|
SỰ HỦY DIỆT
CỦA MỘT TRÀO LƯU TƯ TƯỞNG
Tuệ Sỹ
Xin
chào giữa bước chân ra
Chết từ sơ ngộ màu hoa trên ngàn
(B.G.)
Từ trong
ḷng Tánh Không luận đi ra, người ta thử thay đổi các b́nh diện biểu lộ của nó,
rồi qua những ǵ sẽ đạt được, trong lănh vực suy lư cũng như trong lănh vực sinh
hoạt thực tế, luôn luôn có những tiếng nói nghe ra như những cơn gió ŕ rào giữa
các sa mạc của hư vô: ư nghĩa của một cứu cánh nào đó - cũng suy lư hay của đời
sống - như một ngôi sao trên bầu trời của sa mạc. Danh tướng, phân biệt, nghĩa
và vô nghĩa, nguyên tắc và các nguyên tắc: những dấu hiệu c̣n sót lại, và c̣n
măi, sau những cơn gió nóng bức và lạnh buốt của hư vô đă từng đi qua và đă từng
hủy diệt tất cả. Đó là sự hủy diệt của một trào lưu tư tưởng, từ trong ḷng Tánh
Không luận đi ra.
(I)
Từ khi người
Âu châu khởi sự nghiên cứu Phật học, với những phương pháp có tính cách khoa học
và xác thực, cho đến đầu thế kỷ XX này, qua một trăm năm, họ tỏ vẻ ngẩn ngơ và
thất vọng trước một đối tượng khảo cứu mà triết lư chẳng ra triết lư, tôn giáo
cũng chẳng phải tôn giáo. Dù họ có bộc lộ tất cả cảm t́nh của ḿnh, như
Stcherbatsky, hay cố giữ cái phong thái khách quan nghiêm chỉnh của một học giả,
kết luận của họ thật là thống thiết. Louis de la Vallée-Poussin, người Pháp, với
cái phong thái học giả nghiêm chỉnh, trước những lư luận kỳ quặc của Mādhyamika,
bất chấp vi phạm luật mâu thuẫn hay luật Triệt tam, năm 1917, trong tác phẩm The
Way to Nirvana, ông nói: «Chúng ta thất vọng»[1]. Đến năm 1927, Stcherbatsky,
người Nga, khi trả lời cho Poussin về ư nghĩa Nirvana của Phật giáo, với quan
điểm của phái Mādhyamika, ông cũng đă mở đầu cho tác phẩm của ḿnh bằng những
lời[2]: «Dù một trăm năm đă trôi qua, và từ khi sự khảo cứu có tính cách khoa
học về Phật học đă được khởi sự ở Âu châu, chúng ta vẫn c̣n mù mịt về những giáo
thuyết căn bản của tôn giáo này và nền triết lư của nó.»
Cho đến năm
1955, T.R. Murti xuất hiện với tác phẩm có kích thước: The Central Philosophy of
Buddhism, một tác phẩm khảo cứu về hệ thống Mādhyamika, thế giới h́nh như đă
sáng tỏ hơn. T́nh trạng sáng tỏ này đă được D. Friedman bộc lộ trong bài tựa cho
Early Buddhist Theory Knowledge của Jayatilleke, năm 1963.
Dù vậy, măi
đến năm 1967, Richard Robinson, với tác phẩm Early Mādhyamika in India anh
China, c̣n phải mở đầu bằng những lời mà ông gọi là thông lệ, một thông lệ không
thể bỏ đối với những khảo cứu về Mādhyamika: «Dù với những nổ lực quan trọng của
các người trước, chúng ta vẫn thực sự chưa thấu hiểu nỗi trường phái này»[3]
Lược qua
những thái độ của các học giả Phật giáo Âu châu đối với Mādhyamika như thế,
trước những tiền đề luận lư rất kỳ quặc của trường phái này, một cách trực tiếp
hay gián tiếp, tất cả những người khảo cứu về Mādhyamika đều có một tiền đề luận
lư, cũng kỳ quặc, do chính ḿnh bị bắt buộc phải dựng lên: «Nāgārjuna đă nỗ lực
binh vực cho một thứ chân lư nào bằng Tánh Không luận (Sūnyavāda) của ông»? Thực
sự, một câu hỏi như vậy rất hợp lư về mọi mặt, hợp lư từ động lực thúc đẩy công
tŕnh khảo cứu, cho đến vận dụng các trích dẫn vào các nguyên tắc lập luận để đi
đến một kết luận, một giải pháp thỏa măn. Nhưng cái câu hỏi ấy lại trở thành kỳ
quặc ở chỗ, khi người ta hội đủ mọi phương tiện để tiến gần tới một giải đáp
thỏa đáng, th́ cũng chính tất cả những phương tiện vận dụng ấy xoay ngược câu
hỏi sang một chiều hướng khác; bấy giờ người ta thấy là chưa xác định nổi vị trí
của câu hỏi được nêu lên từ lúc đầu làm chỉ đạo cho công tŕnh khảo cứu của ḿnh.
Đă không xác định được nổi vị trí và chiều hướng của câu hỏi th́ khó mà xác định
được cái giải đáp sắp có của ḿnh nên đặt trong vị trí và chiều hướng nào, để có
thể gọi là thích đáng và thỏa măn. Một tác phẩm như vậy, khi vừa khởi sự, nó
khởi sự trên một con đường rất thong dong, nhưng cuối cùng phải khép kín lại
trên chính nó, trong cái bóng tối mù mịt của một thứ Tánh Không luận nào đó. Thí
dụ, người ta muốn giải quyết những mâu thuẫn và bất lực được chứa đựng trong các
tiền đề triết học bằng cách dựa vào đặc tính phản kích của xác thịt[4]. Với một
ư định như vậy, người ta thấy là có thể khởi sự bằng một viễn tượng của đồng
nhất tính, mà vẫn có thể chấm dứt bằng cứu cánh của một mâu thuẫn, trên một con
đường rất thong dong. Tuy nhiên, một công tŕnh như vậy cũng chỉ có nghĩa là mở
ra và khép lại trên chính nó. Nếu nói đến khả tính bao dung, th́ sự bao dung ấy
chỉ là sở đắc riêng của nó đối với chính nó. Hoặc nói cho kỳ cùng, khi người ta
thấy cần phải hủy diệt một trào lưu tư tưởng nào đó, người ta bắt đầu bằng một
căn tính hủy diệt của sự hủy diệt, th́ sự thể vẫn không ngoài ư nghĩa rằng mở ra
và khép lại trên chính nó. Như một ngọn lửa hủy diệt tất cả, và khi những cái
cần hủy diệt đă bị hủy diệt, chính ngọn lửa ấy cũng tự hủy diệt, không c̣n lại
dấu vết.
Thí dụ vừa
kể thường được dùng để ám chỉ Nirvana. Nếu vậy, câu nói sau đây của Nāgārjuna
phải được lănh hội như thế nào? Ông nói: «...Pháp như Niết bàn.» Cái khởi lên tự
chính nó và biến mất do chính nó, cái ấy được gọi là tự hữu (Svabhāva). Một cái
như vậy, không có lư do tồn tại, và những luận thuyết bảo vệ cho nó cũng không
có lư do thành lập. Murti phát biểu ư kiến: «Người ta thường đ̣i hỏi một hệ
thống triết học mang lại cho chúng ta những quan điểm của nó về những hiện hữu
cứu cán... Triết lư Mādhyamika không phải là một hệ thống trong ư nghĩa này.»[5]
Ư kiến ấy là một trong những yếu tố muốn biện minh cho Mādhyamika trước một số
chủ nghĩa, như hư vô chủ nghĩa chẳng hạn. Đó có thể không phải là một lối biện
minh mới mẻ; ít nhất nó đă xảy ra từ Arya-Deva, vị tổ thứ hai của Mādhyamika ở
Ấn độ; tức là khoảng sau thế kỷ thứ II Tây lịch nó đă khởi sự. Tuy vậy, những ai
có thiện cảm với Mādhyamika đều nói đến luôn, trừ những người cố t́nh giữ một
thái độ gọi là khách quan nghiêm chỉnh.
Bởi nhiều lư
do, thái độ biện minh vừa nhắc ở trên càng ngày h́nh như càng trở thành thể tài
then chốt trong các công cuộc khảo cứu về Mādhyamika. Chúng ta cũng có thể coi
thái độ của Raymond Panikkar, bày tỏ trong tạp chí Philosophy East and West,
vol. XVI, số 3-4, 1966, như là một thái độ phổ cập hiện nay đối với học thuyết
Mādhyamika. Người ta không c̣n coi học thuyết này có một chủ đích nào đó phải
hướng đến, v́ Nāgārjuna thường nói sinh tử và Niết bàn là một, hay Pháp như Niết
bàn, cái khởi lên như biến mất, cái đến như vậy và đi như vậy - Tathāgata; cái
sự thực như vậy là như vậy - Yathābhūtam, v.v…; nghĩa là, chỉ nên coi Mādhyamika
như là một học thuyết phê b́nh, cứu cánh được t́m thấy ngay trong các phương
tiện vận dụng của ngôn ngữ và tư tưởng. Có thể nói cách khác, qua các phương
tiện mà Mādhyamika vận dụng, người ta thấy ngay sự hủy diệt của một trào lưu tư
tưởng không ở ngoài hay ở sau sự phát khởi của nó. Đây không phải là định luật
sinh thành và hủy diệt của mọi sự thể, nhưng giới hạn của các phương tiện mà
người ta vận dụng là như vậy.
Bấy giờ, nếu
muốn cân nhắc hiệu lực mà Mādhyamika có thể có, người ta phải thay đổi b́nh diện
vận dụng ngôn ngữ và sinh hoạt thực tế. Bài tựa của Paul Demiéville viết cho bản
dịch Pháp văn của J. May về tác phẩm Prasannapadā Mādhyamakavrtti của
Candrakīrti[6], nói: «Phải ở Trung hoa người ta mới thấy một thành tựu sôi nổi
của triết học về Tánh Không này». Sự thành tựu đó là Tánh Không được vận dụng
ngay trong sinh hoạt của Thiền, trong các việc «gánh nước, đốn củi». Đó là cái
mà Demiéville gọi rằng sự giải thoát được vận dụng bằng Tánh Không là sự trở về
với các sinh hoạt thực tế thường nhật. Richard H. Robinson với tác phẩm Early
Mādhyamika in India anh China cũng nỗ lực trong chiều hướng này, như những lời
ông bộc lộ trong chương (I) của tác phẩm.
Như vậy, mặc
dù chúng ta lúc nào cũng có thể nói, cứu cánh của học thuyết Mādhyamika phải cố
t́m thấy trong các phương tiện vận dụng của nó, nhưng h́nh như người ta phải
thay đổi tất cả b́nh diện mới thấy được cái chất sống động của nó, hơn là dừng
lại ở chính quê hương – nghĩa đen là nghĩa bóng – của nó. Bởi vậy, người ta thấy
Murti phải bám sát Kant và Hegel[7] mới có thể viết về Mādhyamika một cách thong
dong; nhà học giả này đă vận dụng tất cả các nguyên tắc luận lư, các phương thức
phê b́nh triết học…, những cái, ta có thể nói, rất xa lạ đối với những điều được
nói trong các tác phẩm của Nāgārjuna. Robinson cũng vậy. Dù ông không đồng ư với
phương pháp của Murti, nhưng trong tác phẩm của ông, ngoài công việc phiên dịch
và b́nh chú các tài liệu của người Trung hoa có liên hệ đến Mādhyamika, h́nh như
ông không có cách nào hơn nữa.
Chúng ta vừa
nói đến sự thay đổi b́nh diện để thấu hiểu tất cả ư nghĩa và hiệu lực của Tánh
Không, luận trong học thuyết Mādhyamika. Ở đây, chúng ta cần nêu lên, ít nhất là
một, trường hợp điển h́nh. Trước hết, các b́nh diện được thay đổi có thể từ lư
thuyết sang thực hành; sự vận chuyển của tư tưởng từ một nền văn hóa này sang
một nền văn hóa khác với các khía cạnh xă hội, ngôn ngữ và truyền thống… Trên
tất cả, b́nh diện lịch sử thường được sử dụng nhiều nhất; nó thường đến độ người
ta có cảm tưởng là đang ở ngay trong ḷng phát triển của một học thuyết; không
một chút thắc mắc nào về bản tính không lịch sử của tư tưởng, và cố nhiên là
không bao giờ thắc mắc rằng làm như vậy có phải là đă đẩy tư tưởng ấy sang một
b́nh diện khác hay không. Các nhà Phật học Trung hoa cổ đại đă thực hiện sự việc
này rất thông thường. Họ làm thế để t́m một giải thích hợp lư cho lư do xuất
hiện của Tánh Không luận trong Phật học. Tuy nhiên, họ không đặt b́nh diện lịch
sử này theo các thời đại phát triển của tư tưởng Phật học. Lịch sử th́ có diễn
tiến, nhưng không đi thẳng hay quanh co; mà diễn tiến theo luật phản phục của
kinh Dịch: như một ngọn núi lửa, cháy rồi lại cháy, cháy măi không thôi; ngọn
lửa này đuổi theo ngọn lửa khác; có diễn tiến, nhưng bất động; biến dịch và biến
động trong bất dịch và bất động. Dĩ nhiên họ phải trích dẫn những điều có nói
đến trong các kinh Phật đă được lưu truyền tại Ấn độ. Tài liệu như vậy rất phong
phú. Toàn thể lịch sử Phật giáo chính là những ngày tháng lang thang của Phật
trên đất Ấn, khéo léo vận dụng vô số phương tiện để đáp ứng cho tất cả mọi căn
cơ trước một khát vọng tuyệt đối là giải thoát và giác ngộ. Đó là lịch sử diễn
tiến trong một không gian và thời gian thu hẹp, qui tụ trên nhân cách của một vị
Phật, đức Thích Ca. Trong thế giới vô tận, lịch sử là một cuộc hành tŕnh với
nghĩa «đi như vậy và đến như vậy», từ vị Phật này tiếp nối đến vị Phật khác. Bởi
v́, «đi như vậy và đến như vậy», do đó, lịch sử có diễn tiến, có lặp lại, nhưng
bất động như hư không. Với một quan niệm về lịch sử như vậy, mọi xung đột của
các ngành học thuyết Phật giáo tại Ấn độ được hóa giải hết tại Trung hoa. Những
xung đột tại Trung hoa không phải là không có, nhưng h́nh như không đáng kể.
Trước một thứ lịch sử tư tưởng thế này, ở đây, chúng ta chỉ có thể nói một cách
vắn tắt: làm thế nào để vận dụng tất cả khả năng cùa ngôn ngữ và tư tưỏng trên
một diễn tiến hợp lư, bất chấp các nguyên tắc luận lư - thí dụ, vi phạm luật
Triệt Tam hay cấm Mâu thuẫn…- Bởi v́, ở trí tuệ thông tục, chỉ có tiệm chứ không
có đốn? Người ta có một nguồn giáo chứng có thẩm quyền tuyệt đối,
Saddharma-pundarika-sutra: «durvijneyam sariputra samdhohàsyam tathàgatànàm…»;
«không thể hiểu được sự biểu thị của các đức Như Lai». Tại sao vậy?
«…mahopayakausalyajnànanadarsanaparama-pàramità pràptàh…» Bởi v́, «Sở đắc về
đại phương tiện tri kiến ba-la-mật» của các ngài vậy. Đây không phải là cố t́nh
viện dẫn một chứng lư. Bất khả thuyết trước một t́nh trạng nan giải, nhưng v́
biết rằng trong ḍng vận chuyển của ngôn ngữ và tư tưởng, tất cả mọi sự khởi
lên, tồn tại rồi biến mất giống như quáng nắng, như một giấc mộng…[8]
Trên đây là
sơ lược một ít kiến giải và phương thức áp dụng đối với Mādhyamika, từ trước đến
nay.
Bây giờ
chúng ta trở lại cái ư tưởng ban đầu, với hai câu hỏi then chốt:
1) Tánh
Không luận là ǵ?
2)
Nāgārjuna đă nỗ lực bảo vệ một chân lư nào bằng Tánh Không luận?
Bởi v́ câu
hỏi thứ nhất thường bắt buộc người ta phải trả lời bằng các công thức của định
nghĩa - làm như vậy là tự giới hạn tri kiến vào một khuôn khổ cố định hẹp ḥi -
và bởi v́ người ta cảm thấy rằng chỉ có thể đạt đến một cứu cánh nào đó của
Mādhyamika bằng chính các phương tiện vận dụng của nó, cho nên mọi nỗ lực đều
được qui tụ vào câu hỏi thứ hai. Trong sự nỗ lực này, tính cách phản danh và mâu
thuẫn nội tại của ngôn ngữ và tư tưởng thường được vận dụng tích cực nhất. Sau
đó, h́nh như người ta sẽ tiến đến nơi mà Nāgārjuna gọi là nơi chấm dứt tất cả
diễn tiến của ngôn ngữ và tư tưởng: «Ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt…[9]:
Pháp như Niết bàn». (Luận Đại trí độ). Đây là lư tưởng chung của tất cả các nhà
Đại thừa, không riêng ǵ Nāgārjuna. Nhưng, từ Nāgārjuna về sau, người ta có cảm
tưởng là tất cả các nhà Đại thừa Duy thức cố t́nh thiết lập một nền tảng luận lư
thật vững chăi; luận lư hiểu theo nghĩa nào cũng được, v́ nó không phải là trọng
tâm ở đây. Nói cách khác, những ǵ được đưa đến tay họ, chúng liền được phối trí
thành một trật tự vô cùng mạch lạc. Nếu chúng ta không ngại là phát biểu ư kiến
một cách bừa băi, th́ ở đây chúng ta có thể nói như vầy: Sinh tử hay Niết bàn,
luân hồi hay nghiệp báo, đối với các nhà Đại thừa Duy thức đều là những hệ luận
hợp lư của luận lư. Ư kiến này được coi như là phát biểu bừa băi; bởi v́ lấy
trường hợp của Huyền Trang mà nói, mặc dù ông chịu ảnh hưởng của Duy thức rất
đậm đà nhưng, theo như khám phá của Nakamura[10], khả năng và luận lư học của
ông không được vững chắc. Tuy nhiên, chúng ta có những lư do riêng. Thứ nhất,
cái mà Asanga gọi là «sở tri tướng» tức Tàng thức (alaya-vijnàna), là cái kho
của những hạt giống (b́ja, chủng tử) sinh thành và hủy diệt của thế giới, th́
trong cái kho đó, những hạt giống này được gieo mầm và nảy nở theo luật tắc nhân
quả rất chặt chẽ. Đó là căn nguyên nhân quả của tất cả nhân quả, nghĩa là căn
nguyên của mọi thứ luận lư học. Vả lại, ở Ấn độ, thay v́ gọi là luận lư học,
người ta gọi là «Nhân minh học» (hetu-vidya), và điều này lại càng chứng tỏ tầm
quan trọng của căn nguyên nhân quả, như là căn nguyên của mọi suy luận hợp lư.
Thứ hai, phải đợi đến khi đọc được quả quyết của Dharmakīrti mới thấy rơ: «Mọi
hành vi có hiệu quả của con người được hướng dẫn bởi sự hiểu biết chân
chính.»[11] Hiểu biết chân chính ấy là ǵ? Ông nói: «Có hai, trực tiếp và gián
tiếp,»[12] tức là sự hiểu biết đạt được bằng tri giác và bằng suy luận. Nói theo
thuật ngữ Hán là hiện lượng (pratyaksa) và tỉ lượng (anumàna). Từ khi Digna rút
ra đưọc từ trong kho tàng Duy thức học cái căn nguyên vững chăi cho mọi suy luận
hợp lư th́ các nhà Đại thừa Ấn độ kể từ đó - kể từ thế kỷ VI .TC. trở đi, h́nh
như chỉ c̣n một đường hướng khảo cứu duy nhất là dồn tất cả nỗ lực vào luận lư
học.
(II)
Tiến đến một
cứu cánh mệnh danh là «Ngôn ngữ đạo đoạn tâm hành xứ diệt, Pháp như Niết bàn»,
có hai sự thật của tâm thức. Chúng ta đối trị tất cả sự thật thông tục bằng
phương pháp phân tích. Hiệu lực của phương pháp này rất yếu; bởi v́ trong sự
phân tích, chúng ta chỉ có thể đi đến một trong hai kết luận: hoặc quyết định
hữu (Sadhùta), hoặc quyết định vô (Asadbhùta). Đối với tác giả (Kàra), tác
nghiệp (Karoti) và hiệu lực của tác nghiệp (Karma), cả hai quyết định đều không
quyết định được mối quan hệ của chúng. Màdhyamaka-kàrakà VIII, 4, viết:
«Sadh-bhùtah kàrah karma sadbhùtam na karoti ayam, kàrako nàpyasadbhùtah
karmàdbhùtam ihate»[13]. Quyết định tác giả không tạo ra quyết định nghiệp.
Không quyết định tác giả cũng không tạo ra quyết định nghiệp.
Khi phân
tích, để giữ được tính cách nhất trí của những cái được phân tích, không khiến
cho chúng trở thành tạp loạn và rời rạc, ta phải giữ vững mối quan hệ của chúng.
Nghĩa là ta phải căn cứ trên bản tính hiện hữu và tồn tại của chúng, như
Vasubandhu xác định rơ trong luận Abhidharma-Kosa[14]. Với một phương pháp phân
tích như vậy, mối quan hệ mà chúng ta t́m thấy chỉ xảy ra trong phạm vi thế tục
trí (laukika-jnàna), nếu chúng ta chọn một viễn tượng cứu cánh như vậy không,
th́ ngoài phương pháp phân tích vừa kể, chúng ta khó mà cân nhắc được phản ứng
của các phương tiện vận dụng. Trong trường hợp vận dụng Tánh Không luận như một
phương tiện, chúng ta có thể nhắc lại khuyến cáo của Nāgārjuna: «Như bắt rắn
không đúng cách như dùng chú thuật sai lạc, Tánh Không bị hiểu lầm cũng tai hại
như vậy đối với kẻ trí năng thấp kém»[15].
Những điều
vừa nói báo hiệu một đường lối vận dụng Tánh Không luận ở đây.
Trước hết,
chúng ta hăy trích dẫn bài tụng thứ nhất của Trung luận (Màdhyamaka-kàrika):
Na svato
nàpi parato
Na
dvàbhyàm nàpy ahetu;
Utpannà jàtu vidyante
Bhàvàh kvacana ke cana. M K I. 1
Các bản dịch
chữ Hán:
A. Chư
pháp bất tự sinh
Diệc bất
tùng tha sinh
Bất cộng bất
vô nhân
Thị cố tri
vô pháp[16]
B. Vô
thời diệc vô xứ
Tùy hữu nhất
vật thể
Tùng tự tha
cập cọng
Vô nhn nhi
khởi giả[17]
«Bất cứ nơi
nào hay bất cứ ở đâu, tuyệt đối không có sự thể nào khởi lên từ chính nó
(svatah), từ cái khác (paratah), từ cả hai cọng lại (dvàbhyam) hay vô nhân
(ahetuh).» Đây là lối lập luận phủ định từ cú (catukoti), theo Jayatilleke[18]:
1. S is P,
e. g. atthi paro loko (there is a next world).
2. S
is not P, e. g. natthiparo loko (there is no next world)
3. S
is ang is not P, e. g. atthi ca natthi ca paro loko (there is and no next
world)
4. S
neither is nor is not P, e. g. n’ev’atthi na atthi para loko (there neither is
nor is there no next world).
Jayatilleke
giải thích: Nếu coi 4 trường hợp trên như là các định luật tư tưởng: luật đồng
nhất (the law of Identity), luật mâu thuẫn (the law of Contradiction), luật
Triệt Tam (the law of Ecluded Middle) và luật Nhị bội (the law of Double
Negation) th́ 3 vi phạm luật Mâu thuẫn và 4 vi phạm luật Triệt Tam, do đó, theo
luận lư Aristotle, chúng tất yếu là những mệnh đề sai.
Một trong
những trường hợp giải quyết sự hợp lư của tứ cú, Jayatilleke nhắc lại bài báo
của Archie J. Bahm đăng trên tạp chí Philosophy East and West, theo đó, nên coi
Phi-P là một phản đối (the contrary) chứ không phải là một mâu thuẫn (the
contradictory) của P[19]; Jayatilleka thí dụ:
I. So
sukh́, he is happy.
Bởi v́ «na
sukh́» là một mâu thuẫn và «dukkhi» (unhappy) là một phản đối của sukh́, nên
II. So
dukkhi
III.
So sukh́ ca dukkh́ ca
IV.
So n’eva sukh́ na dukkh́.
Như vậy, III
và IV ở đây không mâu thuẫn nội tại[20].
Cũng trong
đường lối này, một thí dụ được trích dẫn đáng chú ư[21]:
I. atthi
paro loko na (atthi paro lako) (contradictory)
II.
natthi paro loko (contrary)
III.
atthi ca natthi ca paro loko
IV.
n’evatthi na natthi paro loko
Trong thí dụ
này, trên h́nh thức ngôn ngữ, người ta phân biệt: na (atthi...) như là mâu thuẫn
của atthi, và natthi là một phản đối của atthi. Bởi v́, ở đây không bàn đến pháp
thức luận lư, do đó chúng tôi không tiến xa thêm nữa. Điều cần ghi nhận, khi một
danh từ được thay đổi hay một h́nh thức phát biểu của ngôn ngữ được thay đổi,
th́ sự thay đổi này đưa đến một hiệu lực nào. Tất nhiên là không phải hiệu lực
thực tế. Nhưng, chỉ cần đó là một hiệu lực để ta có thể hiểu được điều này:
trong khi thay đổi b́nh diện ngôn ngữ của Tánh Không luận th́ chúng ta cũng thay
đổi luôn cả cứu cánh của sự diễn đạt, dù vậy, có hay không có một ư nghĩa tối
thượng bên trên tất cả sự thay đổi này? Có lẽ chúng ta phải giữ một thái độ rất
độc đoán, bởi không độc đoán th́ vấn đề vừa nêu ra ở trên chẳng có ư nghĩa ǵ
hết. Thái độ độc đoán đó, tạm thời được phát biểu như sau, mượn một câu kinh
Pháp cú: «Như một hồ nước, càng sâu th́ càng trong suốt và yên lặng; cũng vậy,
những kẻ có Trí sau khi nghe được chánh pháp, tâm hồn của họ trở nên thâm trầm,
trong suốt và yên lặng như thế.» Với thái độ độc đoán ấy, Tánh Không luận như
một phương tiện, nhưng là một thứ phương tiện không hiện h́nh. Cũng như ở trong
bóng tối dày đặc, nếu không ngủ yên được một giấc dài th́ phải tạo ra nhiều cử
động: «Cầu chi bất đắc ngộ mị tư bặc, du tai! Triển chuyển phản trắc.» Mong ước
mà không được, thức cũng nhớ mà ngủ cũng nhớ; xa vời thay! Xa vời thay! Lăn qua
trở lại. (Kinh Thi). Cũng vậy, khi phải đối đầu với một thứ phương tiện vận dụng
được mệnh danh là Không, Vô tướng và Vô tác, người ta không ngớt phải xoay trở
các b́nh diện lập ngôn.
Bấy giờ,
chúng ta lấy lại lối lập luận phủ định tứ cú. Vấn đề thứ nhất, là hiệu lực của
tứ cú[22]. Kế đến, căn nguyên. Và sau hết, tác dụng của phủ định.
1) Hiệu lực
mà chúng ta cân nhắc được giá trị và giới hạn của nó phải là một thứ hiệu lực
thực tế, tức là mối quan hệ nhân quả của tâm thức trong ḍng vận chuyển tương
tục. Căn cứ theo đây th́ có thể thực hiện được phương pháp phân tích. Sơ khởi,
phải thực hiện ngay trong ḍng vận chuyển của tâm thức mới hy vọng, về sau, dù
có tiến xa đến đâu vẫn không rơi vào t́nh trạng tạp loạn và rời rạc. Ở sơ khởi
này, người ta giữ chặt lấy hai nguyên tắc: tương tục và tương tợ. Do tương tục,
mọi sự thể có khởi lên, biến mất. Đó là sự thể được coi như hiện hữu dị biệt. Sự
khởi không dị biệt th́ không có khởi lên, tồn tại và biến mất. Nhưng cũng do
tương tợ mà sự thể khởi lên, tồn tại và biến mất trong trật tự của đồng nhất.
Phân tích như vậy, trong một giới hạn rất nhỏ hẹp, người ta có thể đánh giá được
sự hợp lư và hiệu lực của tứ cú. Tuy nhiên, lối phân tích ấy chỉ mới tŕnh bày
trong một giới hạn thô thiển; kết quả thu lượm thật quá mỏng manh. Sự hợp lư và
hiệu lực của tứ cú được đánh giá bằng cách qui chiếu vào tính cách vận chuyển
của tâm thức, điều này chỉ có thể thực hiện được khi nào chúng ta nói được rằng
ngôn ngữ và tư tưởng là một. Nếu nói thế th́ ngôn ngữ không c̣n là một phương
tiện vận dụng của tư tưởng nữa, do đó ngôn ngữ trở thành tiếng nói của hư vô, và
tư tưởng cũng là ḍng vận chuyển của hư vô. Bởi v́, phải căn cứ vào sự mạch lạc
của ngôn ngữ ta mới có thể phối trí được trật tự của tư tưởng; và ngược lại,
ngôn ngữ phải khởi lên từ một căn nguyên là tư tưởng nó mới có một nội dung cụ
thể và như vậy ta mới quả quyết được hiệu lực của nó. Thay v́ để đạt được một
hiệu lực gọi là thực tế, luôn luôn, trong các luận thuyết của phân tích, ta lại
đạt được một thứ hiệu lực của hư vô. Nhưng cố nhiên hiệu lực của hư vô chỉ là
một giả tưởng, hiệu lực và hư vô là những khái niệm tương phản, nếu cố kết hợp
thành một, ta có một khái niệm tương phản, nếu cố kết hợp thành một, ta có một
khái niệm tự mâu thuẫn. Ở đây, chúng ta vẫn chưa đạt được những điều mong muốn.
Nếu thực hiện được sự phân tích đến kỳ cùng, chúng ta cũng chỉ có thể đi đến một
trong hai kết luận: hoặc quyết định hữu (Sadbhùta) hoặc quyết định vô
(Asadbhùta) như đă thấy (v. supra, tr. 63). Tuy nhiên, trong giai đoạn khởi đầu
của nền luận thuyết Phật học, phương pháp phân tích được coi như là phương pháp
duy nhất đào luyện khả năng quán chiếu của trí tuệ. Cho đến thế kỷ V TL. Phương
pháp này vẫn c̣n được coi trọng, như lời quả quyết của Vasubandhu trong Kosa. V́
phương pháp phân tích, một khi đối đầu với Tánh Không luận, thường bị đẩy vào
t́nh trạng tiêu cực, hay nói khác đi, t́nh trạng tự hủy, các nhà Đại thừa Duy
thức mới thiết lập mối quan hệ nhân quả trên b́nh diện giả hữu để sử dụng phương
pháp phân tích có hiệu lực hơn. Như vậy, trên quan điểm tuyệt đối (paramàrtha),
bản tính của hiện hữu là Không; và trên b́nh diện thế tục (samurti), bản tính ấy
là Hữu. Có hiện hữu, v́ có tác dụng của tâm thức: đó là lập trường Duy thức
(vijnànamatrà). Từ đó, người ta có thể tạm thời thỏa măn với những ǵ đạt được
bằng phân tích. Căn cứ theo đó để huân tập khả năng của trí tuệ; khi sự huân tập
này đă thành tựu, người ta có thể vượt tất cả các phân biệt danh tướng
(nama-laksana) để diện kiến trực tiếp với một thế giới siêu tứ cú, mà kinh Lăng
già gọi là cảnh giới Thánh trí tự chứng. Bỏ qua các tranh chấp dị biệt giữa các
nhà Đại thừa Duy thức và Trung quán, chúng ta có thể nhắc đến lư tưởng cứu cánh
chung của các nhà Đại thừa qua kinh Lăng già như sau, đại ư: «Sự xuất hiện và
biến mất của thế giới này giống như một cảnh tượng mộng ảo, như hoa đốm giữa
trời. Những vị đă quyết định chỉ có một con đường độc nhất là giác ngộ, trí tuệ
của họ không lạc vào Hữu và Vô, căn cứ theo đó mà vận dụng tâm nguyện đại bi của
ḿnh». Nói cách khác, trong cái thấy, bằng trí tuệ, của các vị này, thế giới chỉ
là một giấc mộng, nhưng họ làm tất cả lợi ích cho giấc mộng ấy, không v́ một cứu
cánh nào hết, mà v́ như vậy.
2) Chúng ta
sẽ có rất nhiều thủ thuật tinh tế của các phương tiện suy lư. Trong số đó, cái
có thẩm quyền gần như tuyệt đối là «thực tế đă nói như vậy». Bằng mọi cách,
người ta cố làm thế nào để sự thật tự nói lên sự thật của chính nó. Phương pháp
phân tích cũng có thể dẫn đến đó. Thí dụ, v́ «thực tế đă nói như vậy», do đó,
người ta đă phối trí trật tự của phân tích cũng như vậy. Trên h́nh thức, đây là
lối lư luận căn bản của các luận thuyết Abhidharmika. Theo lối suy luận này, mỗi
sự thể xuất hiện trong trật tự của phân tích, luôn luôn chúng xuất hiện với một
vị trí cố định. V́ có vị trí cố định nên không trở thành tạp loạn và rời rạc.
Rồi bằng tương quan tác dụng trong trật tự đă được phối trí, người định danh cho
mỗi sự thể. Chúng ta lấy thí dụ cổ điển của các luận thuyết Abhidharmika: một
thanh gỗ, v́ tương quan tác dụng trong một vị trí cố định, nó được gọi là củi
(indhana). Một vị trí cố định có nghĩa là tương quan đồng thời và đồng xứ. Bởi
v́ tương quan tác dụng này, thí dụ: lửa và củi, người ta đạt được một sự thật
duy nhất: sự thật của sự đốt cháy. Nếu đặt phân tích trên các tác dụng của tâm
thức, sự thực đó tức là bản ngă. Trên sự thật của bản ngă, người ta lại cảm thấy
giải quyết được những khái niệm chống đối nhau: vô thường và vĩnh cửu. Theo đó,
một đằng, bản ngă hoạt động trong các tác dụng dị biệt của tâm thức và một đằng,
duy tŕ tất cả tác dụng dị biệt trong một thể tính đồng nhất. Nơi đây, có thể
trích dẫn một kết luận của Nāgārjuna[23]: «Những ai thấy có một bản ngă (àtman)
bằng phân tích dị biệt và dị biệt (prthak prthak), kẻ ấy không thấy ư nghĩa của
đạo lư». Căn cứ theo kết luận ấy mà nói, sự tất yếu của một bản ngă, để điều
động tất cả các tác dụng dị biệt, không phải là cái mà người ta đạt được qua
«chính sự thật tự nói lên sự thật như vậy» nhưng qua căn nguyên của tất cả
phương pháp phân tích: đồng nhất và dị biệt.
Bây giờ,
chúng ta tạm thời theo dơi diễn tiến của các vận dụng đồng nhất và dị biệt[24]
để đi tới một kết luận như vừa dẫn. Sự vận dụng này bắt đầu từ tương quan nhân
quả của lửa và củi để tiến đến sự hợp tác của chúng là sự đốt cháy. Để thực
hiện, người ta giả thiết rằng chúng là những tự thể dị biệt; đây chỉ là giả
thiết, không cần xét đến bản tính của chúng. Bằng tự thể dị biệt ấy, người ta có
thể định danh cho mỗi sự thể, và như vậy là chỉ định chúng phải đi đến một hợp
tác nào đó, để nói lên một sự thật. Cũng vậy, ở h́nh thức phát biểu của một mệnh
đề, chủ từ và thuật từ, v́ tiên quyết là những tự thể dị biệt, sẽ được định danh
để nói lên một ư nghĩa nào đó của sự thật. Như thế tức là qui chiếu vào đồng
nhất tính: những tự thể dị biệt hợp tác theo tính cách đồng thời và nhất
loạt[25]. Từ căn bản này mà đi, tương quan nhân quả là tương thành: những tự thể
dị biệt thành tựu ư nghĩa cho nhau; đó là danh phận của mỗi tự thể trong một
cộng đồng hợp tác. Nhưng tương thành lại là trùng thành (siddasya sàdhanam) (MK.
X,9). Căn cứ trên h́nh thức suy luận mà nói, v́ muốn cho tất cả giả thiết có
hiệu lực trong khả năng diễn đạt, do đó, khi định danh và định phận của mỗi tự
thể, phải đặt chúng trên một diễn tiến mạch lạc của trật tự nhân quả. Làm như
vậy tức là giả thiết được rằng, mỗi tự thể dù xuất hiện trong tính thể dị biệt
của nó nhưng lại tác dụng trong một thế giới cộng đồng, v́ diễn tiến mạch lạc
của trật tự nhân quả là vậy. Tuy nhiên khi từ một giả thiết như thế rồi tiến đến
chỗ thiết lập mối quan hệ trong tính cách hỗ tương thành tựu của các tự thể dị
biệt, người ta bỗng khám phá ra rằng, từ giả thiết đến thiết lập, phải thay đổi
rất nhiều môi trường, người ta chỉ bắt gặp những giả danh và cuối cùng, cái danh
phận đạt được - và cho rằng như vậy là thiết lập được thế giới cộng đồng của các
tác dụng dị biệt - không vượt qua khỏi giới hạn khép kín của giả danh. Giả
thiết, đến đây trở thành vô hiệu, v́ đă phạm phải lỗi trùng thành trong h́nh
thức suy luận.
Về lỗi này,
Trung luận (MK. X.9) diễn tả như sau: yadh́ndhanam apeksyàgnir agneh siddhaya
sàdhanam. Nếu cần phải giả thuyết lửa và nhiên liệu của lửa - như là những tự
thể dị biệt, th́ lửa là sự thành tựu của sự thành tựu.
Nói tóm lại,
căn cứ trên đồng nhất và dị biệt, ta có thể giả thiết được bốn trường hợp của
những tương quan giữa chủ từ và thuật từ, tức là giữa những tự thể dị biệt và
các tác động của chúng. Tương quan ở đơn cú: I. Atthi paro loko; II.natthi paro
loko; tương quan của phức cú: III. Atthi ca paro loko IV. N’evatthi na natthi
paro loko. Nhưng cuối cùng giả thiết trở thành vô hiệu, và như vậy sự phân tích
sẽ dẫn đến một căn nguyên hư vô. Thực tế tức là hư vô, v́ là giả tưởng của danh
ngôn. Tánh Không luận được sử dụng như một thứ tuyệt đối duy danh luận.
3) Nơi đây,
khi nói về hiệu lực của phủ định, chúng ta sẽ lập lại thí dụ về tứ cú của
Jayatilleke, phân biệt sự phản đối và mâu thuẫn. Trên h́nh thức của tứ cú, II
phản đối I và IV phản đối III. Phản đối không phải là phủ định. Cả bốn trường
hợp, căn cứ trên tự thể dị biệt của các chủ từ và thuật từ để xác định các
trường hợp tương quan của chúng trong đồng nhất của hợp tác. Trước khi nói đến
hiệu lực của phủ định đối với tứ cú, chúng ta thử thiết lập bốn nguyên tắc phê
b́nh. Những nguyên tắc này thường thấy trong Trung luận (Màdhyamaka-kàrikà), và
một phần trong Hồi tránh luận (Vigrahavyavarttani).
a)- Nghịch
suy vô cùng: đây là một h́nh thức nhập môn của Tánh Không luận, sơ đẳng nhất
nhưng lại quyết định tất cả sự thấu triệt về Tánh Không. Lối phê b́nh này là nền
tảng của tập Hồi tránh luận. Nói một cách giản dị, cách sử dụng được thiết lập
như sau: thí dụ, nói rằng bất cứ một mệnh đề có giá trị nào đều phải được chứng
thực bằng hiện lượng (pratyaksa), tức là thẩm quyền của tri giác. Nhưng, giá trị
của hiện lượng chứng thực bằng cái ǵ? Ta sẽ có hiện lượng của hiện lượng. Lư
luận bằng cách bước thụt lùi như vậy, ta sẽ đi đến một t́nh trạng vô cùng. Tức
là, không bao giờ đạt đến một cứu cánh hay một căn nguyên nào hết. Những lối nói
khác, như căn nguyên của căn nguyên, cứu cánh của cứu cánh, hủy diệt của hủy
diệt, Tánh Không của Tánh Không… là những h́nh thức vừa sơ đẳng vừa quyết định
của Tánh Không luận. Bằng lối suy luận như vậy, người ta thấy không thể, hay
không cách nào binh vực và thiết lập giá trị cũng như căn nguyên của Tánh Không
luận. Nếu thế, chỉ có Tánh Không luận mới binh vực được cho chính nó; mọi luận
thuyết về Tánh Không đều thở thành vô nghĩa.
b)- Tương
đăi: Từ nghịch suy vô cùng, người ta khám phá ra tính cách mâu thuẫn nội tại của
lư tính. Do đó, khi Tánh Không luận được đặt vào các lănh vực tư biện của triết
lư Tây phương, nó được mệnh danh là biện chứng pháp. Bởi v́, bằng cách thiển
khai sự mâu thuẫn nội tại của lư tính, người ta sẽ có thể đạt đến cứu cánh tâm
linh. Chúng ta có thể trích dẫn luận Đại Trí độ 1 để xác nhận ư kiến ấy: ngôn
ngữ đă chấm dứt, tâm hành cũng đă xong, không sinh không diệt, Pháp như Niết
bàn.
Trong trích
dẫn trên, nếu chúng ta giải thích theo đường lối cổ điển của Tam luận tông Trung
hoa, th́ ở đây có ba lănh vực của Trí tuệ. Lănh vực biểu hiện, biểu hiện bằng
ngôn ngữ và tâm hành. Lănh vực tác dụng; Trí tuệ vận chuyển trên con đường giữa:
Bất sinh bất diệt. Sau hết, tự thân của Trí tuệ: Pháp như Niết bàn. Với đường
hướng ấy, ta sẽ nêu ra ở đây hai giải thích điển h́nh về cái ư nghĩa gọi là mâu
thuẫn nội tại. Tất nhiên, trong này, khái niệm về mâu thuẫn nội tại không chính
xác bằng tương đăi.
Giải thích
1: «v́ không cho nên có». Giải thích này được dẫn khởi từ một tụng ngôn của
Nāgārjuna, MK. XXIV mà v́ các chữ dịch của Kumaraj́va trong bản Hán rất quyết
định, do đó giải thích 1 đă quả quyết như vậy. Chúng ta hăy trích dẫn Phạn văn,
và đối chiếu các bản dịch điển h́nh:
Sarvam ca
yujyate tasya, sunyatà yujyate;
Sarvam na yujyate tasya sùnyam yasya na yujyate.
(I) Murti
(337) :
All is
concord indeed for him who to Sùnyatà conforms;
All is not concord for him who conforms not to Sùny
(II) J. May
(234):
Si la
vacuité est logique, tout est logique; si elle est absurde, tout est absurde.
(III).Kumaraj́va:
Dĩ hữu không
nghĩa cố, nhất thiết pháp đắc thành
Nhược vô không nghĩa giả, nhất thiết tắc bất thành.
Hiểu theo
(I), Tánh Không luận của Mādhyamika như là nền tảng cho một tổng hợp của các hệ
thống triết học, và Murti gọi đó là một điều lạ (1): Tất cả đều thích ứng, v́
thích ứng với Tánh Không.
Hiểu theo
(II), Tánh Không như là căn nguyên hợp lư của tất cả sự hợp lư.
Nếu theo
(III) ta phải hiểu «V́ không cho nên có» và lối hiểu này khác hẳn trên. Ở đây,
người ta coi thành (yujyate) như là sụ thành tựu của các sự thể đă xuất hiện.
Nói cách khác, đó là sự thành tựu của Hữu thể – của cái Có. Để đi tới một quyết
định như thế, người ta phải nói Hũu không phải là tự hữu. Tuy nhiên, nếu đồng
nhất với tất cả cái khác, th́ Hữu cũng không thể có sự thành tựu; chỉ trong tác
dụng dị biệt mới bộc lộ sự thành tựu của Hữu.
Như vậy, v́
tương quan, v́ không tự hữu, do đó, Hữu được thành tựu từ Không. Sự đối đăi giữa
Không và Hữu ấy sẽ cho thấy một căn nguyên của cả Không và Hữu, v́ cả hai là
Một, và căn nguyên của cái Một đó cũng là cái Không, tức là cái Không của Không
Hữu. Bằng sự triển khai này, người ta thấy ngay có một sự thành tựu trên tất cả
mọi sự thành tựu: đó là sự thành tựu của vô ngôn, và cũng là «Pháp như Niết
bàn».
Nói tóm lại,
Tánh Không là ǵ? Là căn nguyên của tất cả sự thành tựu. Cái đă thành tựu là
Hữu. Từ đó, người ta tiến tới kết luận rằng Tánh Không luận là Chân Không Diệu
Hữu: cái Không th́ vắng lặng, vô thanh vô tức, mà cái Có-Hữu th́ lạ lùng, thấy
như không thấy.
Giải thích
2: «Hữu là Một v́ là Tất cả». Giải thích này được dẫn khởi từ MK. XXIV. 18: «yah
prat́tyasamutpàdah sùnyatam tam pracaksmahe; yà prajnaptir upàdàya pratipat
saiva madhyamà»[26]
Kumaraj́va:
Chúng duyên sở sinh pháp, ngă thuyết tức thị không; diệc vi thị giả danh, diệc
vi Trung đạo nghĩa. Tất cả những ǵ khởi lên do các duyên (prat́tyasamutpùda),
tôi nói đó là Không (sùnya), cũng gọi là giả danh (prajnapti) và cũng là Trung
đạo (madhyama pratipat). Trên một tŕnh tự mạch lạc, đó quả là sự vận chuyển của
Biện chứng pháp. Hữu, là sự thành tựu của Một, nhưng không tự hữu, v́ là Tất cả.
Vậy, khi cái Một khởi lên, th́ Tất cả cùng khởi lên; khi cái Một biến mất, Tất
cả cùng biến mất. Từ đó, Tánh Không là căn nguyên cho một thế giới cộng đồng của
các tác dụng dị biệt.
Cả hai giải
thích đều nói đến sự thành tựu. Chúng ta có: sự thành tựu của ngôn ngữ, của tác
dụng, của im lặng hay Tịch diệt (tứ Niết bàn).
Tuy nhiên,
v́ tất cả sự thành tựu vừa kể đạt được do triển khai tính cách tương đăi, cho
nên đấy chưa phải là cứu cánh của Tánh Không luận.
c)- Trùng
thành : Chúng ta xác định lại giá trị cứu cánh của tương đăi bằng h́nh thức của
suy luận. Trước kia, bằng vào tương đăi, h́nh như tất cả sự thành tựu đều được
thánh tựu như đă từng mong mơi. Nhưng các giải thích điển h́nh chỉ cho thấy là
người ta cố gắng để đi đến một kết luận hợp lư cho những ǵ đă được nêu lên từ
trước. Trong các cách thức vận dụng ngôn ngữ, luôn luôn phải vận dụng đồng nhất
và dị biệt. Một khi vận dụng đồng nhất, th́ phải đi từ các dị biệt, và ngược
lại. Cho đến lúc thiết lập xong đồng nhất và dị biệt th́ mới có thể triển khai
tương đăi đến chỗ rốt ráo của nó. Bấy giờ, lúc đồng nhất và dị biệt đă được
thiết lập, người ta thấy ra rằng đồng nhất trong đồng nhất tức là dị biệt, dị
biệt trong dị biệt tức là đồng nhất. Theo đó, chỉ có hai con đường để đi: từ
đồng nhất đến đồng nhất và từ dị biệt đến dị biệt. Chúng khác nhau ở h́nh thức
mà không có nội dung. Căn cứ theo đây mà nói, mọi giải thích bằng cách triển
khai tương đăi, đối lập và mâu thuẫn, đều vô nghĩa; v́ là trùng thành.
d)- Tự
chứng: Cuối cùng, có lẽ chỉ c̣n một cách nói, rất vô lư nhưng cũng rất hợp lư:
cái đó như vậy là như vậy. Đối với sự hợp lư hay vô lư của một lập trường chẳng
hạn, giải thích là điều vô nghĩa; do đó, người ta phải cố gắng làm thế nào để nó
tự tŕnh diện. Như một ngọn đèn tự soi sáng chính nó trong khi vừa có thể soi
sáng những cái khác. Điều này gợi lên cái cảm tưởng rằng, với nguyên tắc tự
chứng, ta có thể chứng tỏ sự bất lực của tất cả mọi lập trường tư biện. Tuy
nhiên, nếu trở lại từ đầu, từ (a) nghịch suy, (b) tương đăi... tự chứng cũng trở
thành vô hiệu. Thí dụ, chúng ta thử lặp lại tương đăi. Tác dụng soi sáng của
ngọn đèn là hủy diệt bóng tối: «Nếu ngọn đèn soi sáng chính nó, và cũng soi sáng
những cái khác; th́ bóng tối, cũng vậy, che tối chính nó và che tối những cái
khác.» (MK. VII. 12)
Qua bốn
nguyên tắc vừa thiết lập, chúng ta muốn thấy, và h́nh như đă thấy, khả năng phê
b́nh của Tánh Không có hiệu lực rất lớn trong công dụng đối trị sự thật của ngôn
ngữ và sự thật của tâm thức; đến cuối cùng, chúng lại tự chứng tỏ khả năng vô
hiệu của ḿnh. Thực sự, chúng ta không mong mỏi những ǵ khác hơn. Bởi v́ trong
giới hạn thông tục, điều ấy đă cho ta thấy hiệu lực phủ định của Tánh không
luận. Nó như một ngọn lửa, sau khi đốt cháy tất cả th́ tự tắt mất, không c̣n lại
dấu vết nào: «Chư pháp bất khả đắc, diệt nhất thiết hư luận; vô nhân diệc vô xứ,
Phật diệc vô sở thuyết.» (Trung luận, XXV. 24) (Cf. Stcherbatsky. Op. Cit. Tr.
78).
Nói tóm lại,
chúng ta đặt giới hạn cuối cùng của các phương tiện vận dụng là nguyên tắc tự
chứng. Ở đây, mọi nỗ lực đều qui chiếu vào sự kiện: làm thế nào để cho các
phương tiện tự biểu lộ sự thật ngay nơi chúng: hay nói theo một sáo ngữ: đạt
được cứu cánh ngay trong các phương tiện vận dụng. Đó là cái khả năng mà Tánh
Không luận – như một phủ định luận – có thể thực hiện được.
(III)
«Bởi v́ bản
tính của hiện hữu là như vậy: không có tác giả, cũng không có thành giả. Như lai
cũng như vậy.»[27]
Một hiện hữu
chỉ hiện hữu trong thực tế của chính nó. Trong thực tế – hay trong giới hạn của
«sự thực như vậy» – hiện hữu không tự tác cũng không được tạo tác: Tánh Không,
vô tác cố[28]. Luôn luôn, chúng ta muốn cho tất cả những cái Như vậy được là Như
vậy. Nhưng ư muốn đó thường được diễn dịch ngược lại, nhất là trong giới hạn cố
định của đời sống cá biệt, biến dịch trong thường hằng, dị biệt trong đồng nhất:
bởi v́ chúng ta muốn tiến tới bằng cách đi thụt lùi. Cá biệt chống lại cá biệt:
bởi v́ chúng ta muốn thành tựu một cứu cánh bằng tương đăi. Dù vậy, chúng ta lại
biết rằng các phương tiện mà chúng ta vận dụng để thiết lập ấy xuất hiện từ Tánh
Không và qui chiếu vào Tánh Không. Nghĩa là chúng ta lấy sự hủy diệt để phát
khởi và cũng lấy sự hủy diệt để thành tựu cứu cánh. Diễn tiến trong cái không
diễn tiến, để đạt được trật tự trên một căn cơ không trật tự; như thế là cố gắng
t́m thấy mọi hợp lư trong sự hủy diệt.
Trong truyền
thống cố hữu của Đại thừa – nhất là Trung hoa, sự hủy diệt và thành tựu ấy được
biểu tượng bằng nhân cách của bồ tát Văn Thù và Phổ Hiền. Nhân cách của Bồ tát
Văn Thù, biểu tượng cho Đại Trí; v́ tác dụng của trí tuệ là hủy diệt, như tác
dụng đập phá của viên ngọc kim cương. Nhân cách của Phổ Hiền biểu tượng cho Đại
Hạnh hay Đại Bi, mà tác dụng là thành tựu tất cả từ hư vô. Tiếng nói của trí tuệ
là tiếng rống của sư tử. Hành động của Đại bi là bước trầm ẩn của con voi chúa.
Phật Quốc thiền sư ca ngợi:
Sư tử hống
thời phương thảo lục
Tượng vương hồi xứ lạc hoa hồng.
Khi sư tử
cất lên tiếng rống của Đại Trí, th́ bao nhiêu cộng non chồi non của cỏ đều bị
chấn động để nảy mầm; đó là hạt giống xanh tươi của sự giác ngộ đă vươn ḿnh ra
khỏi ḷng đất.
Trên những
đoạn đường trở về của voi chúa, tất cả những cánh hoa đă héo và đă rụng đều khởi
sắc trở lại cái màu hồng nguyên thủy.
Thêm một
thay đổi cách nói nữa, bỗng nhiên ta được gợi hứng là Chết từ sơ ngộ màu hoa
trên ngàn.
Cũng như
chúng ta biết rất rơ là bằng phương tiện nào th́ có thể đạt đến sự hủy diệt ngay
trong ḷng sự sống, nhưng chúng ta không thực hiện để biết rơ sự hủy diệt là ǵ.
Cũng vậy, chúng ta biết rất nhiều về các phương tiện hủy diệt của Tánh Không
luận nhưng không bao giờ vận dụng chúng. Chúng ta không hỏi «Tánh Không luận là
ǵ?» không phải v́ đó là một cứu cánh bất khả thuyết hay bất khả tư nghị. Nhưng,
bởi v́ chúng ta cần phân tích và trật tự của Phân tích.
TUỆ SỸ
(Phật Việt)
[1]
The way to Nirvana, trích dẫn của K. N. Jayatilleke, Early Buddhist Theory of
Knowledge, George Allen, London, 1963, tr. 333.
[2]
The Conception of Buddhist Nirvana, Mouton (tái bản lần 2), 1965; tr. 1
[3]
Early Mādhyamika in India anh China, Madison, 1967, tr. 3.
[4]
Bởi v́ các «Tiền đề triết học» thường bị ám ảnh bởi những khái niệm thuần lư,
gọi là những «cái mất máu»
[5]
The Central Philosophy of Buddhism, George Allen, 1960, tr. 209.
[6]
Prasannapadà, Adrien - Maisonneuve, Paris, 1959, Préface, tr. Ii – iii.
[7]
Robinson: (...) Murtti’s worke share’s with Stcherbatsky a Fascination with
analoiges between Kant and màdhyamika. Of cit; tr. 4.
[8]
Yathà màyà yàthà svapno gandnarva nagaram yathà; tothatpàdas tathàs
athànam tathà bhanga udàhrtah. MK. VII, 34 cf. Murti, op. cit
[9]
Yathà màyà yàthàsvapno gandharva nagaram yathà; tathotpàdas tathàs
sthànam tathà bhanga udàhrtah. MK. VII, 34. Cf. Murti, op. Cit…, tr.
177.
[10] Ways of Thinking of Eastern Peoples; East- West Center Press, 1964 tr.
192
[11] Cf. Stcherbatsky, Buddhist Logic, Dover, (tái bản), New York, 1962
vol. I, trang 59. Và vol. II (bản dịch Anh ngữ của Nyàyabindu), tr.1
[12] op. Cit. , tr. 12
[13] C.F. Taisho, No 1564 và 1566. J May, prasannapadà, tr. 144
[14] Cf. L. de la Vallée - Poussin, Kosa II
[15] CJ J. May, op. Cit., tr. 229. Murti, 235. SKT. «vinàsa- yatidurdrstà
sunyatà mandamedhasam; sarpoyathà durgrhito vidyà và dursprasà phità.»
MK. XXIV, 11.
[16] Taisho, 1564 (Vol. Xxx), tr. 2b và chú 2
[17] Taisho, 1566. Tr. 52b
[18] Early Buddhist theory of knowledge, tr. 335
[19] op. Cit., tr. 336-7
[20] op. Cit., tr. 341
[21] op. Cit., tr, 343
[22] CF. K. N. Jayatilleke, «The Logic of Four Alternatives», Philosophy East
and West, vol. XVII, 1-4; 1967.
[23] M. K. X. 17: Atmanas’ca sattvam ye bhàvànàm ca prthak prthak
nirdisaniti na tàm man ye sàsnas yà ‘ arthakovidàn.
[24] Tóm tắt chương X của MK. “Agnidhanapaŕksà”. Bản Hán văn của Kumaraj́va:
“Nhiên Khả nhiên”.
[25] Do phân tích từ ngữ “đồng nhất” của chữ Hán.
[26] CF. Murti, 8. J. May, 237
[27] Kinh Hoa nghiêm, XXX II, «Như lai Tánh khởi»; Taisho IX, 612c.
[28] op. Cit., 614c
|