HOẰNG PHÁP-LỢI SANH.
Hoằng Pháp thị gia vụ, đó là tiêu điểm cho ngành truyền giáo trong
đạo Phật.Tại sao Hoằng Pháp lợi sanh? Đó là một mệnh đề hay hai mệnh
đề: Hoằng pháp - Lợi sanh?
KINH TẾ:
Từ thời Đức Phật sanh tiền đến thế kỷ 15 sau Tây lịch, Ấn độ nói
riêng và thế giới nói chung, tiềm năng kinh tế nằm trong ḷng đất,
đại dương c̣n dồi dào. Nông nghiệp chưa khai thác hết lợi tức của
đất màu, ngư nghiệp chưa tận thu từ biển cả; Lâm nghiệp c̣n nhiều
hứa hẹn từ núi rừng; Dân số c̣n quá thấp so với diện tích địa cầu.
Đất hoang c̣n trống; nhu cầu tiện nghi chưa cao. Con người gắn liền
với thiên nhiên và muôn thú. Chính v́ thế kinh tế chưa phải là điều
bận tâm của nhân loại.
Xă hội c̣n sinh hoạt đơn lẻ, kinh tế phần lớn tập trung vào doanh
thương, các nhà buôn đường xa trao đổi hàng hóa xuyên qua biên giới.
Các doanh nhân địa phương không phát triển mạnh như hiện nay, bởi
lẽ, ngoài nông nghiệp truyền thống, các ngành nghề khác chưa phát
triển quy mô, mức thu nhập người dân c̣n hạn chế, nhu cầu hưởng thụ
không phổ biến. Tâm hồn con người giản dị và gần gủi với thiên
nhiên; đạo đức nhân cách c̣n coi trọng; Người dân các nước châu Á có
khuynh hướng sùng bái ngẫu tượng. Các tôn giáo cổ nặng về cúng tế,
nhất là tại Ấn độ, chiếc nôi của các Thần linh, tạo cho quần chúng
an phận, an phận kiếp người cũng như an phận giai cấp, đào sâu tính
bất b́nh đẳng trong xă hội mà ngày nay vẫn c̣n một số quốc gia chưa
xóa nḥa
Chính những cám dỗ đời thường là một trong những lực kéo con người
xa rời đạo đức xă hội và đạo đức tâm linh. Như vậy, nhu cầu chính
yếu hiện nay không phải là Đạo đức tín ngưỡng mà là quyền lợi vật
chất. Điều oái oăm, càng phát triển khoa học, nhu cầu càng tăng,
kinh tế các quốc gia lâm vào khủng hoảng. Tuy GDP vững mạnh như Nhật
Bản, thế mà qua cuộc khủng hoảng tài chánh thế giới, năm 2009 tăng
trưởng âm 4.3% và dự đoán 1010 sẽ tăng trưởng âm 1%. Mỹ giảm 5% năm
2008, th́ Việt Nam tăng 0,3%. Phần lớn các quốc gia phải đối đầu với
thiên tai, bạo động, xuất khẩu, biến đổi khí hậu cộng thêm khan
hiếm dầu mỏ va o6 nhie64m mo6i sinh, thu
Trước 1975, miền Nam, một gia đ́nh năm sáu người con là chuyện
thường, việc học hành và đời sống gia đ́nh không bị khủng hoảng. Một
người có thể làm nuôi sống nhiều miệng ăn. Bác phu cyclo làm vài
cuốc, cất xe, về nhậu; nông dân làm một vụ mùa sống cả năm; thầy
giáo nuôi nhiều con ăn học thành tài…thời chiến đă thế, nhưng lúc
đất nước thanh b́nh, cuộc sống lại chật vật; không riêng tại quê
nhà, một số quốc gia đang phát triển cũng chịu chung số phận, chạy
nước rút để kịp theo các quốc gia công nghiệp tiến bộ. Dĩ nhiên dân
số trên tinh cầu gia tăng, một số quốc gia chậm tiến không kiểm soát
được sanh đẻ; đồng bào sắc tộc cũng không ít con trong một gia đ́nh.
Các gia đ́nh Ấn, Nepal, châu Phi…và những quốc gia ảnh hưởng tôn
giáo cấm ngừa và phá thai, không hạn chế việc sinh sản. Đồng bào
miền cao của Việt Nam cũng thế, riêng các thị tứ Việt Nam, gia đ́nh
đông con lắm cũng từ bốn đến ba người, phần lớn là một hoặc hai theo
lời kêu gọi của nhà nước.Việc dân số gia tăng và kinh tế mỗi ngày
một hạn hẹp khi mà mọi tiềm năng đă bị tận dụng.
Thế giới dùng dầu hỏa làm nguồn nhiên liệu chính cho cơ giới và mọi
sinh hoạt xă hội, các nước bắt đầu chạy đua khai thác, một số quốc
gia có trữ lượng dầu khá lớn, liền bị các nước lớn chèn ép, tận
thu hoặc khống chế, v́ thế, dầu trở thành mục tiêu cho các quốc gia
đánh giá sức mạnh về kinh tế của chính ḿnh. Các quốc gia trên đà
phát triển cần tiêu thụ lượng lớn dầu, đă làm nghiêng lệch cán cân
phân bố trên thế giới về nguồn dầu, tạo khủng hoảng kinh tế và tài
chính do giá dầu liên tục tăng nhanh và tác động thị trường trên
nhiều mặt. Như năm 2004, giá dầu tăng trên 55 USD một thùng. Một khi
dầu tăng th́ vàng tăng, ngược lại có khi giá trị ngoại tệ như dollar
lại giảm.Năm 2008, giá dầu tăng 147/USD/thùng, khủng hoảng tài
chính, tín dụng đẩy nền kinh tế thế giới vào cơn suy thoái Tuy
nhiên không hẳn giá nhiên liệu khủng hoảng nhất thiết phải kéo theo
sự khủng hoảng mọi mặt, ví dụ năm 2006, mặc dù giá dầu liên tục biến
động, kinh tế thế giới vẫn được phục hồi và tăng trưởng, châu Á trở
thành biểu tượng trung tâm tăng trưởng kinh tế toàn cầu.Dầu hỏa trở
thành nguồn nhiên liệu chính quyết định sự hưng vong của một quốc
gia phát triển.
Những thế kỷ 19 trở về trước, kinh tế các quốc gia mạnh được đánh
giá bởi thị phần thuộc địa chiếm được, nguồn giao thương hàng hóa và
tăng gia sản xuất; Pháp là một trong những nước bành trướng thuộc
địa mạnh nhất sau đệ nhị thế chiến. Sang thế kỷ 19, Pháp chiếm
Algerie, chiếm Nam kỳ 1867-1874, sau đó Pháp chiếm Bắc kỳ năm 1884,
Trung kỳ 1885 để lập chế độ bảo hộ, đặt chế độ bảo hộ Campuchea năm
1863 thành lập Liêng Bang Đông dương 1887. Trong hai thế kỷ 19-20,
thuộc địa Pháp đứng sau đế quốc Anh. Diện tích thuộc địa Pháp chiếm
12.347.000km2, dân số thuộc quyền cai trị của Pháp là 2.543.000
người lúc bấy giờ.
Anh quốc cũng thống trị quần đảo Turks, Caicos, nam Georgia, nam
Sandwich, quần đảo Pitcairn, Caymon, Falkland,, Montserrat,
Hồngkông…
Trước và sau thế chiến, các cường quốc t́m thị trường bằng cách
thống trị thuộc địa qua tôn giáo và vũ lực.
Măi đến khi thế giới chia làm hai cực: Tư Bản và Cọng sản; Tư bản
phát triển kinh tế theo hướng đại chúng, Cọng sản thiết lập kinh tế
theo hướng tập trung. Lúc bấy giờ kinh tế trở thành trọng điểm phát
triển xă hội; mọi ngành nghề theo đó phát triển, và nhu cầu hưởng
thụ cũng gia tăng.
*
* *
HOẰNG PHÁP
Thưở sinh tiền, Đức Phật chú trọng đến tính giác ngộ và sự b́nh
đẳng.xóa mọi giai cấp và hủ tục lỗi thời, đề cao mọi người đều có
giá trị như nhau, kể cả phụ nữ và trẻ em. Chính v́ thế, sau khi
chứng ngộ, Đức Thích Ca thấy được tính b́nh đẳng trong mỗi chúng
sanh, v́ mê chấp mà có sai biệt nghiệp lực. Suốt 49 năm hoằng hóa,
mục đích của Ngài khai thị cho mọi người thấy được khả năng trí tuệ
của ḿnh hầu chủ động trong cuộc sống.
Sinh hoạt thường ngày của Tăng đoàn, ngoài giờ hóa duyên, Thiền
định, chư Tăng tỏa ra khắp nơi để hoằng truyền chính pháp. Đức Thế
tôn từng bảo – v́ lợi ích cho chúng sanh, quư thầy hăy đi khắp
nơi, không đi hai người một chỗ…
Lợi sanh trong giai đoạn khởi phát truyền bá giáo pháp Đạo Phật là
như vậy. Đức Phật muốn nhân loại khôi phục tánh giác để thấy được
giá trị cao quư của kiếp người. Ngài bảo: Không có giai cấp trong
gịng máu cùng đỏ, nước mắt cùng mặn
Do giới Tăng lữ của Bà La Môn nắm địa vị tế lễ tín ngưỡng cấu kết
với quan quyền, hoạch định ra giai cấp, chia xă hội làm nhiều thứ
bậc ảo tưởng để thống trị xă hội. ( Rig Veda ghi rằng: tu sĩ Bà
La Môn sinh ra từ miệng Thượng Đế, giới lănh đạo và binh sĩ sinh ra
từ đôi bàn tay Ngài, đôi chân sinh ra thương gia, hai bàn chân Ngài
ranh ra tôi tớ cho xă hội.) Qua nhiều ngàn năm như thế, người
dân Ấn tin rằng vị thế trong xă hội của ḿnh đă được an bày, do đó,
chấp nhận một cách an phận bởi truyền thống gia phong. Ngược lại,
Trung Hoa cũng chia xă hội làm bốn giai cấp, nhưng giai cấp ở Trung
Quốc không tùy thuộc gịng tộc mà tùy thuộc ngành nghề trong cuộc
sống, Sĩ-Nông-Công-Thương. Khi mà kinh tế xă hội ổn định th́
vị thế kẻ sĩ được đề cao tôn quư, lúc khủng hoảng gạo cơm th́:
Nhất nông nh́ sĩ ( nhất sĩ nh́ nông, hết gạo chạy rông, nhất
nông nh́ sĩ) Giai cấp trong xă hội Trung Quốc không cố định khi mức
sống và ngành nghề đổi thay.
Do phân định giai cấp mà con người bị đóng khung, an phận trong giai
cấp của ḿnh, không có óc cầu tiến, vượt thoát! Trong xă hội tùy mỗi
thời đại phát sanh thêm những ngành nghề khác nhau, cho dù lao
động chân tay hay lao động trí thức, cho dù doanh thương hay giáo
dục, tất cả đều có giá trị như nhau, không thể đề cao giai cấp nầy,
liệt hạng giai cấp khác để phân hóa xă hội, tạo hận thù tranh đấu
như bầy gà bôi mặt đá nhau.
Hoằng pháp vào thời Đức Phật hiện tiền đem lại lợi ích cho nhân sinh
bằng cách khôi phục giá trị tuyệt đối đời người mà không c̣n tùy
thuộc sâu nặng bởi Thần linh.
Ấn Độ không có khuynh hướng hưởng thụ, xem cuộc sống là cỏi tạm, họ
chú hướng về tâm linh, nhưng một loại tâm linh nô lệ hóa bởi tha
lực. Đây là sự khác biệt giữa Phật giáo và các tôn giáo tại Ấn. Có
những người chưa nắm vững giáo lư đạo Phật, vội cho Đức Phật cóp
nhặt tư tưởng của Bà La Môn giáo; nhưng xét kỷ, hai hệ tư tưởng
hoàn toàn cách biệt; Vệ đà, một học thuyết h́nh thành khá sớm do nền
văn minh của Aryans từ Trung Á truyền sang. Bấy giờ Vệ Đà có bốn
lănh vực: Rig Vệ Đà, đề cao sự hiểu biết, Yajur Veda chú trọng về
tế tự, Samma Veda thiên về mật chú thi ca, và một loại Veda học giả
chuyên nghiên cứu nội điển. Cho dù lănh vực nào, người ta vẫn chấp
nhận có một đấng sáng tạo. Người thờ lửa th́ tin thần lửa lả chủ tể
cuộc sống, đất, nước, gió cũng vậy đều là những vị thần chủ quản mà
tín đồ tuyệt đối tin tưởng. Phật giáo không đề cập đến đấng hóa
sinh, không chấp nhận bốn giai cấp mà những tôn giáo có trước đă
phân định. Tính b́nh đẳng và tự giác của Phật giáo đă san bằng mọi
bất công trong nền tín ngưỡng đương thời. Đây là nét cá biệt độc đáo
từ tinh thần cách mạng của Đức Phật. Chính v́ sự quan trọng cần phải
giải phóng sự nô lệ đức tin để đưa con người lên vị trí chủ thể,
Phật giáo xem việc Hoằng Pháp đem lại lợi ích cho nhân sinh là điều
tối cần: HOẰNG PHÁP LỢI SINH
Qua nhiều thế kỷ, Phật giáo truyền sang nhiều quốc gia, trong đó có
những quốc gia nặng về vật chất, lấy lợi nhuận làm cứu cánh, lấy
hưởng thụ làm hạnh phúc, dùng tiện nghi làm thước đo sung túc, xem
danh lợi địa vị khoa bảng làm thước đo thành đạt.Tiếp tục đẩy xa giá
trị cơ bản của con người ra khỏi ư thức thăng hoa.Với kinh nghiệm
thực dụng đó, các tôn giáo phương Tây, từ tổ chức nội bộ đến sinh
hoạt cộng đồng tín hữu, đều liên kết vật chất song hành với đời sống
tín ngưỡng. Một linh mục quản xứ được hưởng những quyền lợi như một
cán bộ nhà nước, có cả chế độ hưu bổng do giáo hội quy định. Tín đồ
có quyền làm giàu mà không mang mặc cảm tham đắm vật chất như một
tín đồ Phật giáo. Giáo hội Kito có ngân hàng và tích lũy tài sản.
Một tu sĩ cũng như tín đồ Kito giáo vừa có dức tin vừa có quyền
hưởng thụ mọi phong phú vật chất. Thệ Phản giáo, sau khi tách khỏi
Vatican, cải cách tín điều, phương pháp hành tŕ, kể cả phương pháp
truyền bá. Mặc dù Anh Quốc xem như thủ phủ của Thệ Phản giáo, nhưng
Mỹ là mănh đất màu mỡ để trên 250 giáo phái Tin Lành song hành với
quân đội phát triển đến các quốc gia tham chiến, như Vatican từng là
bóng với h́nh bên quân đội viễn chinh Pháp tại Đông Dương. Và sau
khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt,từ 1990, Tin lành giáo ồ ạt xâm
nhập một cách linh hoạt vào Việt Nam qua ngă Lao động xuất khẩu,
những thuyền nhân và công nhân làm thuê các nước, đă được Tin Lành
giúp đỡ bước đầu, biến họ thành những người truyền giáo đắc lực sau
khi hồi hương. Dĩ nhiên vật chất là phương tiện dễ dàng cho việc cấy
hạt giống đức tin vào cộng đồng nghèo khó. Ông bà thường bảo:
Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn. Các công nhân trong nước,
họ sẳn sàng hổ trợ thêm một suất tiền tương đương lương mỗi tháng
nếu chấp nhận gia nhập Hội Thánh. Nơi miền cao, miền sâu và khu phố
nghèo thiếu, họ luôn có mặt giúp đỡ vật chất. Ngay cả tu sĩ Phật
giáo như Huệ Nhật, cũng do sự giúp đỡ bước đầu khi ra khỏi tù, Huệ
Nhật đă biến thành Mục sư không cần đắn đo suy nghĩ, bởi v́ , theo
Huệ Nhật, ông ta đă được ơn kêu gọi của Chúa, nhưng thật ra đương sự
đă được ơn chiếu cố bởi tài chánh đi trước! Tại Metro supermarket ở
Q.12, một nhóm thanh niên công khai truyền bá đức tin giữa chợ, kèm
theo những hứa hẹn về lợi dưỡng, họ ca ngợi Thượng đế một cách cuồng
nhiệt. Họ có quyền quảng cáo tôn giáo của họ, cho dù quảng cáo theo
cách ḿ ăn liền. Điều chúng ta muốn nói là họ rất thực dụng, vật
chất và đức tin song hành, chứ không quá lư tưởng như Phật giáo, đem
những giáo lư cao siêu nói với những người đang thiếu gạo cơm.
Như thế, các tôn giáo trong những quốc gia phát triển đă ư thức được
tính thực dụng vào công cuộc truyền bá, họ đă thành công khá dễ dàng
trong các quốc gia nghèo và tŕnh độ thấp. Một số quần chúng Phật
tử, cũng chấp nhận phương pháp nầy để gửi gấm niềm tin trong quyền
lợi.
LỢI SINH HOẰNG PHÁP
Sau năm 1975, số lượng tín đồ Phật giáo không phát triển bao nhiêu
nếu không nói bị thất thoát, Phật giáo không có bản thống kê hàng
năm về số lượng tín đồ phát triển và tín đồ bỏ đạo, trong khi đó
Thiên Chúa giáo tại Việt Nam tăng 5%, Tin Lành kể cả 20 giáo phái
đang có mặt tăng 15%. Thiên Chua Giáo tuy phát triển chậm nhưng vững
chắc. Tin Lành tuy ồ ạt phát triển nhưng căn bản giáo lư, tín điều
không thấm sâu vào tín hữu; trong khi đó, ngành Hoằng pháp của
GHPGVN sinh hoạt nặng về h́nh thức. Các khóa giảng sư và bồi dưỡng
giảng sư thường làm theo quán tính, không đào sâu phương thức hoằng
pháp, nghệ thuật hoằng pháp, đối tượng hoằng pháp và chỉ tiêu hoằng
pháp. Những bài giảng chung chung giữa một đại chúng có quá nhiều
tŕnh độ khác nhau, chẳng khác nào vung văi hạt giống trên thửa đất,
có cả cỏ, đá, rác rếnh… không cần biết kết quả ra sao, để sau khi ra
về, không ai c̣n nhớ được điều ǵ đă nghe. Vị giảng sư xem như đă
hoàn thành nhiệm vụ Hoằng pháp.
Đă từ lâu, Phật giáo vẫn hoằng pháp theo kiểu truyền thống cầu may
mà không nhắm đến hiệu quả cần phải đạt được. Ban Hoằng pháp nói
chung và vị giảng sư nói riêng, chỉ thuyết giảng nơi nào đă có Phật
tử và đạo tràng đó đă huy động Phật tử đến nghe. Với số Phật tử của
một đạo tràng nào đó, không cần phải thuyết pháp theo lối chung
chung mà phải có lớp bồi dưỡng giáo lư theo từng tŕnh độ. Phật giáo
chưa chủ động đi thẳng vào cộng đồng dân cư chưa hiểu đạo, cộng đồng
như thế họ mới cần công tác hoằng pháp của các giảng sư; Phật tử các
chùa họ chỉ cần những khóa tu và giáo lư căn bản.
Việc Hoằng pháp đến cộng đồng dân cư, hay nói cách khác, Phật giáo
đi vào xă hội, không thể không chú ư đến những nhu cầu cần thiết
của người dân. Nói như thế, có thể những vị bảo thủ cho rằng, Phật
giáo là Phật giáo, không như các tôn giáo khác, không cần chiêu dụ.
Đây là vấn đề đáp ứng nhu cầu, giải quyết những nhu cầu tối thiểu
trước khi cho họ nghe giáo lư. Nghĩa là chúng ta phải đem đến vật
chất lẫn tinh thần cho người nghe. Không ai có thể ngồi nghe pháp mà
bụng đói và gia đ́nh đang thiếu ăn.
Có vị lại hỏi – quư thầy đều sống nhờ vào sự cúng dường của bá tánh
th́ lấy đâu để quư thầy giúp đỡ những kẻ thiếu ăn? Chúng ta giúp cần
câu chứ không chỉ cho con cá, nghĩa là, Phật giáo không chỉ biết đem
lư thuyết đến cho người dân mà c̣n phải biết ḥa nhập vào xă hội qua
nhiều lĩnh vực cụ thể. Vệ sinh thường thức, kỷ thuật gieo trồng,
kiến thức môi sinh, hạnh phúc hôn nhân, giáo dục trẻ con, kinh tế
tài chánh, quản trị, tổ chức, huấn nghệ…Một quan niệm ăn sâu vào
cộng đồng Phật giáo là người biết tu không cần làm giàu, không lo
huởng thụ, không thiết vật chất, v́ vậy họ bảo an bần lạc đạo!
Chúng ta phân biệt rơ hai lănh vực, một bộ phận chuyên tu, không bận
tâm đến vật chất để tâm hồn thanh thoát chú tâm vào đạo lực. Một bộ
phần hoằng pháp, c̣n phải giao tiếp với xă hội, c̣n phải cần đến
những phương tiện sống và phương tiện truyền bá, v́ thế, bộ phận nầy
phải trang bị kiến thức tổng quan cho một giảng sư, hoặc một chuyên
viên mà không đ̣i hỏi ở một tu sĩ, có thể là một tín đồ, giúp giảng
sư hổ trợ cho quần chúng những nhu cầu của họ. khuynh hướng xă hội
của Hoằng pháp không phải là khuynh hướng đem của cải vật chất để
lót đường cho việc truyền bá mà phải là khuynh hướng xây dựng xă hội
song hành với việc pháp thí.
Gần đây, một nhóm độ 30 sinh viên và cựu sinh viên Vạn Hạnh, trẻ,
khóa 5, khóa 6, thành lập nhóm hoằng pháp thiện nguyện, giúp một số
chùa mở các khóa tu, hướng dẫn trẻ con sinh hoạt cộng đồng, tại một
số vùng xa, các tỉnh lỵ. Nhóm nầy sinh hoạt theo nhiệt tâm của tuổi
trẻ mà chưa có một phương án bảo vệ sự tồn tại độc lập vừa lâu vừa
dài cho nhóm để không bị tùy thuộc vào kinh tế và bị chi phối bởi
kinh phí mỗi lần công tác xa. Ngoài công việc tạo sinh khí cho những
khóa tu hoặc sinh hoạt với trẻ con, nhóm nầy vẫn chưa giúp cho người
dân về kiến thức phổ thông trong đời sống như vệ sinh, môi trường,
hoặc khích lệ phát triển sinh kế; nhóm nầy cũng chỉ đến với cộng
đồng phật tử có sẳn ở các chùa mà chưa chủ động đi thẳng vào quần
chúng chưa có đạo; dẫu sao, với thiện chí của tuổi trẻ như thế,
không được Giáo hội đào tạo cho nghiệp vụ hoằng pháp và hổ trợ
phương tiện tài chánh, đă lăn xả vào đời, là một việc cần tán thán
và c̣n cần phải bổ túc thêm những khiếm khuyết!
Sinh hoạt xă hội cũng như đề án kinh doanh của thế gian, trong một
tổ chức, phải hướng đến mục đích, có chỉ tiêu và có thời hạn nhất
định, để từ đó rút tỉa kinh nghiệm cho một chu kỳ mới, không thể làm
có lệ, được chăng hay chớ. Xă hội ngày nay là xă hội cạnh tranh, kể
cả tôn giáo, nếu thụ động là tự ḿnh rút lui khỏi sân chơi, an phận
là dẫm chân tại chỗ. An bần lạc đạo không có nghĩa ḿnh phải nghèo
mới sống vui với đạo. Đức Phật không cấm chúng ta làm giàu, chỉ cấm
làm giàu bất chính thiếu đạo đức mà thôi. Và cấm hưởng thụ quá mức
nhu cầu, v́ cần phải chia xẻ với đồng loại. Nếu an phận và nghèo th́
lấy ǵ bố thí giúp đỡ kẻ khốn cùng hoạn nạn tai ương? Tam thường bất
túc là những nhu cầu của một hành giả không quá thừa mứa, vừa đủ
hoặc thiếu chút ít để khỏi sanh tâm tham luyến chứ đâu phải không có
quyền làm ra tiền. Làm giàu không có nghĩa không an bần. Làm giàu
để có điều kiện giúp đỡ xă hội, an bần là kiểm soát nhu cầu cá nhân
.
Chính v́ thế, Hoằng pháp ngoài trang bị kiến thức giáo lư, tŕnh độ
và nghệ thuật diễn giảng trên pháp ṭa, mà c̣n có nghệ thuật ḥa
nhập quần chúng, thích nghi với đối tượng, có nội dung thích ứng với
đối tượng và lắng nghe nhu cầu cũng như tâm tư của đối tượng, điều
nầy đ̣i hỏi người hoằng pháp phải có lư tưởng xă hội, và khi nhập
cuộc hành sự, phải có định mức và thời lượng để đánh giá kết quả hầu
rút kinh nghiệm cho việc làm tiếp theo, chứ không làm theo tùy hứng
và vụ mùa.
Phật giáo ngày nay có khuynh hướng Từ Thiện xă hội rất cao, nếu
Hoằng pháp biết kết hợp với các sinh hoạt Từ Thiện như thế, sẽ có
kết quả tốt hơn. Các tôn giáo bạn cứu trợ thiên tai, bố thí chẩn
bần, thường khoanh vùng, hạn chế trong giáo dân, ngược lại, với tinh
thần từ bi của Phật giáo, các đoàn từ thiện vào bất cứ nơi nào có
nhu cầu, không phân biệt lương giáo; Làm một cách vô tư để hoàn
thành hạnh nguyện Bồ tát mà không cần biết kết quả thế nào. Dĩ nhiên
cái nghèo cái đói là bệnh trầm kha, cứu trợ chỉ là giai đoạn nhất
thời, công việc như thế chỉ là muối bỏ biển. Ích ǵ khi mỗi hộ được
vài kư gạo và vài phẩm vật chi dụng trong ít hôm mà người nhận họ
không cần biết của ai và họ có lợi ích ǵ sau những phẩm vật đó. Tôn
giáo bạn có lư khi dùng những món quà cứu trợ làm điều kiện để
truyền bá tín ngưỡng. Phật giáo không lợi dụng vật chất để khống chế
tâm linh người thọ nhận; Người làm từ thiện quên rằng nếu món quà ít
ỏi đến với một người, biết kèm theo lời khuyên về đạo đức, lợi ích
đó lớn hơn và công việc từ thiện sẽ giá trị hơn. Lâu nay các đoàn
từ thiện của Phật giáo làm công tác văi thực phẩm xuống biển mà
không cần biết dưới nước có những ǵ và loại thủy tộc nào cần thứ
ǵ!
Làm phải biết mục đích và đối tượng, phải nắm được kết quả ít nhất
trên 50%, không phải có lợi cho Phật giáo thêm được tín đồ mà có lợi
cho người thọ nhận có thêm đạo đức, từ thiện như thế mới đủ ư nghĩa.
Đài Loan và Nam Triều Tiên, tu sĩ đă thực hiện và áp dụng được Lợi
Sinh để Hoằng pháp. Phật giáo không chủ động đi t́m tín đồ nhưng
khi trở thành tín đồ, người Phật tử không được các sư giúp ǵ về
những mấu chốt trong cuộc sống ngoài lời khuyên từ bi, thương người,
bố thí, nhẫn nhục…Một cặp hôn nhân trẻ cần sự hướng dẫn về bảo vệ
hạnh phúc gia đ́nh.; Một doanh nghiệp thành công cần sự giáo dục đạo
đức nghiệp vụ; một thương gia cần sự cố vấn tính trung thực từ vị
thầy; người làm kinh tế cần Phật giáo hổ trợ về kiến thức, kế hoạch
và sự tương trợ trong cộng đồng Phật tử…Nghĩa là lư tưởng xă hội
phải có trong lư tưởng hoằng pháp, bởi v́, Phật pháp tại thế
gian, bất ly thế gian giác; Thế gian pháp tức là Phật pháp. V́
thế, không thể bảo người tu không dính vào đời sống thế gian, chỉ
biết thọ nhận mà không lăn xả hy sinh. Chỉ thụ động mà không năng
động. Tinh thần Phật giáo là tinh thần năng động chứ không thụ
động.
Như vậy, Hoằng Pháp Lợi sinh của những thế kỷ kinh tế c̣n dồi
dào, đất rộng người thưa, nhu cầu vật chất chưa cấp thiết. Ngày nay,
mọi vấn vấn đề trong cuộc sống đều đảo ngược th́ Lợi Sinh để
Hoằng Pháp cũng là việc cần xét đến, nhất là tại xă hội c̣n
nghèo như Việt Nam chúng ta, một sân chơi đang được cạnh tranh khá
mạnh của những tổ chức tôn giáo khá vững và rất linh hoạt. Lợi sinh
cả vật chất lẫn tâm linh.
MINH MẪN
30/01/10