|
LẤY
ẢNH
LÀM CHỒNG
(Chuyện bà Phan Bội
Châu)
GS Trần
Gia Phụng
PhanBội
Châu (1867-1940) là một
nhà yêu nước
vĩ đại.
Suốt
đời
ông đă quên ḿnh và quên cả
gia đ́nh, chỉ
hoạt
động
v́ dân v́ nước.
Ông làm được
điều
nầy,
một
phần
nhờ
sự
hy sinh cao cả
của
vợ
ông, bà Phan Bội
Châu.
Bà Phan Bội
Châu tên thật
là Thái Thị
Huyên, con ông Thái Văn Giai.
Ông Thái Văn Giai là một
nhà Nho, sống
tại
thôn Đức
Nam, làng Diên Lâm, huyện
Nam Đàn, tỉnh
Nghệ
An, và là bạn
học
của
ông Phan Văn Phổ,
thân sinh Phan Bội
Châu. Bà Thái Thị
Huyên sinh năm 1866 (bính dần),
lớn
hơn
chồng
một
tuổi.
Phan Bội
Châu vốn
có chí hoạt
động
cách mạng,
muốn
tŕ hoăn việc
lập gia
đ́nh, nhưng
ông là con trai độc
nhất
trong một
gia đ́nh đă bốn đời
có con trai một,
nên thân sinh ông bắt
ông phải
cưới
vợ
sớm.
Hai ông bà đính hôn lúc c̣n nhỏ
tuổi,
và làm lễ
cưới
năm 1888 (mậu
tư) do sự
sắp
đặt
của
gia đ́nh hai bên.
Cưới
vợ
được
tám năm, ông vẫn
chưa
có con mà thân phụ
ông muốn
có cháu bồng,
nên bà Thái Thị
Huyên (chánh thất,
vợ
cả)
đă cưới
bà thứ thất
(vợ
nhỏ)
cho chồng
năm 1896.(1) Bà thứ
thất
của
Phan Bội
Châu tên là Nguyễn
Thị
Em.
Chẳng
bao lâu bà thứ
thất
(bà Em) sinh được
một
con trai và bà chánh thất
(bà Huyên) cũng sinh thêm một
trai nữa.
Theo tục
lệ
xưa,
tuy con bà chánh thất
sinh sau, nhưng
được
làm anh, c̣n con bà thứ
thất sinh
trước,
lớn
tuổi
hơn,
lại
phải
làm em. Để
khẳng
định
tôn ty trong gia đ́nh, Phan Bội
Châu đặt
tên con bà chánh thất
(nhỏ
tuổi hơn)
là Phan Nghi Huynh, con bà thứ
thất
(lớn
tuổi
hơn)
là Phan Nghi Đệ.
“Nghi huynh nghi đệ”
có nghĩa là “anh xứng
đáng ra anh, em xứng đáng
ra em.” Cách thức
sắp
đặt
gia đ́nh của
Phan Bội
Châu theo đúng đạo
cương
thường
trong Nho giáo.
Phan Bội
Châu vốn
không có chí khoa cử
sĩ hoạn,
nhưng
để
có điều kiện
hoạt
động
cách mạng,
ông dự
kỳ thi hương
tại
trường
thi Nghệ
An năm canh tư (1900) và đỗ
giải
nguyên (thủ
khoa). Sau đó Phan Bội
Châu vào Huế
mượn
cớ
theo học
trường
quốc
tử
giám để
t́m cách liên kết
nhân tài. Cuối
năm 1904 (giáp th́n), Phan Bội
Châu xin phép trường
quốc
tử
giám về
quê ăn Tết,
thật
sự
là rời
Huế
để
chuẩn
bị
qua Nhật
hoạt
động..
Trước
khi ra đi năm 1905, Phan Bội
Châu đă tự viết
hai tờ
giấy
ly dị
vợ,
giao cho hai bà vợ
để
pḥng thân, rủi công
việc
của
ông bị
bại
lộ,
nhà cầm
quyền
có thể
đến
làm phiền
hai bà, th́ hai bà trưng
giấy
ly dị
để
khỏi
bị
liên lụy.(2)
Phan Bội
Châu viết
rất
nhiều
sách, nhưng
ngược
lại
nói rất
ít về
gia đ́nh.. Sách vở
cũng ít đề
cập
đến
gia đ́nh Phan Bội
Châu. Có thể
bà thứ
thất
(Nguyễn
Thị
Em) từ
trần
trước
khi Phan Bội
Châu bị
bắt
về nước
năm 1925, v́ khi người
Pháp dẫn
giải
Phan Bội
Châu từ
Hà Nội
vào Huế
cuối
năm đó, đi ngang qua thành Nghệ
An, chỉ
có một
ḿnh bà chánh thất
đến
gặp
Phan Bội
Châu được
nửa
giờ
đồng
hồ.
Trong câu đối khóc
bà vợ
thứ,
Phan Bội
Châu kể:
“Có chồng
mà
ở
góa, mấy
chục
năm tṛn,
ơn
trời
gặp
hội
đoàn viên, vội
bỏ
đi đâu, trao gánh nặng
về
phần
chị
cả; “V́
nước
phải
liều
ḿnh, biết
bao bạn
cũ, cơi Phật
đưa
lời
trân trọng,
thiêng thời
phải
gắng,
chung ḷng hăng hái với
thầy
tôi.”
Bà chánh thất
Thái Thị
Huyên từ
trần
năm 1936 (bính tư). Trước
lúc bà sắp
từ
trần,
Phan Bội
Châu làm câu đối
bằng
chữ
Nho (chữ
Tàu) gởi về
an
ủi
vợ:
“Trấp
niên dư
cầm
sắc
bất
tương
văn, khổ
vũ thê phong, chi
ảnh
vi phu, nhật
hướng
sằn
nhi huy nhiệt
lệ;
“Cửu
tuyền
hạ
băng thân như
kiến
vấn,
di sơn
điền
hải,
hữu
thùy tương
bá, thiên xai lăo hán bả
không quyền.”
(1936)
Tạm
dịch:
“Hai mươi
năm đàn nhịp
không ḥa, gió thảm
mưa
sầu,
lấy
ảnh
làm chồng,
ngày ngóng đàn con tuôn giọt
lệ;
“Dưới
chín suối
bạn
bè gặp
hỏi,
dời
non lấp
biển,
có ai giúp mợ, trời
ghen thân lăo nắm
tay không.”
Sau đó, khi bà Thái Thị
Huyên từ
trần
ngày 21-5-1936 (1-4-bính tư), Phan Bội
Châu khóc vợ
qua câu đối:
“T́nh cờ
động
khách năm châu, hơn
ba mươi
năm chồng
có như
không, cố đứng
vững
mới
ghê, nuốt
đắng
ngậm
cay tṛn đạo
mẹ;
“Khen khéo giữ
bốn
đức,
gần
bảy
mươi
tuổi
sống
đau hơn
thác, thôi về mau
cho khỏe,
đền
công trả
nợ
nặng
vai con.” (3)
Về
phần
hai người
con trai của
Phan Bội
Châu, cha là một
nhà khoa bảng
nổi
tiếng,
nhưng
v́ yêu nước,
đi làm cách mạng,
nên gia đ́nh quá nghèo túng khó khăn, đă phải
đi sống
nhờ
ở
nhà người
khác, và hai ông không được
học
hành ǵ nhiều.
Có người
nói rằng,
thuở
nhỏ hai
ông phải
trốn
tránh để
khỏi
bị
Pháp bắt,
nhưng
vẫn
nhiều
lần
bị các
hương
chức
địa
phương
làm khó dễ.(4)
Khi Phan Bội
Châu bị
Pháp đưa
về
an trí
ở
Huế.
Phan Nghi Huynh
ở
lại Nghệ
An hầu
hạ
bà mẹ
ruột,
tức
bà vợ
cả
của
Phan Bội
Châu, và chỉ vào
Huế
vài lần
thăm cha rồi
trở
ra Nghệ
An sinh sống
với
mẹ.
Phan Nghi Đệ
cũng hoạt
động
cách mạng,
bị
Pháp bắt
ở
Nghệ
An khoảng sau
năm 1930. Pháp ra điều
kiện
nếu
Phan Bội
Châu chịu
bảo
lănh ông Đệ
về
Huế
sống
với
Phan Bội
Châu th́ Pháp sẵn
sàng đưa
ông Đệ
về Huế,
nghĩa là Pháp chỉ
định
cư
trú đối
với
ông Đệ
như
đối
với
Phan Bội
Châu, đồng
thời
Pháp tiện
việc
kiểm
soát hai cha con cùng một
lúc.
Phan Bội
Châu trả
lời
rằng
như
thế,
Pháp chỉ
giao cho ông giữ
tù giùm cho Pháp mà thôi, chứ
Pháp chẳng
tốt
lành ǵ, nên Phan Bội
Châu không nhận.
Dầu
vậy,
Pháp vẫn
đưa
Phan Nghi Đệ
về
Huế
sống
với
Phan Bội
Châu. (Theo lời
kể
của
cháu nội
Phan Bội
Châu, hiện
sống
ở
Canada.)
Phan Nghi Đệ
sống
bên cạnh
Phan Bội
Châu cho đến
khi cha qua đời
năm1940. Năm 1946, Phan Nghi Đệ
chạy
tản
cư
về
An Truyền
(làng Chuồn), huyện
Phú Vang, tỉnh
Thừa
Thiên, và từ
trần
tại
đây. Sau đó ông được cải
táng về
nằm
cạnh
cha, trong vườn
nhà Phan Bội
Châu
ở
dốc
Bến Ngự,
Huế.
Ngoài hai người
con trai, Phan Bội
Châu c̣n một
người
con gái tên là Phan Thị
Như
Cương.
Bà Như
Cương
là con của
Phan Bội
Châu và bà vợ thứ
là Nguyễn
Thị
Em. Bà Như
Cương
có chồng
là Vương
Thúc Oánh.
Vương
Thúc Oánh cũng hoạt
động
chính trị,
lúc đầu
theo Phan Bội Châu,
sau theo Lư Thụy
(Hồ
Chí Minh). Khi được
biết
Lư Thụy
là người
bán tin cho Pháp bắt
Phan Bội
Châu, bà Như
Cương
xin phép cha cho ḿnh ly dị
chồng.
Phan Bội
Châu không chấp
thuận.
Theo lệnh
cha, bà Như
Cương
không ly dị
Vương
Thúc Oánh, nhưng
từ
đó bà sống
ly thân, không tiếp
xúc với
chồng
nữa.
(Theo lời
kể
của
cháu nội
Phan Bội Châu
hiện
sống
tại
Canada.)
Để
hiểu
rơ hơn
về
bà Phan Bội
Châu, có lẽ
nên nghe lời
ông kể
về
bà cho các con ông nghe:
“Nầy
con,
“Các con
ơi!
Cha mầy
e chết
rày mai, có lẽ
với
mẹ
mày không được
một phen
gặp
nhau nữa!
Nhưng
nếu
trời
thương
ta, cho hai ta đồng
thời gặp
nhau
ở
suối
vàng cũng vui thú biết
chừng
nào.
“Nhưng
đau đớn
quá! Mẹ
mầy
e chết
trước
ta. Ta hiện
giờ
nếu
không chép sơ
những
việc
đời
Mẹ
mầy
cho các con nghe, thời
các con rồi
đây không biết
rơ Mẹ
mầy
là người
thế
nào, có lẽ
bảo
Mẹ
ta cũng như người
thường
thả
cả.
“Than ôi! Ta với
Mẹ
mầy,
vợ
chồng
“thật”
gần
năm mươi
năm, mà quan quả
“giả”
gần
bốn
mươi
năm [quan: vợ
chết,
quả:
chồng
chết].
Khi sống
chẳng
mấy
hồi
tương
tụ;
mà đến
khi chết
lại
chỉ
tin tức
nghe hơi!
Chúng mầy
làm con người,
đă biết
nỗi
đau đớn
của
Cha mầy
với
Mẹ
mầy,
chắc
ḷng mấy
con thế
nào cũng an thích được.
“Bây giờ
ta nhơn
lúc sắp
sửa
chết,
mà chưa
chết,
đem lịch
sử
Mẹ
mầy nói
với
mầy.
“Mầy
nên biết,
nếu
không có Mẹ
mầy,
thời
chí của
Cha mầy
đă hư
hỏng những
bao giờ
kia.
“Cha ta với
Tiên nghiêm [cha] của
Mẹ
mầy
xưa,
đều
là nho cũ rất nghiêm
giữ
đạo
đức
xưa.
Mẹ
mầy
lớn
hơn
ta một
tuổi.
Hai ông đính thông gia với
nhau từ
khi con c̣n nên một.
Tới
năm Mẹ
mầy
hai mươi ba
tuổi
[tuổi
ta, tức
1888], về
làm dâu nhà ta. Lúc
ấy,
Mẹ
ta bỏ
ta đă tám năm, trong nhà duy có cha già với
em gái bé. Ta v́ sinh nhai bằng
nghề
dạy
trẻ,
luôn năm ngồi
ở
quán phương
xa, cái gánh sớm
chiều
gạo
nước
gởi
vào trên vai Mẹ
mầy.
Cha ta đối
với
con dâu rất
nghiêm thiết,
nhưng
chẳng
bao giờ
có sắc
giận
với
Mẹ
mầy.
Cha ta hưởng
thọ
được
bảy
mươi
tuổi,
nhưng
bệnh
nặng
từ
ngày sáu mươi.
Liên miên trong khoảng
mười
năm, những
công việc
thuốc
thang hầu
hạ
bên giường
bệnh,
cho đến
các việc
khó nhọc
nặng
nề
mà người
ta không thể làm,
thảy
thảy
một
tay Mẹ
mầy
gánh cả.
Kể
việc
hiếu
về
thờ
ông gia, như
Mẹ
mầy
là một
việc
hiếm
có vậy.
“Trước
lúc cha ta lâm chung [1900],
ước
một
phút đồng
hồ,
gọi
Mẹ
mầy bồng
mầy
tới
cạnh
giường
nằm,
chúc ta rằng:
“Ta chết
rồi,
mầy
phải hết
sức
dạy
cháu ta, và hết
sức
thương
vợ
mầy.
Vợ
mầy
thờ
ta rất hiếu,
chắc
trời
cũng làm phúc cho nó.” Xem lời
nói lâm chung của
Cha ta như
thế,
cũng đủ
biết
nhân cách Mẹ
mầy
rồi.
“Năm Cha ta sáu mươi
sáu tuổi
[1896], c̣n hiếm
cháu trai, v́ ta là con độc
đinh [con trai duy nhất],
nên cha ta cũng khát cháu lắm.
Mẹ
mầy
muốn
được
chóng sinh trai cho vừa
ḷng Cha, nên gấp
v́ ta cưới thứ
mẫu
mầy,
chẳng
bao lâu mà em mầy
sinh. Trong lúc thằng
Cu mới
ra đời,
Mẹ
mầy
gánh vác việc
ôm
ấp
đùm bọc
hơn
một
tháng. Cha ta được thấy
cháu đầu
hoan hỉ
quá chừng.
Thường
nói với
ta rằng:
“Ta chỉ
c̣n một
việc
chết
chưa
nhắm
mắt,
là mầy
chưa
trả
cái nợ
khoa danh mà thôi”.[5] Mẹ
mầy
nhân đó càng ân đức
thứ
mẫu
mầy,
thân yêu nhau hơn chị
em ruột.
“Kể
đức
nhân về
ân ái với
người
phận
em như
Mẹ
mầy
cũng ít có.
“Cứ
hai chuyện
như
trên, bảo
Mẹ
mầy
là Mẹ
hiền
về
thời
cựu
chắc không
quá đáng. Nhưng
mà bắt
buộc
cho ta phải
trọn
đời
nhớ
luôn,
thời
lại
v́ có một
việc:
Nguyên lai nhà ta chỉ
có bốn
tấm
phên tre suông, chẳng
bao giờ
chứa
gạo
tới
hai ngày. Nhưng
v́ trời
cho tính quái đặc:
thích khoản
khuếch
[khoản
đăi rộng
răi], hay làm ân. Hễ trong
túi đựng
được
đồng
tiền,
thấy
khách hỏi
tức
khắc
cho ngay.
Thường
tới
khi từ
trường
quán về,
ta tất
mang luôn khách về
nhà, khách hoặc
năm, sáu người,
có khi mười
người
chẳng
hạn,
nhưng
chiều hôm
sớm
mai, thiếu
những
ǵ tất
hỏi
Mẹ
mầy.
Mẹ
mầy
có ǵ đâu! Chỉ dựa
vào một
triêng [gánh] hai thúng, từ
mai tới
hôm [từ
sáng tới
tối]
mà hễ
nghe chồng
đ̣i ǵ thời
có nấy.
Bổng
dạy
học
của
ta tuy có nhiều,
nhưng
chưa
một
đồng
xu nào là tay Mẹ
mầy
được
xài phí. Khổ
cực
mấy
nhưng
không sắc
buồn;
khó nhọc
mấy
nhưng
không tiếng
giận.
Từ
năm ta ba mươi
sáu tuổi
[1902], cho tới
ngày xuất
dương,
những công
cuộc
kinh dinh việc
nước,
Mẹ
mầy
ngầm
biết
thảy,
nhưng
chưa
từng
hé răng một
lời.
Duy có một
ngày kia, ta t́nh cờ
ngồi
một
ḿnh, Mẹ
mầy
ngồi
dựa
cột,
kế
một
bên ta nói: “Thầy
chắc
toan bắt
cọp
đó mà? Cọp
chưa
thấy
bắt
mà người
ta đă biết
nhiều
sao thế”
Mẹ
mầy
tuy có nói câu
ấy,
mà lúc đó ta làm ngơ,
ta thiệt
dở
quá!
“Bây giờ
nhắc
lại
trước
khi ta xuất
dương,
khoảng
hơn
mười
năm.
Nghèo đói mà bạn
bè nhiều;
cùng khốn
mà chí khí vững,
thiệt
một
phần nửa
là nhờ
ân Mẹ
mầy.
“Tới
ngày ta bị
bắt
về
nước,
Mẹ
mầy
được
gặp
ta một
lần
ở
thành tỉnh Nghệ,
hơn
nửa
tiếng
đồng
hồ
chỉ
có một
câu nói rằng:
“Vợ
chồng
ly biệt
nhau hơn
hai mươi
năm, nay được
một
lần
giáp mặt
Thầy,
trong ḷng tôi đă măn túc rồi,
từ
đây trở
về
sau, chỉ
trông mong Thầy
giữ
được
ḷng Thầy
như
xưa,
Thầy
làm những
việc
ǵ mặc
Thầy,
Thầy
không phiền
nghĩ tới
vợ
con.”
“Hỡi
ôi! Câu nói
ấy
ấy
bây giờ
c̣n phảng
phất
bên tai ta, mà té ra
ủ dài
năm tháng, chẳng
một
việc
ǵ làm, chốc
chẵn
mười
năm.
“Phỏng
khiến
Mẹ
mầy
mà chết
trước
ta, thời
trách nhiệm
của
ta e c̣n nặng
măi măi. Suối
vàng quạnh
cách, biết
lối
nào thăm; đầu
bạc
trăm năm, c̣n lời
thề
cũ. Mẹ
mầy
thật
chẳng
phụ
ta, ta phụ
Mẹ
mầy!
“Công nhi vong tư”
chắc
Mẹ
mầy
cũng lượng
thứ
cho ta chứ
“. (1936) (6) H́nh
ảnh
bà Thái Thị
Huyên, qua lời
kể
chuyện
của
Phan Bội
Châu, có thể
được
xem là biểu
tượng
của
thế
hệ
phụ
nữ
Việt
Nam theo truyền thống
Nho phong ngày xưa,
âm thầm
gian khổ
gánh vác toàn bộ
công việc
gia đ́nh, để
chồng
có thể
dồn
mọi
nỗ
lực
lo việc
đất
nước.
Đúng như
lời
Phan Bội
Châu đă viết:
“Nghèo đói mà bạn
bè nhiều,
cùng khốn
mà chí khí vững,
thiệt
một
phần
nửa
là nhờ
ân Mẹ
mầy
“. Một
nửa sự
nghiệp
của
Phan Bội
Châu là nhờ
bà Thái Thị
Huyên vững
tay lo việc
gia đ́nh. Chẳng
những
riêng Phan Bội
Châu, mà hầu
như
một
nửa sự
thành công của
nhiều
danh nhân Việt
Nam và trên thế
giới
đều
nhờ ơn
các bậc
hiền
phụ.
Đáng quư thay!
*TRẦN
GIA PHỤNG*
(Toronto, Canada)
CHÚ THÍCH:
1. Theo tục
lệ
ngày xưa,
vợ
cả
(chánh thất)
cưới
vợ
nhỏ
(thứ
thất) cho
chồng.
2. Tôn Quang Phiệt,
“Một
vài kỷ
niệm
về
Phan Bội
Châu”, đăng trong Ông già Bến
Ngự,
hồi
kư của
một
nhóm tác giả,
Nxb.. Thuận
Hóa, Huế 1982,
tr. 53.
3. Các câu Phan Bội
Châu an
ủi
và khóc vợ,
trích từ
Chương
Thâu, Phan Bội
Châu toàn tập,
tập
6, Nxb. Thuận
Hóa, 1990, tt. 442-444.
4. Tôn Quang Phiệt,
bài đă dẫn,
tt. 53-55.
5. Lúc nầy
Phan Bội
Châu chưa
đậu
cử
nhân. Năm 1900 (canh tư), ông đậu
giải
nguyên (đậu
đầu)
kỳ thi Hương
trường
thi Nghệ
An vào tháng 7 th́ tháng 9 cụ
Phan Văn Phổ
từ
trần.
6. “Công nhi vong tư”
nghĩa là lo việc
chung mà quên việc
riêng
|