kỳ Năm Non. (Q.3 – tr.86)

-           Rằng thiên định tuồng đời sắp hạ. (Q.4 - tr.101)

-          Dạy bổn đạo lấy câu trung đẳng,

      Chẳng nói cao v́ sắp rốt đời. (Q.4 - tr.106)

 

Rơ ràng, chúng ta đang ở vào đời cùng của Hạ ngươn Hạ, là thời điểm cuối cùng để bước sang đời Thượng ngươn Thánh Đức. Thật ra, đời nầy đă bị Đức Ngọc Đế giũ sổ từ lâu rồi : “Ngày tiêu diệt từ năm Bính Tư (1936)” nhưng nhờ Đức Phật Tổ can gián nên Đức Ngọc Đế dừng tay lại cho Ngài sai chư Phật xuống trần mở Đạo khuyên dạy sanh chúng lập thân tu hành để trở nên người hiền đức hầu có mặt trong ngày Long Hoa đại hội. Và đây đích thực là “kiếp chót” mà Đức Thầy hóa hiện xuống thế gian để hoàn thành sứ mạng của Ngài :

“Lần thứ chót gọi lời kêu thúc,

Thầy nhắc cho bổn đạo rơ ḷng.”

                                       (Sa-Đéc – tr.300)

“Kỳ thi chót muốn nên phải gắng,

Chuyến đ̣ chiều không xuống huốt đi.”(1)

 

            Vậy th́, quư tín đồ PGHH c̣n chần chờ ǵ nữa mà không mau theo chơn Thầy bước xuống thuyền Từ để được cùng Ngài qua bên kia bờ bến Giác :

“Ma Ha thoàn nhỏ dọn rồi đa,

Bước xuống đi qua bến Giác mà.

Sao hỡi c̣n chờ Ta réo măi ?...

                                                    (Tối mồng Một – tr.232)

      “Thả thuyền Từ bến Giác nâng niu,

Kẻ hiểu Đạo mau mau bước xuống.”

                                               (Quyển Tư – tr.111)

 

Tóm tắt, sau khi nghiên cứu bài “Thay Lời Tựa”, chúng ta hoàn toàn tin tưởng Đức Thầy chính là một trong các vị Phật lâm phàm độ thế để hoàn thành những sứ mạng mà Phật Trời giao phó. Điều nầy, trong bài Thơ của “Ông Bán Chiếu” do một Dị nhơn kính tặng Đức Thầy có xác nhận :“Kim Sơn Phật ấy giáng sanh đành rành.” (tr.216)

Ngài đă “Kỷ Măo hạ san mượn xác trần” và “Chọn một chàng tuổi trẻ tục phàm” với thế danh là Huỳnh Phú Sổ, sanh quán tại làng Ḥa Hảo thuộc miền Tây đất Việt để hóa hiện ra đời. Ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Măo là thời điểm do Thiên Đ́nh định sẵn, Ngài khai sáng Đạo Phật Giáo Hoà Hảo cùng dùng huyền diệu của Tiên gia để độ bịnh cứu đời và sáng tác Kệ giảng đă thu phục hàng triệu tín đồ, dẫn dắt họ vào con đường Đạo Đức. Ngài c̣n cho biết, trong nhiều tiền kiếp Ngài đă là dân quan đất Việt, và dù cho là dân hay quan Ngài đă từng giúp nước, vùa dân cống hiến trọn đời cho đất nước. Sau đó, nhờ tu hành cao công quả, Ngài đă đắc Đạo trở thành vị Phật và đang hưởng cảnh an nhàn của người liễu Đạo nơi Phật quốc. Sở dĩ Ngài c̣n len lỏi xuống thế gian là do ḷng từ ái chứa chan và thương bách tính tới hồi tai họa của Phật Vương và cũng để chọn người hiền đức tham gia ngày Long Hoa đại hội.

Cuối cùng, Ngài cho biết đây là kiếp chót mà Ngài xuống thế cứu đời, dùng bút mực tiết lộ lấy Thiên cơ, truyền cho kẻ xa gần đều rơ biết hầu ăn năn cải hóa làm lành, c̣n kẻ chẳng tỉnh tâm sau đền tội cũng chẳng trách Phật Tiên sao không chỉ bảo.

Tóm lại, bài “Thay Lời Tựa” chính là bản Tuyên Ngôn cho những ai muốn trở thành con dân Phật quốc cần quan tâm nghiên cứu, là tờ Ân xá cho những phạm nhân biết hướng thiện quay đầu, cải tà qui chánh, quy y Phật pháp. Ngoài ra, nếu ai muốn t́m hiểu lai lịch của ĐHGC và những sứ mạng thiêng liêng của Ngài khi hóa hiện xuống trần th́ chỉ cần đọc qua bài “Thay Lời Tựa” cũng có thể thấu đáo tận tường. Chính v́ vậy mà trong các buổi Đại Lễ 18/5 - Kỷ niệm ngày ĐHGC khai sáng nền Đạo PGHH – ban Tổ chức đều đặc biệt ghi bài “Thay Lời Tựa” vào phần chánh yếu của Chương tŕnh như để nhắc nhở đến mọi người :

“Lời Thầy cạn tỏ âm hao,

Để truyền hậu thế, vàng thau lọc lừa.”

                                                             (Bài KỆ, Q. Năm – tr.137)

Thật vậy, bài “Thay Lời Tựa” cần phải được lưu truyền hậu thế để các thế hệ sau nầy biết được rằng vào ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Măo (1939), có một vị Phật tên là Kim Sơn Phật hóa hiện xuống trần tại miền Tây nam Việt, khai sáng Đạo PGHH nhằm chấn hưng Phật Giáo bằng cách canh tân giáo điều và qui nguyên Phật pháp để dẫn dắt chúng sanh trong thời Hạ ngươn Mạt pháp nầy mà đa số là căn mỏng nghiệp dày trở nên người hiền đức hầu có mặt trong ngày Long Hoa Đại Hội. Do đó, muốn học hỏi hoặc t́m hiểu một cách sâu sắc về Sấm Giảng và Thi Văn Giáo lư của ĐHGC, trước hết chúng ta cần phải đọc cẩn trọng bài “Thay Lời Tựa”, bởi v́, đó chính là điều kiện cần và đủ cho người tín đồ PGHH hay những ai muốn nghiên cứu về Giáo lư của PGHH vậy./.

 

                                                                 Sacramento, ngày 18/04/2007.

                                              (mùng Hai tháng Ba năm Đinh Hợi)

Chú thích :

                  (1) Đây là câu thơ của Ông Thanh Sĩ đă được Đ/đ Nguyễn Thanh Giàu chú dẫn trong bài “Ư nghiă Đại lễ 18/5” (Đuốc Từ Bi bộ mới số 54 – tr.17)

                  

 Nguyễn Văn Hiệp

              [NSLONGHOA]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TR̀NH HỘI ĐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ NSLONGHOA
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 03/16/08