|
Tiếng Hú Trên Đỉnh Cô Phong
Minh Đức Triều Tâm Ảnh
Không Lộ là một vị thiền sư thời Lư, ông họ Dương, quê ở Hải Thanh, chùa
Nghiêm Quang - nay là chùa Keo, thuộc xă Vũ Nghĩa, huyện Vũ Thư, tỉnh
Thái B́nh; ḍng dơi nhiều đời làm nghề chài lưới, sau bỏ nghiệp sông
nước, xuất gia tu Phật, thường tŕ tụng Đà-la-ni.
Tương truyền, Không Lộ, Giác Hải và Đạo Hạnh là bạn đồng tu; họ thường
vân du đây đó, dùng pháp thuật lạ lùng, kêu gió, gọi mưa, dùng nước phép
chữa bệnh, tùy duyên hóa độ chúng sanh.
Tài năng và đức độ của họ đều được vua phong tặng chức vụ Quốc Sư, tuy
nhiên, cả ba đều không màng danh lợi, chuộng nếp sống quê mùa, thanh bần
giản dị làm vui (an bần lạc đạo)! Về già, Không Lộ về quê lập chùa, thâu
nhận đệ tử và giáo hóa chúng đồ.
Ngoài hành trạng nổi bật như thế, Không Lộ c̣n để lại hai bài thơ nổi
tiếng, tứ lời giản dị, văn phong thanh cao, thiền ư thâm sâu rất có giá
trị văn học và thiền học.
Bài thơ thứ nhất:
“Vạn
lư thanh giang, vạn lư thiên
Nhất thôn tang giá nhất thôn yên
Ngư ông thùy trước vô nhân hoán
Quá ngọ t́nh lai tuyết măn thuyền!”
Tạm dịch:
“Trời
nước xanh xanh, muôn dặm liền
Làng dâu lạnh giá, khói đông miên
Ông chài say ngủ, không ai gọi
Trưa trợt, mây quang, tuyết ngập thuyền!”
Bài thơ Ngư nhàn này, ai cũng bảo đây là một điển h́nh thi pháp của nghệ
thuật thiền tông. Nó không nói bằng những thuật ngữ Phật học dành cho lư
trí suy nghiệm, không nói bằng tư duy khái niệm mệt mề khô rỗng - mà nói
bằng tư duy h́nh tượng - những h́nh ảnh khói sương, những nét chấm phá
trời, nước, mây thủy mặc. Đây là ngôn ngữ của những cảm xúc giác quan!
Muôn dặm sông xanh tiếp muôn dặm trời xanh, thôn làng lạnh giá ch́m
trong làn khói nửa thực, nửa hư.
Giữa trời nước mênh mông ấy, ông chài ngủ say tít trên chiếc thuyền câu,
không ai lay gọi được. Trời đă quá trưa, quang tạnh, tuyết rơi ngập
thuyền... Người và vật dường như cùng ḥa với nhau làm một? Cái ta bé
mọn, nhỏ nhoi với những lo âu, phiền muộn của cuộc đời chợt như mất tích,
mù tăm giữa vũ trụ bao la? Trời đất người đều tịnh định, ḥa đồng, nhất
thể? Hay là tác giả muốn khơi mở thế giới vong ngă, vong pháp - chỉ c̣n
sự sống vô biên thầm lặng dịch hóa đến muôn cùng?
Tuy nhiên, bài thơ này, ta c̣n nghe hơi hướm nhàn của Lăo Trang, ta c̣n
đọc ra tư tưởng trời đất người ḥa nhập - tam tài thiên địa nhân - của
Nho triết, tương tự bóng dáng đại ngă nhất nguyên của Bà-la-môn giáo!
Và bài thơ thứ hai sau đây - Ngôn hoài - mới chính là trọng tâm khảo sát
của chúng ta:
“Trạch
đắc long xà địa khả cư
Dă t́nh chung nhật lạc vô dư
Hữu thời trực thướng cô phong đỉnh
Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư”
Tạm dịch:
“Thế
đất rắn rồng chọn được nơi
T́nh quê chan chứa suốt ngày vui
Có khi chót vót đầu non quạnh
Một tiếng cười vang lạnh cả trời!”
Hoặc:
“Rắn
rồng, chọn đất dễ ưa
T́nh quê vui thú sớm trưa chẳng rời
Có khi đứng chót non vời
Cất dài tiếng hú, đất trời lạnh băng!”
Về mặt văn bản học, các nhà nghiên cứu cho rằng, bài thơ này, Không Lộ
đă lấy ư từ bài thơ của Thứ sử Lư Cao làm tặng Dược Sơn, Duy Nghiễm,
nhân đêm kia, thiền sư kinh hành trên núi cao, chợt thấy mây vẹt, trăng
tỏ - bèn cất tiếng cười dài vang xa đến 90 dặm Đông Phong Dương:
“Tuyển
đắc u cư hiệp dă t́nh
Chung niên vô tống diệc vô nghinh
Hữu thời trực thướng cô phong đỉnh
Nguyệt hạ, phi vân tiếu nhất thanh!”
Tạm dịch:
“Được
nơi thanh vắng thú quê
Quanh năm đưa đón chưa hề biết hay!
Chợt khi lên thẳng non tây
Mây tan, trăng tỏ - vỗ tay cười dài!”
Nếu so sánh hai văn bản – th́ đúng là Không Lộ của chúng ta đă tá văn,
nếu như không muốn nói là đạo văn của Lư Cao! Bài thơ thất ngôn tứ tuyệt
có 28 chữ mà Không Lộ đă vay của Lư Cao hết 14 chữ: đắc, cư, dă t́nh,
chung, hữu thời trực thướng cô phong đỉnh, nhất thanh! Do vậy, có nhà
nghiên cứu đă loại bài thơ này ra khỏi các tuyển tập văn học sử. Họ có
lư. Tuy nhiên, ta hăy cùng nhau khảo sát, xem thử có phát kiến ǵ mới mẻ
để khả dĩ biện hộ cho thiền sư Không Lộ hay chăng?
Trong văn học, thiền học Việt kể từ thời Lư, các vị thiền sư thường hay
mượn lời, mượn ư của các thiền đức, cao tăng đời trước để dạy môn sinh.
Ví như vua Trần Thái Tông có nói rằng: “Mỗi lần nêu lên là mỗi lần mới”.
Tức là lặp lại mà vẫn sinh động, hiện tiền; vẫn là ánh nắng tinh khôi,
vẫn là giọt sương trong vắt sáng nay trên đầu cây ngọn cỏ! Ánh nắng,
giọt sương có bao giờ cũ? Đất trời cũng bắt chước, cũng lập lại như vậy
ru?
Có lẽ vị vua khai tổ triều Trần, có một đời sống giới định tuệ nghiêm
túc - thật sự thấy như vậy chăng? Trước đó nữa, Lư Giác và Pháp Thuận
cùng vui cảnh, vui t́nh, xướng họa bài thơ Nga nga – hóa ra chỉ sửa mấy
chữ bài thơ của Lạc Tân Vương làm lúc 10 tuổi!
Gần hơn, Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn, Truyện Kiều của Nguyễn Du -
đều không mượn của người ta cả hay sao? Đây chính là loại h́nh văn học
phổ biến ở trong các nước đồng văn, được gọi là hiện tượng tập cổ quen
thuộc của các tác gia đông phương.
Chúng đâu chỉ đơn thuần là giao lưu văn hóa. Các thiền sư nhờ học vấn
thâm uyên – nên chỉ cần mượn một nhóm từ, một cụm từ hoặc luyến láy,
chuyển đảo một vài tứ của cổ thi, thiền ngữ, thiền thoại, niệm, tụng ǵ
đó – là có thể mở ra cả một trời liên tưởng về ngữ nghĩa hoặc h́nh tượng
văn học, thiền học. Những cảm xúc nghệ thuật, do vậy, chúng có thể tương
thuộc, tương đồng, đào sâu thêm, nới rộng ra, làm cho chúng mới mẻ hơn
mà thôi vậy.
Trở lại với bài thơ Ngôn hoài.
Trạch đắc long xà địa khả cư...
( Rắn rồng chọn đất dễ ưa...)
Câu thơ đầu, trước đây có một số nhà nghiên cứu bảo là vị thiền sư này
lựa t́m được một chỗ đất hợp với phong thuỷ - do hai chữ long xà! Xin
thưa, tả thanh long, hữu bạch hổ; rồng xanh mà dài, hổ trắng mà cao mới
là thế đất hợp với phong thủy - chứ không hề có xà nào ở đây cả!
Phong thủy là các lực, các từ, các khí của ngoại giới thiên nhiên, chúng
tương quan, tương tác với nhau mà ảnh hưởng, liên hệ đến con người là
tiểu vũ trụ. Nói cách khác, phong thủy là các định luật tự nhiên của
trời đất tác động đến sông núi, mùa tiết, muôn sinh và thảo mộc.
Ở đây, nói đến phong thủy tác động đến nơi ở của con người: Ai thuận
thiên (thuận với các định luật vũ trụ) th́ c̣n, ai nghịch thiên th́ mất!
(thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong). Đối với khoa thiên văn,
địa lư th́ phong thủy quan trọng như vậy đấy. Nhưng đối với nhà Phật,
nhà Thiền - chúng chỉ là ngoại duyên (thuận duyên, trợ duyên hoặc ngại
duyên, chướng duyên) mà thôi.
Duyên cũng có hai là nội duyên và ngoại duyên (theo Abhidharma – trong
và ngoài tương tác có cả thảy 24 duyên). Duyên bên ngoài không quan
trọng bằng duyên bên trong. Ngay cái duyên bên trong này cũng không quan
trọng bằng nhân bên trong.
Nói khái lược như vậy để biết rằng, người tu Phật, tu Thiền dẫu xem
ngoại duyên là có thật – nhưng họ vẫn xem trọng nội nhân, nội duyên hơn.
Bởi v́ chính nội nhân, nội duyên này mới là cái gốc, cái bản căn, chúng
duyên hệ với ngoại duyên mới sinh ra hữu vi, vô vi, khổ lạc, tham sân,
si tuệ, trí bi, mê ngộ, sinh tử, Niết-bàn...
Biết phong thủy, có thể mượn phong thủy – nhưng chưa bao giờ con cái nhà
Phật xem phong thủy là yếu tố tích cực có thể quyết định số mạng, vận
mạng con người (Định mệnh thuyết của Khổng Nho - cái tơ cái tóc cũng do
trời định; tuy nhiên, nếu hiểu thiên - thiên lư, thiên mệnh - là những
luật tắc của vũ trụ th́ nó lại khác).
Là một vị thiền sư uyên thâm, thông tuệ, chẳng lẽ nào những buồn vui,
khổ lạc, trược thanh, mê ngộ của chính ḿnh – Không Lộ lại nương nhờ vào
cuộc đất do phong thủy (ngoại duyên) quyết định? Hóa ra, có lẽ do cả một
thời đại chuộng huyền thuật, phép lạ - phong thủy lại đóng một vai tṛ
quan trọng với mọi nhà, nên Không Lộ chỉ nói cười vui với thiên hạ rằng
là, tui cũng t́m được cái chỗ đất có thể ở được, nó cũng có long, có xà
như ai vậy.
Xà – chính là nụ cười mỉm (vi tiếu), nụ cười nhỏ nhẻ của bậc thông đạt -
do đă kinh qua tất cả thế trí, không nhạo báng ai mà chỉ muốn ḥa kỳ
quang, đồng kỳ trần (ḥa với ánh sáng, cùng với bụi bặm - Lăo) một chút
mà chơi thôi.
Câu thơ thứ hai:
Dă t́nh chung nhật lạc vô dư...
(T́nh quê vui thú sớm trưa chẳng rời...)
Người ta cũng đă bàn luận khá nhiều về hai chữ dă t́nh. Ai cũng biết dă
t́nh là t́nh quê. Nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy (Văn hóa Việt Nam..., tr.
203, Nxb VHTT, 2005) có nói, các bản dịch đều dịch là t́nh quê, dạ quê
là không thích hợp. Đại lược, theo anh, chữ dă t́nh phải liên hệ với
liên văn bản từ bài thơ của Lư Cao, đó là hai chữ “u cư” mới đúng: Trạch
đắc u cư hiệp dă t́nh.
Theo với sự liên tưởng ấy, dă t́nh phải là nơi u cư, nhưng u cư này
không phải là nơi ở ẩn của những Nho gia bất đắc chí. Tôi đồng ư với anh
Thúy - cả Nguyễn Khắc Phi - khi đă lựa chọn nghĩa u cư là tính ưa ẩn dật
nhàn tản, cộng thêm với tính chất phóng khoáng theo cả hai nghĩa của Từ
nguyên.
Phát kiến ấy thật là tuyệt, đă giải mă được ngữ nghĩa mới lạ để mở mắt
cho những học giả dốt mà ưa nói chữ. Đồng thời, mở hé được cánh cửa tâm
linh, để cho những anh chàng trí thức một cục, một ḥn, chủ quan, phiến
diện b́nh giảng rằng là, kết hợp giữa niềm vui về hạnh phúc trần thế...;
rằng là t́nh yêu quê hương đất nước, đặc biệt với đất nước nông nghiệp
thường được bắt đầu từ nguồn vui “thú quê” chung đó!? (Văn 10, NXB Giáo
dục, 1991).
Ở đây, tại văn cảnh này, ngữ cảnh này, tôi muốn tiếp với anh Thúy để nói
thêm rằng, tính ưa ẩn dật nhàn tản, phóng khoáng kia cũng vẫn là của
Khổng, của Lăo chứ chưa phải là của Phật, của Thiền! Muốn nắm hết tâm
yếu thiền - thiền Đông độ, thiền Zen hoặc cả thiền Vipassanā nguyên thủy
- th́ ẩn dật, nhàn tản, phóng khoáng đều chưa phải là thiền duyệt, niềm
vui thầm lặng nội tâm (lạc về thiền, lạc về quả) của thiền gia!
Ẩn dật là c̣n ngại trú xứ, ngại hồng trần! Nhàn tản là c̣n ngại công
việc, ngại bận rộn. Phóng khoáng là c̣n ngại buộc ràng, ngại luật nghi!
Các vị thiền sư là những bậc đạt ngộ, do kinh nghiệm tâm linh tu chứng,
họ thường vô ngại trước mọi chướng duyên. Ví dụ, có vị vô ngại trước vô
thường biến đổi của cuộc đời: “Nhậm vận thịnh suy vô bố úy” (Gẫm chuyện
thịnh suy không sợ hăi - Vạn Hạnh).
Có vị, càng chướng ngại chừng nào th́ tâm tuệ càng sáng trong, càng cao
đẹp chừng ấy: “Ngọc phần sơn thượng sắc thường nhuận, liên phát lô trung
thấp vị can” (Trên non ngọc đốt màu thêm nhuận, sen nở trong ḷ sắc
chẳng phai - Ngộ Ấn).
Có vị không cần hỏi ǵ cả, chỉ tin vào nắm tay quyền biến phương tiện
của ḿnh: “Đại dụng hiện tiền quyền tại thủ, thùy tri phàm thánh dữ tây
đông” (Trước mắt, nắm tay dùng việc lớn, biết chi phàm thánh với tây
đông - Khánh Hỷ).
Những tư tưởng lớn, tâm tuệ lớn như thế ấy, trong thiền học Việt , kể
không hết đâu. Tuy nhiên, có lẽ, câu nói sau đây của một vị thiền sư
đương đại, nó gần với văn mạch luận chứng của chúng ta: “Tự do là ung
dung trong ràng buộc, hạnh phúc là tự tại giữa khổ đau” (Viên Minh).
Vậy, Không Lộ là một vị thiền sư có định, có thần thông, có tuệ - không
lư nào lại c̣n ngại lắm chuyện tầm thường như thế. Có lẽ, do người ta
chưa giải mă được câu thơ thứ hai này, nó nằm nơi chỗ “dă t́nh” và “lạc
vô dư”. Nó là hai nghĩa đối sánh trong câu, bổ túc cho nhau để làm nên
một tâm tuệ vẹn toàn.
Dă t́nh là t́nh quê mùa thảo dă, t́nh thế gian, lạc vô dư là niềm vui
vượt ngoài trần tục, niềm vui siêu thế. Vô dư – cái từ huyền mật, bí
hiểm - mà từ xưa đến nay chưa ai diễn nghĩa đúng nên cứ rơi vào những
niềm vui dung tục, tầm thường.
Vô dư là thuật ngữ của Phật học (Hữu dư Niết-bàn, Vô dư Niết-bàn), có
nghĩa là không c̣n dư sót bất kỳ một lậu hoặc phiền năo nào dù thô hay
tế - chỉ cái tâm, cái tuệ của bậc giải thoát!
Lạc vô dư - chữ lạc này cũng không phải là khổ-lạc tương quan đối đăi
nhau - mà phải là cái lạc siêu thế, ly thoát khổ-lạc (dukkha) tại thế.
Nó tại thế gian mà vẫn xuất thế gian – đúng như câu kinh: Phật pháp tại
thế gian, bất ly thế gian giác, ly thế mịch bồ đề, cáp như tầm thố giác.
Tạm diễn nghĩa: Phật pháp ở thế gian, không thể rời thế gian để tầm cầu
giác ngộ; ra khỏi thế gian mà t́m kiếm bồ-đề th́ chẳng khác ǵ đi t́m
sừng thỏ! Người học Phật có căn bản giáo pháp ai cũng hiểu điều tôi vừa
nói.
Có nắm bắt được ngữ nghĩa tinh mật ấy, chúng ta mới với tới được câu thơ
thứ ba, v́ nó chính là sức bật của lạc vô dư ở câu hai:
Hữu thời trực thướng cô phong đỉnh...
(Có khi đứng chót non vời...)
Hữu thời - có thời - nhưng thời nào? Chính là thời của lạc vô dư, nó
không c̣n hạn cuộc vào thời gian tại thế sinh diệt nữa. Chính ở đây mới
hiển lộ được nghĩa của động từ trực thướng: Lên thẳng ngay, lên thẳng
ngay tức khắc. Dưới núi trên núi là một. Bờ này bờ kia là tức khắc ở đây
và bây giờ. Nó không c̣n lệ thuộc thời gian vật lư hay thời gian tâm lư
phạm trù.
Đây chính là sát-na kỳ ngộ chói ḷa vĩnh cửu, mà người ta hay nói văn
chương bóng bẩy rằng là cố quận, rằng là thiên thu... ǵ ǵ đó cũng được
ráo trọi. Chính sự bừng nở ấy, trực thướng ấy, giây khắc ấy mới hội ngộ
được với đỉnh cô liêu, đỉnh cô phong, đỉnh tuệ giác bất động tịch mịch
của chính ḿnh. Đúng như câu thơ của một thiền sư thi sĩ lăng đăng nào
đó: “Bây giờ ta lại gặp ta; thiên thu, cố quận thiệt là hoát nhiên”.
Cảm hứng trầm hùng của tâm linh siêu thoát, do nhân và duyên ở ba câu
đầu nên có lẽ, câu thứ tư, nó đọng lại, nó nén chặt lại - dồn tụ nội lực
mà bùng vỡ ra:
Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư!
(Cất dài tiếng hú đất trời lạnh băng!)
Trường khiếu nhất thanh - một tiếng cười dài, một tiếng hét dài, một
tiếng hú dài - mọi người thường dịch như thế. Và có lẽ họ dịch đúng, v́
chính ở tại đỉnh cô phong ấy, tiếng cười của sự giác ngộ, của siêu thoát
ấy mới làm lạnh cả hư không mênh mông, rộng lớn, dao động cả vũ trụ càn
khôn!
Tuy nhiên, khi viết đến ngang đây, một trực giác tâm linh xẹt đến, tôi
bèn đi lục tra tất cả các từ, tự điển hiện có trong tay – th́ chữ khiếu,
ngoài nghĩa kêu lên, hô lên, la hét lên, lỗ hổng (như cửu khiếu), c̣n có
nghĩa là năng lực hiểu biết, năng lực hiểu biết từ chỗ nào đó nó thoát
ra.
Tự dưng, tôi nổi cả da gà, lẽ nào nó vi diệu đến thế, bất khả tư nghị
đến thế! Tôi rất dè dặt, thận trọng - cả chủ quan nữa - mà nói rằng, tại
sao một vài ngữ nghĩa nằm ẩn trong một bài thơ đă ngàn năm qua, lại chưa
ai phát hiện?
Tôi bần thần dă dượi. Kinh khiếp quá. Bài thơ Ngôn hoài vậy là khó có
thể dịch bằng hiển ngữ rạch ṛi. Cảm nhận thầm lặng. Cảm nhận và không
thốt nên lời. V́ rằng đây là tiếng hú, tiếng cười trên đỉnh cô phong,
đỉnh cô liêu của tuệ giác! Tiếng hú, tiếng cười ở biên cơi này vốn không
có người hú, người cười!
Chỉ có năng lực của sự giác ngộ tự nó bùng vỡ thành băng giá làm đông
lạnh cả thiên nhiên ngoại vật. Có thể tạm dịch lơi khơi như thế này được
chăng?
“Rắn
rồng chọn đất dễ ưa,
Niềm quê lạc đạo sớm trưa nhẹ ḷng,
Có khi chót vót cô phong,
Cười dài một tiếng hư không lạnh ḿnh!”
Bây giờ, sau khi đi qua những tầng lớp ngữ nghĩa của bài thơ Ngôn hoài –
ta mới thấy rơ, bài thơ của Thứ sử Lư Cao, do ngại chuyện đưa đón tầm
thường (vô tống diệc vô nghinh) nên t́m được chỗ ẩn cư (trạch đắc u cư)
có t́nh quê, có thú quê (dă t́nh); rồi có khi lên đỉnh núi cao (cô phong
đỉnh), thấy mây vẹt, trăng tỏ (nguyệt hạ, phi vân) bèn cất lên một tiếng
cười (tiếu nhất thanh)!
Hai câu đầu có cốt cách xử sĩ thanh cao của Nho hay Lăo. Tuy nhiên, câu
hai không có đủ nội lực để đẩy lên câu ba như bài Ngôn hoài. Nên cô
phong đỉnh ở đây không phải là không gian tâm linh của tuệ giác. Điều ấy
càng rơ nghĩa hơn ở câu tư: Mây vẹt, trăng tỏ (vô minh tan, minh hiện),
sau đó mới là tiếng cười của sự giác ngộ!
Cấu trúc bài thơ này lỏng lẻo ngữ nghĩa, không chặt chẽ nhân quả bằng
bài Ngôn hoài - có thể sử dụng kiến thức vỏ năo cũng làm được! Nguyễn
Đ́nh Chú có vẻ chê tiếng cười của Dược Sơn -Duy Nghiễm: “Tiếng
cười dài dưới trăng mây kia, tuy có hấp dẫn, nhưng dù sao chỉ là tiếng
cười cao đạo của một con người đă không thích ǵ mấy sự ḥa nhập trần
gian...!”
(KTNN,Số 147, 8-1994)
Vậy th́ xin các nhà nghiên cứu văn học, văn học sử hăy trả lại nguyên vị
giá trị tót vời của bài thơ Ngôn hoài – nó xứng đáng đại biểu cho văn
học, thiền học không chỉ ở thời Lư mà cả cho cả mọi thời! Nghi ngờ tá
văn, đạo văn là có tội. Lại càng có tội hơn khi giảng dạy văn học mà
phân tích, b́nh luận áp đặt, chủ quan, không tới, đôi chỗ chứng tỏ kiến
thức nông cạn của người viết:
Trong Văn 10, Nxb Giáo dục, 1991 của một vị giáo sư mà Nhà nghiên cứu Đỗ
Lai Thúy không muốn nêu tên, có phán: “Sự
kết hợp giữa niềm vui về hạnh phúc trần thế với khát vọng ḥa nhập với
vũ trụ bao la. Thứ nhất, là t́nh yêu quê hương đất nước, đặc biệt với
đất nước nông nghiệp thường được bắt đầu từ nguồn vui “thú quê” chung
đó.
Thứ hai, là khát vọng vươn tới trời đất vũ trụ bao la như một nhu cầu
nhân văn cao đẹp. Nhà sư đang vui nỗi vui trần thế, bỗng nhiên lên đỉnh
núi cao trơ trọi, kêu vang một tiếng làm lạnh cả bầu trời. Ở đây đă trèo
lên là trèo lên thẳng một mạch, không chút rụt rè. Đă lên cao là lên cao
không lưng chừng. Và một tiếng kêu vang đủ làm cho cả vũ trụ bao la kia
kinh ngạc đến rùng ḿnh ớn lạnh.”
(trích lại, Văn hóa Việt ... của Đỗ Lai Thúy, Nxb VHTT, tr. 202).
Khá hơn một chút, Trần Đ́nh Sử - có vẻ như đă nói gần gần đúng, rằng là:
“...Nêu
ư nghĩa biểu trưng của bài thơ “Lên thẳng” là h́nh ảnh của đốn ngộ, xảy
ra trong chốc lát, như ánh chớp. “Đỉnh núi cao trơ trọi” đây thuần túy
là ẩn dụ chỉ thế giới không vô. “Thái hư” là thế giới của nhà Phật mà
chỉ kẻ đắc đạo mới có thể đạt đến. Và “cất tiếng kêu dài làm lạnh cơi
thái hư ấy là dấu hiệu ḥa nhập giữa ta và thế giới, thế giới và ta.”
(Trích lại, tr.182, VHPG... của Nguyễn Công Lư, Nxb ĐHQG, TP/HCM).
Cái gọi là không vô ấy, không phải đơn giản, dễ hiểu đâu (Có rất nhiều
cái không: ngoan không, hư vô, không đối đăi với có, không của ư niệm,
không của tâm, không của cảnh, không của vô, không của không, không trụ
xứ, không vô biên, thức không, không có ǵ cả, không của phi tưởng; mười
mấy cái không ấy đều không phải là không tánh (Suñyatā)- v́ duyên khởi,
v́ vô ngă nên không - của Nikāya hoặc của Kim cương Bát-nhă - thấy được
cái không này mới có tuệ giác); và c̣n cái thái hư kia – hư không rộng
lớn – th́ nhà Phật đắc nó mà làm ǵ! C̣n sự ḥa nhập giữa ta và thế giới
cũng có phải là của Phật đâu! (xem dưới).
Một chỗ khác th́ Trần Đ́nh Sử lại b́nh giảng khá lạ lùng: “...Thú
quê là thú quê thật, leo núi là leo núi thật, cả bài như một bức tranh
tả thực và tư thế hiên ngang chinh phục vũ trụ được hiểu khá rơ...”
(Trích lại, Văn hóa Việt Nam... của Đỗ Lai Thúy, tr. 202, Nxb VHTT,
2005).
Hèn ǵ, mà trong Văn học Lư Trần, người ta đă dịch chữ trực thướng là
leo lên, trèo lên, xông lên, xông thẳng lên... như đi đánh giặc!? Oan
uổng quá! Biết bao nhiêu thế hệ học sinh đă không thể hiểu được sức mạnh
tâm linh của cha ông nội hàm trong ḍng văn hóa dân tộc – là do các bậc
thầy giáo, các ông Nghè, ông Cống, các nhà nghiên cứu văn học – đă không
tự trang bị đủ cho ḿnh những kiến thức cần thiết.
Có người nói từa tựa như đúng lắm, kêu lắm, cao siêu lắm, nhưng chỉ
chứng tỏ kiến thức khuyết lơm của ḿnh: “...Để
ḥa đồng và vui suốt ngày với thiên nhiên là h́nh ảnh con người mang
khát vọng ḥa nhập và chế ngự thiên nhiên... Là một tiếng kêu sảng khoái
của một tâm hồn khoáng đạt với tư tưởng phá chấp triệt để và tinh thần
thoải mái tột cùng, chứ không thể là của một người suốt ngày gơ mơ tụng
kinh, câu nệ và tín điều một cách cứng nhắc khô khan. Tiếng kêu đó chính
là sự trực cảm tâm linh, là trạng thái chứng ngộ của thiền sư. Cũng nhờ
trực ngộ mà con người ḥa nhập vào đại ngă vũ trụ".
(Đoạn văn trên là của Nguyễn Công Lư trích của Nguyễn Công Lư trong VHPG,
Sđd, tr.182-183).
Lời b́nh giảng ấy thật là tệ hại, phàm phu tục tử hết chỗ nói. Vui suốt
ngày với thiên nhiên không phải là tâm tuệ của một bậc thiền sư đạt ngộ!
Khát vọng là những tâm và tâm sở si uế và trần tục! Giác ngộ, giải thoát
của nhà Phật không bao giờ có tham vọng chế ngự thiên nhiên, chinh phục
thiên nhiên như tây phương khoa học trục vật! (trên th́ ḥa đồng mà dưới
là chế ngự!).
Tiếng kêu sảng khoái - chắc là tiếng kêu trong pḥng the! Lạc của thiền
duyệt không phải là “tinh thần thoải mái tột cùng” như một cảm giác dung
tục, tầm thường như thế! (Nói thêm: Đạo Phật chung chung, thời nào cũng
vậy, giáo phái nào cũng vậy - có thể có chăng câu nệ và tín điều? Câu nệ
là câu nệ ǵ? Câu nệ h́nh thức lễ nghi – cái dĩ lễ chế tâm cần thiết để
thu thúc bản năng? Và tín điều?
Xin thưa, Đạo Phật không có tín điều, đừng nhầm lẫn Đạo Phật với các tôn
giáo hữu thần, mặc khải!)
C̣n nữa, “con người ḥa nhập vào đại ngă vũ trụ” (tiểu ngă, Atman – ḥa
nhập đại ngă, phạm thể - Mahātman, Brāhman) là tư tưởng của Bà-la-môn
giáo chứ không phải của Phật! (Chưa nói đến luận văn tiến sĩ, Sđd của
tác giả này, có thể có trên trăm chỗ hiểu sai về Phật, về thiền một cách
trầm trọng - mặc dầu có hằng chục GS, PGS... khen ngợi).
Dầu sao, có điều an ủi, là không phải ai cũng thế; Nhà thơ Chế Lan Viên
có đôi mắt xanh, có nội lực văn hóa thâm hậu đă thấy được sức mạnh tâm
linh tỏa ra từ bài thơ này, tiếng hú này - trong ḍng mạch văn hóa, tiếp
khí, tiếp lực, un đúc sức mạnh cho dân tộc - nên đă cô đọng, găy gọn,
rất ấn tượng, rất hạo nhiên: “Không có tiếng kêu dài này th́ không có
chiến thắng Bạch Đằng!” (Trích lại, Văn học Phật giáo... của Nguyễn Công
Lư, Nxb Đại học Quốc gia TP-HCM, tr, 182).
Để nói lên lời kết:
V́ tiếng cười, tiếng hú của thiền sư Không Lộ nó cao diệu, mênh mông,
ngoài biên tế, phạm trù, vượt không thời gian, chẳng ở nơi cái vỏ của
ngôn ngữ khái niệm; là tiếng vọng dài của tuệ giác bên kia bờ - nên tôi
xin mượn câu kết của Bát-nhă tâm kinh để nói điều không thể nói: Gate,
gate, paragate, parasamgate; Bodhi-svāha! (Vượt qua, vượt qua, cứ vượt
qua, hăy vượt qua một cách trọn vẹn; chào mừng sự bùng vỡ của tuệ giác!).
Tiếng hú từ ngàn năm trước ấy - chính là sự bùng vỡ của tuệ giác - đă
bay qua sông dài, biển rộng, sử lịch, thời đại, văn học, thiền học, khổ
đế của trần gian - cho đến hôm nay, tôi vẫn c̣n bị chấn động, bồi hồi và
nghe buốt lạnh cả từng con chữ!
Am Mây Tía
Tiết đông lạnh |