|
Chuyện
Trầu Cau
GS.Trần Gia Phụng
1.-
SỰ TÍCH TRẦU CAU
Sự tích trầu cau được kể lại lần đầu
trong sách Lĩnh Nam chích quái [Lượm lặt những chuyện quái lạ vùng phía Nam núi
Ngũ Lĩnh, tức nước Việt]. Người ta chưa xác định rơ ai là tác giả sách nầy, chỉ
biết sách nầy xuất biện khoảng đầu thế kỷ 15, và được hai ông Vũ Quỳnh và Kiều
Phú hiệu chính và đề tựa vào cuối thế kỷ 15. Sách tập hợp một số truyện cổ tích,
thần tiên của nước ta như những truyện về đời Hồng Bàng, chuyện Bạch trĩ (trĩ
trắng), Kim quy (rùa vàng), Tân lang (cau), Tây qua (quả dưa hấu)…
Truyện trầu cau kể rằng vào thời
thượng cổ, gia đ́nh họ Cao sinh được hai trai là Tân và Lang, ngoại h́nh hoàn
toàn giống nhau, người ngoài khó phân biệt được. Chẳng may ông bà Cao mất sớm,
hai anh em đùm bọc thương yêu nhau mà sống. Hai người đến một làng khác, và xin
theo học nơi nhà đạo sĩ hoï Lưu. Trong nhà nầy có một cô gái mới lớn tên Liên,
thấy hai anh em đẹp nết đẹp người nên đem ḷng yêu mến, và muốn lập gia đ́nh với
người anh, nhưng không biết rơ ai là anh. Một hôm cô Liên đem bát cháo và đôi
đũa ra mời hai người, để thử xem ai là anh. Lang mời Tân ăn trước. Cô gái biết
Tân là anh, và xin cha kết hôn với Tân.
Hai vợ chồng sống rất đằm thắm và
hạnh phúc, nhưng người em là Lang cảm thấy buồn v́ t́nh anh em bị san sẻ phần
nào sau khi anh lập gia đ́nh riêng. Lang âm thầm bỏ nhà đi về quê. Đi măi, Lang
gặp một ḍng suối lớn chận ngang phía trước. Lang ngồi bên bờ suối buồn khóc cho
đến chết, rồi hóa ra một cây cau. Tân, người anh, thấy em vắng nhà quá lâu, liền
đi t́m. Đến bên bờ suối thấy xác em, Tân thương em và nghĩ rằng v́ ḿnh mà em
mới ra nông nỗi nầy, liền đập đầu vào cây cau mà chết, và hóa thành tảng đá.
Người vợ thấy chồng đi t́m em không về, lại ra đi t́m chồng. Đến bên bờ suối,
gặp xác chồng, bà bèn vật ḿnh vào tảng đá mà từ trần, rồi hóa thành cây trầu,
bám vào tảng đá và leo lên cây cau. Ông bà Lưu, cha mẹ của Liên, xúc động trước
t́nh cảm quyến luyến giữa ba người, liền lập miếu thờ nơi ba người đă từ trần.
Ôâng bà Lưu mộng thấy Tân đến xin lỗi, v́ ḿnh mà hại đến cô Liên; c̣n cô Liên
th́ xin lỗi cha mẹ, đă v́ đạo vợ chồng mà làm cho cha mẹ buồn. Ông bà Lưu đă trả
lời rằng:”Các con vẹn t́nh huynh đệ, nghĩa vợ chồng, ta c̣n ǵ giận nữa?”
Một hôm, vua Hùng đi qua xứ đó, ngồi
bên bờ suối, thấy cây xanh lá tốt mọc bên khối đá, liền gọi người địa phương đến
hỏi thăm, mới biết được sự tích. Nhà vua c̣n sai người bổ quả cau, lấy một miếng
cặp nhai với lá trầu, và nhổ nước bọt lên tảng đá. Lạ chưa, tảng đá trở màu đỏ
ối, rất thấm đậm. Hùng Vương truyền cho dân chúng lấy giống cau trầu mà trồng để
dùng. Nước ta có tục ăn trầu từ đó.(1)
2.- TRẦU CAU TRONG
LỊCH SỬ
Trầu cau có thể nói là hai loại cây
song sinh rất phổ thông ở nước ta, đặc biệt càng về phía nam, nghĩa là càng nóng
và mưa nhiều, th́ trầu cau càng ngon và càng phong phú, nên nhiều người thường
buôn trầu cau từ miền nam ra miền bắc. Ở miền Bắc, cau nổi tiếng ngon và cao giá
nhất là cau Thanh Hà (huyện Thanh Hà, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương). Cau Thanh
Hà c̣n được gọi là cau “tiến”, tức là cau dùng để dâng nạp cho triều đ́nh sử
dụng. Ở miền Nam, vùng trầu cau nổi tiếng nhất là 18 thôn vườn trầu (thập bát
lưu viên) ở Gia Định.
Ngoài Việt Nam, trầu cau được trồng
nhiều ở Phi Luật Tân, Thái Lan, Mă Lai, Indonesia, nam Ấn Độ, Tích Lan (Sri
Lanka),(2) và cũng có mặt ở các nước miền đông Phi Châu..(3) Nói chung các nước
nầy nằm tại vùng nhiệt đới ẩm, giữa xích đạo và hạ chí tuyến (tức từ vĩ tuyến O
độ đến 23,27 độ). Ở những nước nầy cũng có tập tục ăn trầu cau.
Trong tiếng Việt, chữ “trầu” chúng
ta nói và viết ngày nay xuất xứ từ chữ “b’lâu” trong tiếng Việt cổ, c̣n chữ
“cau” của chúng ta cùng một gốc với chữ “pnang” hay “mnang” trong tiếng Ê-đê,(4)
một chủng người đă từng sống lâu đời tại cổ Việt. Chúng ta c̣n gọi bẹ cau là mo
cau hay nang cau. Chữ “nang” nầy phải chăng đến từ chữ “pnang” hay “mnang”? Bẹ
cau hay mo cau hay nang cau ở nông thôn thường dùng làm quạt. (Thằng Bờm có cái
quạt mo…)
Theo Lịch Đạo Nguyên, một người
Trung Hoa, tác giả Thủy kinh chú, đă từng du lịch cổ Việt vào thế kỷ thứ 6, th́
nước ta chỉ có cây cau là đáng xem hơn cả.(5) Tại sao giữa rừng cây lá cổ Việt,
chỉ có cây cau là đáng xem? Phải chăng v́ h́nh dáng phương phi mỹ miều “đầu
rồng, đuôi phụng le te/ mùa đông ấp trứng, mùa hè nở con”? Thật ra, điều thu hút
Lịch Đạo Nguyên chính v́ cây cau không có ở Trung Hoa nên cây cau là một cây kỳ
lạ đối với ông, nhất là một khi ông được người địa phương mách bảo cho biết công
dụng đặc biệt của trầu cau. Phải chăng v́ có phong tục ăn trầu nên cay cau mới
đáng xem, chứ nếu không th́ cây cau cũng chẳng có ǵ đặc biệt hơn các loại cây
khác?
Như vậy, cây trầu và cây cau là hai
loại cây địa phương Việt Nam, được người bản địa sử dụng lâu đời, và việc ăn
trầu trở thành một phong tục chủ chốt trong mọi sinh hoạt truyền thống của người
Việt (Miếng trầu là đầu câu chuyện); và đặc biệt luôn luôn có mặt trong lễ cưới
hỏi của người Việt (Trầu nầy trầu tính trầu t́nh/ Trầu nhân trầu nghĩa, trầu
ḿnh cưới ta; hoặc Ba đồng một mớ trầu cay/ Sao anh không giạm những ngày c̣n
không?). Khi về già, người Việt c̣n dùng một cái cối nhỏ để xoáy cau trầu cho
mềm mà ăn.
Một chứng liệu khác cho thấy trầu
cau đă có từ thời thượng cổ tại nước ta, là miền Trung Việt Nam trước thế kỷ 17
là nước Chiêm Thành. Khi mới được thành lập vào thế kỷ thứ 2, Chiêm Thành có hai
thị tộc chính là thị tộc cây Cau (Kramukavamca) ở phía nam và thị tộc cây Dừa
(Narikelavamca) ở phía bắc.(6) Cây cau trở thành vật tổ của một thị tộc bản địa
thời cổ sử, chứng tỏ cây cau đă hiện diện ngay trước khi có người bản địa, nên
người bản địa mới tôn thờ cây cau thành vật tổ.
Vấn đề người Việt đưa trầu cau vào
lễ nghi tế tự từ khi nào rất khó xác định. Sách gia phả tại đền thờ Ngô Quyền,
làng Đằng Hải, Hải Pḥng, có viết rằng bà mẹ nằm mơ thấy cây cau rồi sinh ra Ngô
Quyền.(7) Ngô Quyền là người đă đánh tan quân Nam Hán năm 938 tại sông Bạch
Đằng, giành độc lập vĩnh viễn cho nước ta. Ngày xưa, khi sinh con quư (quư tử),
theo các sách Trung Hoa, người ta thường viết rằng bà mẹ nằm mơ thấy thần nhân,
tiên thánh, mặt trời, mặt trăng, hoặc thấy rồng vàng. Đàng nầy, gia đ́nh nhà Ngô
viết lại rằng nhờ thấy cây cau mà Ngô thị sinh quư tử; điều đó có nghĩa là cây
cau đă trở thành một vật thiêng tuy không phải là vật tổ, tức cây cau đă giữ một
vị thế rất tôn kính trong đời sống tâm linh của người Việt. Như thế, chắc chắn
lúc đó trái cây cau đă được dùng trong lễ nghi tế tự.
Họ Ngô cầm quyền đến năm 965 th́
loạn sứ quân xảy ra. Đinh Bộ Lĩnh dẹp yên được giặc giả, lên ngôi năm 968, tức
Đinh Tiên Hoàng. Ông bị ám sát năm 979; con là Đinh Tuệ, mới 6 tuổi lên ngôi.
Bên Trung Hoa, Tống Thái Tông (976-1003) thấy vua trẻ mới lên ngôi ở nước Việt,
liền sai quân sang xâm lăng. Thập Đạo tướng quân Lê Hoàn nhân cơ hội nầy, đảo
chánh và tự ḿnh lên làm vua năm 980. Tuy Lê Hoàn, mà sử sách thường gọi là Lê
Đại Hành (trị v́ 980-1005),(8) đuổi được quân Trung Hoa về nước, Lê Hoàn vẫn
phải xin nhà Tống (960-1278) phong vương để tránh bị trả thù v́ Trung Hoa là một
nước lớn. Năm 982, Tống Thái Tông (trị v́ 976-1003) phong cho Lê Hoàn làm tiết
độ sứ. Càng ngày mối liên lạc ngoại giao giữa hai bên càng tốt đẹp hơn, nên vào
990, Tống Thái Tông sai tả chính ngôn là Tống Cảo và hữu chính ngôn là Vương Thế
Tắc làm chánh phó sứ, sang phong thêm cho vua Lê Hoàn, hai chữ “đặc tiến”. Khi
trở về, Tống Cảo thuật lại rằng: “Lê Hoàn cầm cương ngựa, cùng sứ giả cùng đi,
rồi lấy trầu mời trên ḿnh ngựa, đấy là phong tục mời khách rất quư…”(9) Việc Lê
Hoàn tiếp đón sứ giả Trung Hoa, thường được gọi là sứ giả của thiên triều (triều
đ́nh nhà trời), là việc rất quan trọng; thế mà miếng trầu đă được đưa vào nghi
thức ngoại giao để tiếp đón sứ giả đủ thấy lúc bấy giờ trầu cau đă giữ một vị
thế quan trọng trong sinh hoạt triều đ́nh.
Một câu chuyện khác được chính sử
nước ta kể lại cũng chứng tỏ cau trầu luôn luôn có mặt trong sinh hoạt cung
đ́nh. Đó là khi Trần Thủ Độ đưa cháu là Trần Cảnh vào triều hầu vua Lư Chiêu
Hoàng (trị v́ 1224-1225); Lư Chiêu Hoàng dùng khăn trầu (khăn đậy khay trầu) ném
vào người để trêu Trần Cảnh. Trần Cảnh thuật lại với Trần Thủ Độ. Thủ Độ cho
rằng Chiêu Hoàng đă ưa thích Trần Cảnh nên đóng cửa cung, làm lễ thành hôn cho
hai người năm 1225. Sau đó Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng tức Trần Thái Tông
(trị v́ 1226-1258), lập ra nhà Trần (1226-1400).(10)
3.- Ư NGHĨA SỬ HỌC
TRUYỆN “TRẦU CAU”
Để thấy rơ ư nghĩa sử học của truyện
trầu cau, chúng ta cần phải trở lại hoàn cảnh lịch sử thời cổ Việt. Năm 214 tr.
CN, Tần Thủy Hoàng sai Đồ Thư và Sử Lộc đem quân đánh lấy đất Lĩnh Nam, lập ra
các quận Quế Lâm (nay là vùng bắc và đông bắc Quảng Tây), Nam Hải (nay là Quảng
Đông), và Tượng Quận (vùng cổ Việt). Sau đó, năm 198 tr. CN, Triệu Đà lập nước
Nam Việt, ông đưa quân sáp nhập Tượng Quận và cho người sang cai trị.(11)
Người cổ Việt luôn luôn kiếm cách
chống ngoại xâm giành độc lập, mà nổi bật nhất là cuộc khởi nghĩa của Hai Bà
Trưng vào năm 40 sau Công nguyên. Khi chú thích Hậu Hán thư của Phạm Việp, đến
đoạn nói về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, thái tử Hiền đă viết vào thế kỷ thứ 8
như sau:”…Giao Chỉ thái thú Tô Định dĩ pháp thằng chi, Trắc oán nộ cố
phản…”(…Thái thú Giao Chỉ là Tô Định dùng luật pháp trói buộc nên [bà] Trắc tức
giận làm phản…).(12) Chữ “pháp” mà thái tử Hiền dùng không phải chỉ một nghĩa
hẹp là luật lệ, mà chữ “pháp” ở đây có thể hiểu rộng hơn như là pháp chế, hoặc
tổ chức hành chánh, chính trị, cũng như kinh tế, văn hóa, phong tục. Trong số
các phong tục nầy, chắc chắn có tục ăn trầu của người Việt mà người Trung Hoa
chưa biết đến. Nhấn mạnh điều nầy để thấy rằng trước khi người Trung Hoa đô hộ,
người cổ Việt đă có tổ chức hành chánh riêng, luật pháp và tập tục riêng, nghĩa
là đă có bản sắc văn hóa độc lập. V́ nhà cai trị Tô Định muốn áp đặt mạnh mẽ
chính sách đồng hóa của nhà Hán (202 tr. CN - 220), chẳng những làm mất tự do
của người cổ Việt, mà c̣n xóa bỏ luôn bản sắc văn hóa địa phương, nên mới bị Hai
Bà Trưng nổi dậy đánh đuổi về Tàu.
Gần chín trăm năm cai trị của người
Trung Hoa, từ khi Hai Bà Trưng thất bại năm 43 đến khi Ngô Quyền chiến thắng
quân Nam Hán năm 938, đă đưa đến t́nh trạng ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa quá
nặng nề, chi phối hầu như mọi sinh hoạt xă hội nước Việt, nhất là trong giới trí
thức nho sĩ, kể cả triều đ́nh sau khi Ngô Quyền đứng lên giành lại độc lập,
khiến nhiều người lầm tưởng người cổ Việt chưa có nền văn hóa bản địa độc lập mà
chỉ chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa. Ảnh hưởng Trung Hoa càng đậm nét hơn
khi nhà Minh (Trung Hoa) xâm lăng nước ta lần nữa năm 1407, chẳng những vơ vét
của cải, mà c̣n tịch thu gần như toàn bộ sách vở văn chương, học thuật, tư tưởng
và cả giới trí thức cũng như nghệ nhân người Việt đem về Trung Hoa.(13)
Hai câu chuyện về giấc mơ của bà mẹ
Ngô Quyền và về việc Lê Hoàn mời sứ bộ Trung Hoa ăn trầu trên ḿnh ngựa đồng nói
lên hai ư nghĩa: Thứ nhất, không thể một sớm một chiều mà trầu cau được tôn
trọng đến nỗi nằm mơ mà sinh quư tử, hoặc miếng trầu được đưa vào sinh hoạt
ngoại giao cung đ́nh, do đó việc dùng cau trầu đă rất phổ biến trước đó trong
dân chúng rất lâu, có thể cả hàng ngàn năm mới trở thành một tục lệ trong đời
sống tinh thần quốc gia. Tục lệ nầy rất phổ thông từ triều đ́nh tới nông thôn.
Đám cưới dứt khoát phải có trầu cau. Ngày xưa, ngay cả ở nông thôn, người ta
thách cưới không phải bằng trâu ḅ, mà bằng những buồng cau tức nguyên chùm cau
lớn từ trên cây cắt xuống.
Thứ hai, nghi thức dùng cau trầu
trong ngoại giao chưa có ở Trung Hoa, mà chỉ có ở nước ta. Hành động của Lê Hoàn
ngồi trên ḿnh ngựa mời sứ giả Trung Hoa ăn cau trầu biểu thị tính cách tự chủ
của một quốc gia mới thu hồi độc lập. Tính cách tự chủ nầy c̣n rơ nét hơn khi
nhận chiếu chỉ của vua Tống, Lê Hoàn bưng chiếu chỉ đặt lên điện chứ không chịu
lạy theo tập tục Trung Hoa.(14)
Câu chuyện “trầu cau” trong Lĩnh Nam
chích quái là một câu chuyện hoàn toàn Việt Nam, chứ không phải điển tích Trung
Hoa như thường thấy trong văn chương. Câu chuyện nầy đă bổ túc cho những khám
phá các di chỉ khảo cổ, để một lần nữa khẳng định rằng trước khi người Trung Hoa
(chủng tộc Mông Cổ) và nền văn hóa Trung Hoa tràn vào cổ Việt, th́ tại đây đă có
một nền văn hóa bản địa, với lễ nghi tập tục riêng. Do đó, dầu trong thời gian
gần đây, có tác giả nghi ngờ về sự hiện hữu của Hùng Vương, và cho rằng Hùng
Vương chỉ là một truyền thuyết chứ không có thật trong lịch sử cổ Việt,(15)
nhưng không ai có thể nghi ngờ sự hiện hữu của nền văn hóa bản địa từ thời cổ sử
mà tập tục trầu cau là một ví dụ cụ thể. Nói cách khác, dầu Hùng Vương có hay
không có, nhưng chắc chắn văn hóa bản địa là có thật.
Câu chuyện trầu cau và tập tục nhai
trầu cau tồn tại măi cho đến ngày nay chứng tỏ rằng dầu ngoại xâm cố t́nh làm
tất cả các cách để xóa bỏ, bản sắc văn hóa độc lập địa phương của người Việt
không thể bị văn hóa ngoại lai triệt tiêu. (Bằng chứng sống động nhất là hiện
nay ở hải ngoại, cư ngụ tại những nước văn minh tiến bộ như Canada hoặc Hoa Kỳ,
trong đám cưới của các gia đ́nh Việt Nam, cũng có sự hiện diện của cau trầu.)
Chẳng những thế, qua thời gian, người Việt c̣n uyển chuyển thực hiện cuộc tổng
hợp văn hóa giữa bản địa với Trung Hoa, với các nước khác ở Đông nam Á theo văn
minh Ấn Độ, và với Tây phương (vào thế kỷ 17 trở đi), để h́nh thành nền văn hóa
đa nguyên của dân tộc.
Hiện nay, ở trong nước, đảng Cộng
Sản Việt Nam độc tôn một nhánh văn hóa châu Âu cực đoan là lư thuyết Mác-xít duy
vật và vô thần của Liên Xô, bài xích toàn bộ gia sản văn hóa dân tộc. Việc độc
tôn lư thuyết Mác-xít của cộng sản chẳng những không đốn ngă được nền văn hóa
dân tộc, mà c̣n gây chia rẽ trầm trọng giữa người Việt với người Việt, làm suy
yếu tiềm lực dân tộc Việt, và đẩy đất nước đến chiến tranh, chết chóc, đau
thương và nghèo đói. Muốn đưa đất nước thoát khỏi t́nh trạng bi đát hiện nay,
phải loại bỏ chủ nghĩa Mác xít duy vật vô thần, trở về với văn hóa dân tộc đa
nguyên. Có như thế mới đoàn kết rộng răi tất cả người Việt với nhau, và mới có
thể tạo một sức mạnh tổng lực nội bộ vững bền, nhằm có thể đối phó với những khó
khăn dồn dập đang xảy ra tại đất nước chúng ta ngày nay.
TRẦN GIA PHỤNG
CHÚ THÍCH :
1. Vũ Quỳnh, Kiều Phú, Lĩnh Nam
chích quái, Nxb Văn Học, Hà Nội, 1990, tt. 54-56.
2. Encyclopaedia Britannica, mục
“betel”.
3. World Book Millennium, vần B, tập
2, nxb. World Book, Inc., Chicago năm 2000, mục “betel”.
4. Chữ Nho, trầu là “phù lưu”, cau
là “tân lang”, cũng phát xuất từ các chữ cổ Việt trên đây (Trần Ngọc Thêm, T́m
về bản sắc văn hóa Việt Nam, in lần thứ hai, Nxb. TpHCM, 1997, tr. 384.)
5. Nguyễn Ngọc Chương, Trầu cau Việt
điện thư, Nxb. TpHCN, 1997, tr. 35.
6. Dohamide và Dorohiem, Chiêm Thành
lược sử, Sài G̣n 1965, tt. 21-22.
7. Nguyễn Ngọc Chương, sđd. tt. 36,
323.
8. Hán thư viết rằng: Tô Dục nhà
Ngụy nói: “Phép đặt tên thụy, lúc sinh thời làm được sự nghiệp to tát hay là nhỏ
mọn th́ lúc mất tên thụy cũng theo như vậy. Khi tiên quân chưa có tên thụy, mà
tự quân (vua nối ngôi) đă lên ngôi, kẻ hạ thần xưng hô nên có phân biệt; v́ vậy
gọi là Đại hành”. (Việt sử thông giám cương mục, bản dịch của Nxb. Văn Sử Địa,
Hà Nội 1958, tr. 248.) Trong Nho văn, chữ “hành” cùng một cách viết, có hai âm (hành
và hạnh) và hai nghĩa (đi và đức hạnh): “Đại hành” có nghĩa là đi xa, hoặc c̣n
có nghĩa là có đức hạnh to, có danh lớn. Lê Hoàn không có tên thụy. Khi ông từ
trần năm ất tỵ (1005), con là Long Việt lên nối ngôi. Triều đ́nh lúc đó theo
cách trên, gọi Lê Hoàn là “Đại hành hoàng đế”. Như thế, danh xưng “Đại hành”
đáng lẽ chỉ gọi tạm một thời gian, nhưng v́ sử sách viết luôn thành thói quen
gọi Lê Hoàn là Lê Đại Hành.
9. Nhất Thanh Vũ Văn Khiếu, Đất lề
quê thói (Phong tục Việt Nam), Sài G̣n 1968, Đại Nam, California tái bản không
đề năm, tr. 149. Tác giả nầy trích dẫn sách bằng chữ Nho là Văn hiến thông khảo,
khuyết danh.
10. Đại Việt sử kư toàn thư, bản
dịch của Nxb, Khoa học Xă hội, tập 1, Hà Nội, 1993, tt. 339-340.
11. Đại Việt sử kư toàn thư, sđd. tt..
138, 142.
12. Nguyễn Phương, Việt Nam thời
khai sinh, Viện Đại học Huế, 1995, trích dẫn, tr. 176.
13. Minh Thành Tổ (trị v́ 1403-1424)
ra ba chỉ dụ liên tiếp đề ngày 21-8-1406, 16-6-1407 và 24-6-1407 căn dặn và nhắc
nhở các tướng lănh thi hành chính sách đồng hóa của nhà Minh và tiêu diệt văn
hóa nước Việt. (Phạm Cao Dương “Từ nạn trộm cắp các cổ vật tại Việt Nam đến tham
vọng bá quyền về văn hóa của Trung Quốc”, nguyệt san Thế Kỷ 21, số 130-131,
tháng 2 & 3-2000.)
14. Đại Việt sử kư toàn thư, sđd.
tr. 226.
15. Tiêu biểu cho khuynh hướng nầy
là sách Việt Nam thời khai sinh, của tác giả Nguyễn Phương, đă trích dẫn.
Trần Gia Phụng
. |