|
Đầu Xuân Kể Chuyện Phật Bà Chùa Hương
MINH NGỌC
Chùa Hương – là một trong những danh thắng nổi tiếng của Việt Nam, được
người xưa ca tụng là “Nam thiên đệ nhất động”, gắn liền với truyền
thuyết Bà Chúa Ba tu hành và đắc đạo ở đây.
“Xem
trong bể nước Nam ta
Phổ môn có Đức Phật Bà Quan Âm.”
Truyện Phật Bà Chùa Hương hay truyện Bà Chúa Ba ra đời vào thế kỷ 18, là
truyện Nôm khuyết danh, viết bằng thể thơ lục bát cổ truyền của dân tộc.
Về sau, các vở chèo, tuồng, cải lương… đều dựa và cốt truyện này. Nội
dung như sau:
Đời xưa, vua Diệu Trang Vương, nước Hưng Lâm, không có con trai. Vua và
hoàng hậu cầu tự ở đền Tây Nhạc. Vua Diệu Trang Vương vốn không phải là
vị vua hiền, nhưng do một ḷng chí thành cầu tự nên ḷng thành thấu đến
Phật trời. Vua sinh được ba công chúa là Diệu Thanh, Diệu Am, và Diệu
Thiện. Duy chỉ có Diệu Thiện là người mộ đạo Phật, xem nhẹ gác tía lầu
hồng, chẳng mong quyền quư, “ăn chay, niệm Phật, nói lời từ bi”.
Vua Diệu Trang gả công chúa Diệu Thanh cho Trạng nguyên họ Triệu, gả
công chúa Diệu Am cho quan vơ họ Hà. V́ hai pḥ mă chẳng phải người hiền,
không thể nối ngôi nên vua Diệu Trang muốn kén rể cho công chúa thứ Ba
bằng được.
Công chúa Diệu Thiện một mực từ chối, chỉ một ḷng xuất gia hướng Phật,
chẳng thiết đến chuyện dựng vợ gả chồng. Nhưng nếu phải v́ chữ hiếu,
phải vâng lệnh cha th́ nàng sẽ lấy một thầy thuốc để cứu nhân độ thế.
Vua cha tức giận, bắt nhốt ở vườn sau, nhưng Bà Chúa Ba vẫn không nản
ḷng, đêm ngày hướng Phật.
Vua nghe tỳ nữ bày kế đưa Chúa Ba ra chùa Bạch Tước, các sư bày rất
nhiều việc cho bà, mong làm bà nản ḷng. Nhưng Bà Chúa Ba vẫn vui vẻ
chấp nhận, v́ cho rằng “hữu thân hữu khổ”.
Vua tức giận sai đốt chùa, Bà Chúa Ba khấn nguyện chí thành, cắt tay vẩy
máu lên không trung. Ḷng thành động đến Thiên Đ́nh, máu biến thành mưa
dập tắt lửa. Vua đem công chúa Diệu Thiện ra pháp trường th́ Ngọc Hoàng
sai thần linh hóa mănh hổ đưa về rừng. Hồn Bà Chúa Ba được sứ giả của
Diêm Vương mời xuống âm ty, thăm 18 cửa ngục.
Thấy chúng sinh đau đớn, khổ sở trong các ngục, bà xót xa, cảm thương
liền chuyển chú, niệm kinh. Các tội nhân nhờ đó mà được “đại xá siêu
sinh từ rày”. Sau khi về cơi dương trần, Bà được Đức Thế Thế Tôn thử
thách, cho quả đào tiên rồi chỉ cho về núi Hương Tích, gần bể Nam Việt
tu hành. Sau 9 năm tu hành ở Hương Tích, Bà đắc thành Chính quả.
Vua Diệu Trang đốt chùa, giết hại Tăng ni, nên bị Ngọc Hoàng giáng bệnh
nặng, “thân h́nh chốc lở, chiếu giường tanh hôi”. Phật Bà dùng huệ nhăn,
biết cha lâm bệnh nặng, hiện h́nh thành Ḥa thượng vào cung chữa bệnh.
Lăo tăng bảo phải có tay, mắt của Tiên nhân tu ở núi Hương Tích làm
thuốc th́ bệnh mới khỏi.
Đức Phật Bà cũng phá tan mưu sâu kế độc của hai pḥ mă. Vua sai Triệu
Chấn, Lưu Khâm dến núi Hương Tích lấy tay, mắt của Tiên nhân về làm
thuốc. Hoàng hậu nhận ra đó chính là của công chúa Diệu Thiện nên rất
đau ḷng. Vua khỏi bệnh, nhường ngôi cho lăo tăng nhưng ngài từ chối,
khuyên vua “ở ḷng nhân đức, cho hay lấy ḿnh”.
Vua và hoàng hậu lên núi Hương Tích để cảm tạ Tiên nhân, th́ nhận ra đó
là công chúa Diệu Thiện. Vua biết chuyện nên rất đau xót và hối hận.
Công chúa Diệu Thiện bảo vua cha dốc ḷng tu đức, sám hối th́ nàng sẽ
trở lại như xưa. Vua Diệu Trang thương con, hối hận một ḷng sám hối,
th́ lạ thay, “hai tay, hai mắt vẹn người”. Bà Chúa Ba được trở lại như
xưa.
Vua, hoàng hậu, hai công chúa Diệu Thanh, Diệu Am dốc ḍng quy y Phật.
Chẳng bao lâu, vua cha, hoàng hậu, hai chị đều thành chính quả, “cả nhà
vinh hiển thơm tho”. Vua Diệu Trang được sắc phong là Thiện Thắng Bồ Tát,
hoàng hậu là Khuyến Thiện Bồ Tát, công chúa Diệu Thanh là đại thiện Văn
Thù Bồ Tát, cưỡi con sư tử xanh, công chúa Diệu Am là đại thiện Phổ Hiền
Bồ Tát, cưỡi con voi trắng, vĩnh viễn làm chủ đạo tràng núi Thanh Lương.
Triết lư nhà Phật qua tích “ Phật Bà chùa Hương”
“Phật Bà chùa Hương” là truyện Nôm khuyết danh, viết bằng thể thơ lục
bát cổ truyền của dân tộc, ca ngợi công đức của Bà Chúa Ba vượt qua mọi
sự ngăn cấm của vua cha, một ḷng tu hành và chứng quả Bồ Đề. Có thể
thấy, văn phong của tác phẩm rất b́nh dân, mộc mạc dễ đi vào ḷng người,
“Nôm na xin diễn tích Ngài, cho người ít chữ nhớ lời kính tin”. Truyện
tích này c̣n là một tác phẩm có giá trị về tư tưởng, triết lư của nhà
Phật, cách hiểu về Phật giáo theo quan điểm của người dân lao động.
Trước hết là về chữ “Nhân”, chữ “Hiếu” mà người xưa đúc kết được theo
cái nh́n của nhà Phật:
“Chân
như đạo Phật rất mầu
Tâm trung chữ Hiếu, niệm đầu chữ Nhân.
Hiếu là độ được đấng thân
Nhân là vớt hết trầm luân mọi loài”.
Rơ ràng người xưa đă hiểu về chữ “Nhân”, chữ “Hiếu” theo quan điểm Phật
giáo một cách giản dị, đúng đắn. Chữ Hiếu, chữ Nhân ở đây thấm nhuần
tinh thần từ bi quảng đại, nhân đạo của Phật giáo, giải thoát cho cha mẹ,
mọi người ra khỏi mọi sự đau khổ ở cơi Ta Bà. Đúng như lời Phật dạy :
“Cũng như nước biển chỉ có vị mặn, đạo của ta cũng chỉ có một vị là vị
giải thóat”.
Rơ ràng triết lư nhiệm màu này của nhà Phật đă thấm nhuần vào tư tưởng
của tầng lớp b́nh dân trong xă hội.
“Giữ
chi Hiếu nhỏ tầm thường,
Giữ điều Hiếu lớn mới đường báo ân”.
“Trên
th́ Hiếu báo người thân
Dưới th́ Nhân cứu cơi trần, cơi ma”.
Biết cha phạm tội ác, đốt chùa, giết hại Tăng ni…,nghiệp chướng nặng nề,
mắc bệnh nặng, Đức Phật Bà dù đă thành chính quả cũng không đành làm ngơ,
hiện h́nh làm vị cao tăng chữa bệnh cứu cha, hi sinh tay, mắt làm thuốc
cho người. Nhưng Đức Phật Bà không làm phép cho cha tự khỏi bệnh ngay mà
đ̣i phải có tay, mắt của Tiên Nhân tu ở núi Hương Tích làm thuốc. Bởi v́
“người dưng ai nỡ hoài tay, t́nh thân cốt nhục nên rày hoại thân.” Chỉ
có t́nh phụ tử thiêng liêng mới làm cho vua Diệu Trang hối hận, tỉnh ngộ
ra mọi điều. Từ vị vua tàn ác, mà nay vua đă tỉnh ngộ, một ḷng sám hối
nghe theo lời vị cao Tăng- chính là hóa thân của Đức Phật Bà.
“Thấy
cha báng Đạo, đốt chùa
Phải làm thế ấy, để cho hết ngờ”.
V́ thương con, muốn cho con được trở lại như xưa mà vua Diệu Trang dốc
niềm tu đức. V́ vua cha đă tỉnh ngộ, sám hối, tu đức nên Đức Phật Bà vẹn
tay, vẹn mắt như xưa. Ôi phép Phật thật nhiệm màu, Đức Phật Bà đă làm
cho vua cha biết quay đầu hối cải, trở thành một con người khác xưa.
Phải chăng tay, mắt của Đức Phật Bà chỉ là phương tiện khéo léo giúp cha
giác ngộ, cải ác vi thiện?
Đức Phật Bà đă khéo léo trợ duyên cho vua cha, làm cho vua Diệu Trang tự
ḿnh đốt lên ngọn lửa chính pháp để tu hành, để soi đường cho bản thân
ḿnh, tự ḿnh t́m ra con đường giải thoát khỏi bến mê. Tất cả những việc
làm ấy đều xuất phát từ tấm ḷng hiếu thảo của Đức Phật Bà, vừa chữa
bệnh về thể xác, vừa chữa bệnh về tinh thần cho cha, làm cho vua cha
tỉnh ngộ.
“…Như
cha muốn con được tuyền
Th́ cha khấn nguyền, hồi quá từ nay
Đức vua mừng vội khấn liền
Phật Bà lại hóa tự nhiên tức thời
Hai tay, hai mắt vẹn người
Hai thân, hai chị đều vui vẻ ḷng…”
Qua tác phẩm, chúng ta c̣n nhận thấy quan điểm của người xưa về việc tu
hành. Không phải chỉ niệm kinh lễ Phật, không phải chỉ khoác áo nâu ṣng
là tu, mà phải xuất phát từ tâm, tu ngay tại trong tâm ḿnh, Phật tại
tâm:
“…Linh
thông ngh́n mắt ngh́n tay
Cũng trong một điểm linh đài hóa ra”.
Đi tu không những giải thoát cho ḿnh mà c̣n cứu giúp tất cả chúng sinh
mọi loài ra khỏi bến mê trong cơi Ta Bà này.
“…Trên
th́ báo Đức sinh nên
Mai sau Ngài ở ṭa sen đời đời.
Giữa th́ tế độ cho người
Dưới những quỷ loài , cứu lấy nơi nơi…”
“…
Trên th́ Hiếu báo người thân
Dưới th́ Nhân cứu cơi trần, cơi ma”….
Thật vậy, khi xuống địa phủ thăm 18 cửa ngục, thấy những chúng sinh do
tạo những nghiệp chướng nặng nề mà bị hành phạt rất thương tâm, Đức Phật
Bà thương cảm, xót xa cho họ mà “khấn cầu, chuyển chú, niệm kinh” và nhờ
vậy mà các tội nhân được giải thoát, được siêu sinh tịnh độ.
“…Gông
cùm rơi rụng tan tành
Bao nhieu tù rạc, nhẹ ḿnh chuyển ra…”
Rơ ràng những chi tiết mô tả các cửa ngục là bức tranh sinh động để cho
mọi người thấy rơ quy luật nhân quả, gieo gió gặt băo của nhà Phật. Ai
gây tội, người ấy phải chịu sự quả báo, không ai có thể chịu thay cho ai
được. Bức tranh địa ngục này để khuyên nhủ mọi người lánh dữ làm lành,
tu nhân tích đức để giải thoát cho ḿnh và mọi người, mọi loài.
Vua Diệu Trang phạm trọng tội đốt chùa, giết hại tăng ni, nhưng sau hối
cải, sám hối tội chướng của ḿnh gây ra, dốc ḷng tu hành cũng đắc thành
chính quả càng khẳng định triết lư của nhà Phật “Ta là Phật đă thành,
chúng sinh là Phật sẽ thành”.
Trong chúng ta, ai cũng có Phật tính, nếu biết “quay đầu là bờ”, giữ
ḷng thanh tịnh, một ḷng hướng Phật th́ đều có thể đắc thành chính quả.
Truyện cũng chỉ ra cho mọi người thấy rơ sự vô thường, giả tạm của cuộc
sống. Kiếp người giả tạm, không nên tham chấp làm ǵ. Chúng ta trừ tam
độc tham, sân, si, giữ ḷng trong sạch, niệm kinh giữ giới, làm điều
thiện để có được nhân lành. Ay là triết lư đầy tính nhân văn của nhà
Phật mà người xưa đă đúc kết và truyền lại cho hậu thế qua tích truyện :
“Phật Bà Chùa Hương”
“…Thưa
rằng : “Sắc vẫn là không
Thử suy giấc mộng, ngắm trong đời người.
Đua danh, đua lợi tơi bời
Như đem tṛ rối, làm chơi là thường.
Dù ba mươi sáu tàn vàng
Tuổi ngoài ba vạn sáu ngàn ngày thôi…”
“…Nghĩ ra nên cũng buồn rầu
Sao bằng mượn cảnh mà Tu lấy ḿnh.
May ra siêu thoát tử sinh
Yên thân nước Phật ,vui h́nh cơi Tiên…”
MINH NGỌC |