|
Ngày Đản
Sanh Của
Đức Quán Thế
Âm Bồ Tát
GS/TS Chun
Fang Yu / Tâm Hà Lê Công Đa dịch
Mặc dầu ngày đản sanh của những vị bồ tát, kể cả Quán Âm,
thường không được mô tả trong kinh điển (khác với Đức Phật
Thích Ca Mâu Ni, họ không phải là những nhân vật lịch sử),
tại Trung quốc, ngày 19 tháng 2 (ngày sanh của Công chúa
Diệu Thiện) đă trở thành ngày đản sanh của Bồ Tát Quán Âm.
Ngày vía kỷ niệm đản sanh của Bồ Tát đă được liệt kê lần đầu
tiên trong phần “nguyệt khoá” của
Huyễn Trụ
Thanh Quy, cuốn sách ghi chép những luật tắc trong chốn
thiền môn do Thiền sư Trung Phong Minh Bổn
soạn vào năm 1317 sử dụng tại ngôi chùa riêng của
ngài, Huyễn Trụ
Am. Trong cuốn sách này ông đă quy định cách thức cúng dường
hương hoa trà quả, đèn cầy, những thực phẩm ngon và nên đọc
lớn tiếng những lời cầu nguyện (sớ), giống như ngày kỷ niệm
Đức Phât nhập niết bàn (HTC 111:974a). Cũng giống như những
ngày đản sanh của tất cả những nhân vật thần thánh Trung
quốc, đây là ngày lễ hội vô cùng quan trọng đối với những
tín đồ tôn thờ Bồ Tát Quán Âm và được xem như là một biểu
hiện có ư nghĩa nhất của việc bản địa hoá BồTát. Một thí dụ
khác có ư nghĩa tương tự là việc xác định trú xứ của Bồ Tát,
đảo Phổ Đà, nằm ở ngoài khơi tỉnh Triết Giang gắn với ḥn
đảo huyền thoại Bồ Đà Lạc Ca, một cảnh giới siêu thời gian
và không gian được đề cập đến trong Kinh Hoa Nghiêm và những
kinh điển mật tông khác. Một khi ḥn đảo hoang vắng, vô danh
này được xây dựng trở thành một trung tâm hành hương quốc
gia và quốc tế, nó đồng thời cũng đă góp phần vào việc nâng
cao tín ngưỡng thờ phượng Quán Âm Nam Hải.
Trong số tất cả những biểu hiện nữ thân của Bồ Tát Quán Âm
tại Trung Quốc, cho đến nay h́nh ảnh phổ thông nhất trong
đại chúng vẫn là h́nh ảnh của một người con gái trinh trắng
hiếu thảo được h́nh tượng hoá qua h́nh ảnh của Công chúa
Diệu Thiện. Như Glen Dudbridge (1978) đă từng chứng minh,
người ta có thể truy t́m dấu vết nội dung cốt lơi của câu
chuyện này trên tấm văn bia mang tên Đại Bi Bồ Tát Truyện do
Tưởng Chi Kỳ (1031-1104) thực hiện
khi ông được bổ nhậm đến làm vị tân thứ sử tại Dự Châu, Hồ
Nam vào năm 1099. Ở đây, ông đă trở nên thân thiện với sư
Hoài Châu (?), trú tŕ
chùa Hương Sơn, tọa lạc trên ngọn núi cao 200 lí phía nam
Tống Sơn cách phủ Bảo Phong, Dự Châu, Hồ Nam chừng vài dặm
về phía Đông Nam. Nối kết với tu viện là Chùa Đại Bi, nơi
thờ bức h́nh Thiên Thủ Thiên Nhăn Quán Âm.
Danh xưng Đại Bi, như đă được nói đến trong chương rồi, đặc
biệt được dùng để chỉ h́nh tượng này. Vào đời Đường, với
việc du nhập một số h́nh tướng mật tông của Quán Âm vào
Trung quốc, những h́nh tượng thuộc loại này đă trở nên rất
thông dụng. Đặc biệt người ta cũng nói đến xuất xứ có tính
cách thần thoại của những h́nh tượng này, cho rằng đă do
chính Bồ Tát sáng tạo ra. Lư Tiến (1059-1109) tác giả
cuốn Họa Phẩm, đă mô tả bức h́nh tại Tu viện
Hương Sơn là do “chính hoá thân của bồ tát Đại Bi vẽ ra.”
Ông đă so sánh bức h́nh này với hai bức h́nh Đại Bi Quán Âm
khác đă được trông thấy, một do nhà danh họa Phạm Quỳnh
thực hiện vào thời Đại Chung (847-859), có chiều
dài khoảng gần một bộ với ba mươi sáu cánh tay, và một bức
khác được thờ tại tu viện Thiên Tiên
toạ lạc tại Đông Kinh
(?), Hương Dương (?) (bây giờ thuộc tỉnh Hồ Bắc)
cũng được coi là do “một hoá thân của Đại Bi” sáng tác.
Thiên Tiên Tự là một ni viện. Vào thời Vũ Đức (618-628), khi
những nữ tu ở đây muốn có một bức h́nh của Đại Bi Quán Âm vẽ
lên tường ngay tại chánh điện, họ muốn đi t́m một họa sĩ
thật tài giỏi. Thế rồi một cặp vợ chồng và một cô bé xuất
hiện đáp ứng lời kêu gọi này, và cô bé, người hoàn tất bức
họa không ai khác hơn là một hóa thân của chính Bồ tát Quán
Âm (Dudbridge 1978:16; Stein 1986:46; Tsukamoto 1955:269).
Một bức tranh Đại Bi Quán Âm với bốn mươi hai tay hiện được
trưng bày tại Viện Bảo Tàng Đài Bắc được xem như là của Phạm
Quỳnh có ghi lời chú thích rằng ông đă vẽ bức tranh này vào
năm 850 tại Thánh Hưng Tự
ở Thành Đô, Tứ Xuyên.
Tuy nhiên chỉ có trường hợp Hương Sơn là duy nhất v́ Quán Âm
không những đă tạo ra một ảnh tượng mà c̣n sống một đời sống
thực ở đó. Như Dudbridge đă lư luận một cách thuyết phục,
tín ngưỡng thờ phượng Bồ Tát đă được khởi đầu thông qua một
sự phối hợp quảng bá vừa của giới chức chính quyền địa
phương lẫn vị trú tŕ của ngôi chùa này vào năm 1100, một
kiểu cách mà sau này chúng ta sẽ thấy trong chương 9, thường
được dùng trong việc thiết lập, tạo dựng nên những trung tâm
hành hương. Căn cứ trên những lời kể của vị sư trú tŕ, vị
thứ sử tại địa phương, Tưởng Chi Kỳ,
đă viết lại câu chuyện này và sau đó được một nhà viết thư
pháp nổi danh đương thời, Thái Kinh
(1046-1126) tạo thành thư họa và khắc vào bia năm
1100. Như vậy, kể từ đầu thế kỷ 12, Hương Sơn hiển nhiên đă
trở thành một trung tâm thu hút khách hành hương.
Tưởng Chi Kỳ không làm việc ở Dự Châu
lâu. Chưa đầy ba năm sau ông được đổi đến trấn nhậm Hàng
Châu, trong khoảng giữa tháng 11 năm 1102 và tháng 10 năm
1103. Dudbridge tin chắc rằng chính Tưởng là người đă mang
câu chuyện này từ Hồ Nam đến Hàng Châu. Tại chùa Thiên Trúc
Thượng, một trung tâm hành hương khác của tín ngưỡng thờ
phượng Quán Âm, một thời đă có hai tảng đá ghi khắc “Hành
Trạng của Đấng Đại Từ Bi, tân tạo” (nửa phần của tấm văn bia
này đă bị hư hại, nó đă không tồn tại v́ đă bị ṃn đi theo
năm tháng). Tấm văn bia được khắc vào năm 1104, đă lập lại
câu chuyện Quán Âm là Công chúa Diệu Thiện (Dudbridge
1982:591-93). Trước đây, trong chương 6, chúng ta biết rằng
chùa Thiên Trúc Thượng đă từng là một trung tâm hành hương
Quán Âm khá quan trọng trong thế kỷ thứ 10, hơn cả một thế
kỷ trước khi Tưởng đặt chân đến Hàng Châu. Lúc ấy câu chuyện
về Công chúa Diệu Thiện có thể đă chưa được biết đến tại
Hàng Châu, thế nhưng một khi lan truyền đến đây, lập tức nó
được gắn liền với chùa Thiên Trúc. Trong Hương Sơn Bảo Quyển
ấn bản sau cùng, câu chuyện phổ thông này đă được chi tiết
hoá một cách tỉ mỉ và cho là do sư Phổ Minh, một nhà sư của
chùa này tiết lộ. Câu chuyện về Công chúa Diệu Thiện đă bám
rễ một cách vững chắc tại chùa Thiên Trúc Thượng, có thể là
v́ Bồ Tát Quán Âm đă được thờ phượng ở đây dưới dạng nữ
thân. Trung tâm Hương Sơn sau này đă không c̣n thịnh hành
khi Khai Phong bị người Kim xâm chiếm và kể từ năm 1138,
Hàng Châu trở thành thủ phủ của nhà Nam Tống. Chùa Thiên
Trúc Thượng tại Hàng Châu dĩ nhiên trở thành một trung tâm
hành hương có tầm vóc quy mô cả nước cho những tín đồ thờ
phượng Quán Âm măi đến khi Phổ Đà Sơn xuất hiện nổi bật lên
trong những thế kỷ sau như một trung tâm chiêm bái có khả
năng cạnh tranh.
Măc dầu câu chuyện truyền kỳ về Công chúa Diệu Thiện đă được
biết đến kể từ thời Tống, nhưng sau này dưới thời Minh và
Thanh đă được thêm thắt chi tiết và khai triển trong nhiều
thể loại khác nhau. Trong thời Minh, tác phẩm Nam Hải
Quán Âm Toàn Truyện, vở bi kịch truyền kỳ Hương
Sơn Chí được sử dụng như là những chất liệu cơ bản cho
chương tŕnh đại nhạc kịch ḥa tấu Bắc Kinh, Đại Hương
Sơn, cũng như bộ kinh văn mang màu sắc tông phái thời
Thanh, Quán Âm Tế Độ Bổn Nguyện Chân Kinh. Tất cả
những công tŕnh này, tựu trung đều được dựa trên Hương Sơn
Bảo Quyển mà bản văn sớm nhất hiện vẫn c̣n tồn tại là bản
thuộc đời Càn Long với lời đề tựa có niên đại 1773. Quyển
này c̣n có một lời đề tựa khác, được ghi niên đại vào năm
1103 do nhà sư Phổ Minh của chùa Thiên Trúc Thượng viết;
nhưng mặt khác người ta đă không xác định được nhân vật này
là ai (1). Cho dù ngay cả
lời giới thiệu này là giả mạo, cuốn Bảo Quyển rơ ràng là
được soạn dưới thời Minh, bởi v́ nhan đề của cuốn sách này
đă được đề cập đến trong thập niên 1550.
Nỗi say mê lớn lao nhất mà người Trung Hoa, đặc biệt là phụ
nữ, hướng về câu chuyện này tự nó cũng đă là niềm thích thú
cho những người nghiên cứu về tôn giáo Trung quốc. Như ta đă
từng biết đến trong chương 4, việc ghi chép, kể đi kể lại
những câu chuyện về những điều linh ứng của Bồ Tát Quán Âm
là một trong những đặc tính cố hữu của tín đồ sùng bái Quán
Âm. Câu chuyện Công chúa Diệu Thiện dĩ nhiên là một câu
chuyện về phép mầu linh ứng, tuy nhiên có hai điểm khác biệt
quan trọng. Không giống với những câu chuyện khác khi Bồ Tát
chỉ xuất hiện một cách ngắn ngũi như trong những ảo giác hay
giấc mộng, ở đây Bồ Tát đă hiện thân thành một người phụ nữ
với đời sống thật. Một điểm khác biệt khác là trái ngược với
hầu hết những câu chuyện về những điều linh ứng mà ta đă
từng biết qua trước đây thường bằng cách này hay cách khác
xác tín những quyền năng cứu độ của Bồ Tát như đă được hứa
khả trong kinh điển (nhất là Pháp Hoa); câu chuyện Công chúa
Diệu Thiện đă cung cấp cho ta một “tiểu sử” về Thiên Thủ
Thiên Nhăn Quán Âm. Điểm nổi bật của câu chuyện này là sự
hóa thân từ một thiếu nữ không tay không mắt trở thành một
Bồ Tát Ngàn Mắt Ngàn Tay. Như đă đọc qua trong chương trước,
h́nh tướng mật tông này của Bồ Tát Quán Âm, được biết dưới
tên gọi Đại Bi, đă rất phổ biến dưới thời Đường và càng trở
nên thịnh hành hơn dưới thời Tống, càng được quảng bá rộng
răi hơn bởi những h́nh tượng và nghi lễ mới. Sự ra đời của
truyền thuyết về Công chúa Diệu Thiện trong giai đoạn này là
một chỉ dấu khác về tính cách đại chúng của tín ngưỡng Đại
Bi.
Trong chương này tôi sẽ khảo sát và so sánh bản sớm nhất của
câu chuyện đă được bảo tồn trên bia đá mà bản văn sau cùng
được ghi lại trong Hương Sơn Bảo Quyển với một số văn bản
khác đă đặt căn cứ vào đây. Trong khi thảo luận về diễn tiến
của truyền thuyết này, một số câu hỏi khá thích thú mà tôi
muốn nêu ra: Tại sao Bồ Tát đă biến thành một phụ nữ? Tại
sao công chúa đă mang tên là Diệu Thiện? Tại sao Diệu Thiện
đă chọn phương cách dâng tặng các bộ phận của thân thể ḿnh
để cứu vớt phụ thân? Cung cách này đă từng xuất hiện trước
đây trong truyền thống Phật giáo và Trung Hoa? H́nh ảnh Diệu
Thiện có mang dáng dấp nào tương tự như những vị nữ thánh
của Lăo giáo? Nếu có, th́ như thế nào? Và cuối cùng, câu
chuyện này đă có những ư nghĩa nào đối với người phụ nữ
Trung Hoa? Có phải Diệu Thiện đă được dùng như một nguồn xúc
tác tạo thêm năng lực cho họ?
Bản Văn Sớm
Nhất của Câu Chuyện Được Khắc Trên Bia Đá
Glen Dudbridge (1978) đă truy t́m nguồn gốc và diễn tiến của
truyền thuyết Công chúa Diệu Thiện một cách khá tỉ mỉ. Nguồn
văn bản sớm nhất có được là tấm văn bia mà Tưởng Chi Kỳ đă
ghi chép lại theo căn cứ trên bản văn mà sư Hoài Châu, trú
tŕ chùa Hương Sơn, đă trao cho ông. Sự truyền lưu văn bản
này cũng khá phức tạp. Vị sư trú tŕ xác nhận rằng một vị du
tăng hành hương từ núi Chung Nam, ở
Shensi ngoại thành Tràng An đă mang đến cho ông khi
viếng thăm chùa Hương Sơn. Tuy nhiên nhà sư vô danh này th́
lại xác nhận rằng tác giả nguyên thủy của văn bản này chính
là một trong những vị tổ nổi tiếng của phái Luật Tông, Đạo
Tuyên (596-667) cũng ở núi Chung Nam, là người được nghe câu
truyện này do các vị thần tiên kể lại. Tưởng Chi Kỳ đă không
hài ḷng về văn chương thô kệch của bản văn nên đă đồng ư
viết lại câu chuyện theo đề nghị của sư Hoài Châu vào tháng
Năm 1100. Cuối năm đó, bản văn đă được vị Tể tướng đương
triều và nhà thư pháp Thái Kinh sao chép lại và cho khắc vào
bia đá. Như đă được đề cập đến trước đây, Khi Tưởng được đổi
đến trấn nhậm Hàng Châu, ông đă mang theo câu chuyện này và
rồi bốn năm sau đó một tấm văn bia với cùng nội dung tương
tự đă được dựng lên tại chùa Thiên Trúc Thượng. Mặc dù đây
là một câu chuyện truyền kỳ có nguồn gốc cũ xưa và hoang
đường, sự phổ biến của nó trong đầu thế kỷ thứ 12, như
Dudbridge đă lư luận một cách thuyết phục, đă góp phần làm
gia tăng danh tiếng của chùa Hương Sơn như là một trung tâm
hành hương quan trọng ở trong vùng. Việc chọn lựa Đạo Tuyên
như là nguồn phát xuất của câu chuyện không phải là không có
ư nghĩa. Như đă đề cập đến trong chương 3 và chương 4, Đạo
Tuyên là người tin tưởng nhiệt thành và quảng bá những câu
chuyện linh ứng. Không những ông đă tiếp tay phổ biến câu
chuyện về Tôn Kính Đức, nhân vật được nói đến trong cuốn
kinh bản địa, Cao Vương Quán Âm Kinh, ông c̣n là
người kết tập một bộ sưu tập các câu chuyện về phép lạ,
“Truyện Tích Về Những Linh Ứng Bởi Tam Bảo Tại Trung Quốc.”
Tuy nhiên có một chi tiết quan hệ đến chủ đề này, đó là cũng
chính sư là tác giả cuốn “Truyện Ghi Những Cộng Hưởng Tâm
Linh của Đại Sư Luật Tông Đạo Tuyên”, trong đó sư đă hỏi
những vị tiên một số các câu hỏi liên quan đến nguồn gốc của
những khuôn mặt thần thoại, các thánh tích, thánh địa tại
Trung Quốc. Câu truyện về Công chúa Diệu Thiện được coi như
là do một vị tiên kể lại cho Đạo Tuyên theo cùng một cung
cách như tác phẩm sau này của ông. Không cần biết tác giả
thực sự của câu chuyện này là ai, có phải là sư
I-ch’ang một môn đồ của Đạo
Tuyên như bản văn bia đă xác nhận, hay đó là sư Hoài Châu,
nhân vật này tất phải là người rất quen thuộc với tác phẩm
này thế nên đó là lư do tại sao y đă gán xuất xứ câu chuyện
Diệu Thiện cho Đạo Tuyên.
Hứng khởi trước công tŕnh nghiên cứu của Dudbridge, Lại
Thụy Ḥa (1980) đă bắt đầu thực hiện cuộc điều tra để t́m
hiểu về số phận của những tấm văn bia này. Đầu tiên ông đă
truy t́m ra ba mảnh khung trang trí của tấm văn bia Hàng
Châu hiện c̣n được bảo lưu trong những bộ sưu tập đương đại
và cho biết chúng chỉ bao gồm một nửa phần sau của câu
chuyện. Đồng thời ông cũng chứng minh rằng Quán Thế Âm Bồ
Tát Truyện Lược do Kuan
Tao-sheng (1262-1319), phu nhân của nhà danh hoạ và
thư pháp nổi tiếng Triệu Mạnh Phủ. (1254-1322) viết vào năm
1306, hiện c̣n tồn tại trong những bộ sưu tập về văn bia, đă
được viết theo nội dung của tấm văn bia này. Tuy nhiên v́
trong cuốn địa phương chí, Bảo Phong Huyền Chí đă
không ghi chép lại nội dung của tấm văn bia Hương Sơn, cũng
như ba mảnh khung trang trí của tấm văn bia Thiên Trúc
Thượng chỉ ghi lại một nửa phần, số phận của tấm bia nguyên
thủy và toàn bộ nội dung câu chuyện từ lâu đă là một điều
bí ẩn. Dudbridge (1982) đă nêu giả thiết rằng mảnh trang trí
của văn bia Hàng Châu là thuộc về tấm thứ hai trong hai tấm
bia nguyên thủy c̣n tấm thứ nhất th́ có thể là đă bị hủy
hoại hay thất lạc. Ông cũng không biết rơ là tấm bia Hương
Sơn này có c̣n tồn tại hay không.
Điều bí ẩn nói trên cuối cùng đă được giải đáp. Năm 1993,
Lại Thụy Ḥa đă đến thăm viếng chùa Hương Sơn và nh́n thấy
tấm văn bia 1308 được dựng lại với câu khắc nguyên thủy do
Tưởng Chi Kỳ soạn. Tấm văn bia này rất lớn (2.22m chiều cao
và 1.46m bề ngang) v́ nội dung khá dài, trên 3,000 chữ. Một
phần phía trên đă bị hư hại trong cuộc Cách Mạng Văn Hoá và
đă được sửa chữa lại sau này mà kết quả là đă bị mất đi
khoảng mười chữ mỗi hàng. Nữa phần dưới của tấm bia có nội
dung tương ứng với tấm bia của chùa Thiên Trúc Thượng đă
được bảo quản. Lai đă giải thích lư do tại sao nửa phần trên
của tấm văn bia đă không được lưu truyền. Bởi v́ theo ông,
tấm bia khá rộng, gần gấp đôi một tấm bia b́nh thường, thế
nên nó cần hai mảnh giấy riêng biệt để làm khung trang trí.
Điều có thể xảy ra là khung trang trí nửa phần đầu của tấm
bia đă bị thất lạc hay đánh mất từ rất sớm và bởi thế các
nhà học giả đă không biết đến cho tới bây giờ (Lai 1993).
Dudbride (1982) đă dịch sang tiếng Anh nửa phần sau của tấm
bia rất sớm và đồng thời so sánh nội dung câu chuyện với hai
nguồn tài liệu khác sau này. Đầu tiên là Long Hưng Phật
Giáo Biên Niên Tổng Luận một biên niên sử của Phật giáo
Trung quốc kể từ năm 64 cho đến năm 957 do Tổ Tú, một vị sư
tại Long Hưng Phủ (bây giờ là Nan
ch’ang) soạn vào năm 1164; và thứ hai là cuốn Kim
Cương Khoá Nghi, một cuốn chú giải của người bản xứ về
Kinh Kim Cang do Giác Liên kết tập với lời đề tựa được ghi
vào năm 1551. Với sự khám phá toàn bộ tấm văn bia Hương Sơn,
nay ta có thể nói với ít nhiều tin tưởng rằng cả hai tác giả
Tổ Tú và Giác Liên đều có những hiểu biết về bản văn khắc
của Tưởng Chi Kỳ, bởi v́ họ đă sử dụng nguyên văn một số câu
lấy ra từ tấm văn bia này trong tác phẩm của ḿnh, có phần
nào ngắn và ít chi tiết hơn. Như vậy ta có thể tin chắc rằng
bản văn của Tưởng Chi Kỳ soạn năm 1100 là bản văn chính gốc
của tất cả những bản văn được mô phỏng theo sau này.
Ư nghĩa của câu chuyện truyền kỳ được kể lại trong bản văn
khắc của Tưởng Chi Kỳ không thể không được lưu ư. Bằng cách
xác định vị Bồ Tát Quán Âm thần thoại trong Phật giáo như là
Công chúa Diệu Thiện, một người phụ nữ có đời sống thật và
qua đời tại Hồ Nam, nó đă chuyển hoá một vị bồ tát thần
thoại, vốn dĩ không hề bị giới hạn trong một không gian cụ
thể nào. Cùng một lúc, nó cũng đă chuyển hoá Hương Sơn, một
nơi chốn có thực tại miền trung Trung quốc trở thành một
thánh địa. Một khi mà câu chuyện đă được phổ biến ra, như
Dudbridge cho thấy, kể từ thời Minh trở đi nó ngày càng phổ
cập rộng răi hơn trong đại chúng dân gian qua các kịch bản,
tác phẩm mà quan trọng hơn cả là cuốn Hương Sơn Bảo Quyển.
Cuối cùng, người Trung Hoa không phân biệt giai tầng xă hội,
phái tính, phần lớn thông qua câu chuyện này đă biết đến
Quán Âm như là một cô gái hiếu thảo với đầy quyết tâm đă
khước từ đời sống hôn nhân gia đ́nh.
|
Trích
Chương VIII
Công Chúa Diệu Thiện
và Tiến Tŕnh Nữ Hoá Bồ Tát Quán
Âm. |
|
|
|