Vấn đề
ẩm thực trong đạo Phật
Sanjivaputta.
"Are you herbivore or carnivore?". England, 1992
Tỳ kheo Thiện Minh dịch Việt
Lời giới
thiệu
Mạnh Tử nói "Kiếm kư sanh
bất nhẩn thực kỳ nhục", nên "Quân tử bất nhập trú pḥng". Tuy có quan niệm
như vậy, nhưng các nhà Nho đâu có ăn chay, có lẽ gần giống quan điểm "Tam
Tịnh Nhục" của Phật giáo?
Thành thật mà nói: tục lệ
ăn chay do các tu sĩ Phật giáo về sau xu hướng theo Bà La Môn (Ấn Độ giáo) ở
Ấn Độ và Đạo Tiên ở Trung Quốc để dễ thu hút tín đồ của họ, như ngài Huệ
Năng nói:
"Muốn toan lo độ thế
Phương tiện phải sẵn sàng]
Chớ để người nghi hoặc
Tánh họ mới minh quang"
Gịng Thiền Tào Khê Trung
Quốc và gịng Thiền Trúc Lâm Việt Nam, các vị tổ cũng không quá cố chấp tập
quán ăn chay. Một số nước Phật giáo Đại Thừa như Mông Cổ, Triều Tiên, Nhật
Bổn v.v...họ cũng không bảo thủ tục ăn chay, với họ th́ "quân tử ưu
đạo bất ưu thực" cũng như người Việt Nam thường nói "ăn để
sống chớ không phải sống để ăn"; hay là "tham lam sân hận không chừa,
bo bo mà giữ tương dưa ít ǵ!"; hoặc "uổng ngật mê chay nan liễu đạo, khống
đồ xướng niệm đạo nan thành!"
Riêng tôi th́ "không chê đồ
chay, nhưng không chấp nhận thành kiến ăn chay", có lẽ ảnh hưởng tinh thần
Bát nhă "cá thịt nhưng không phải là cá thịt" (nếu lúc ăn có chánh niệm tỉnh
giác, thấy các vật thực vốn là nguyên chất đất, nước, lửa, gió...), "tuy
không phải cá thịt nhưng là cá thịt" (bởi khi ăn các món chay mà h́nh thức
lẫn tên gọi đều là đồ mặn như thịt quay, cá kho v.v...đồ chay mà tâm mặn).
V́ vậy mới bị người ta phê b́nh là "ăn mặn nói ngay, ăn chay nói dối"
Soạn giả cũng như dịch giả
tập sách này chắc chắn không có ư chỉ trích, xuyên tạc người ăn chay, chỉ
muốn biện minh vấn đề ăn chay không phải là một trong tám muôn bốn ngàn Pháp
môn của đức Phật Gotama mà chỉ là "giáo ngoại biệt truyền" thôi!
Với tinh thần phá chấp, tôi
xin trân trọng giới thiệu tập sách "Vấn đề ẩm thực trong Phật giáo" do Tỳ
Kheo Thích Thiện Minh dịch, đến chư Phật tử đọc và suy gẩm.
Biên Ḥa ngày 20-6-99
Thượng Tọa Giác Chánh
Trưởng Ban Văn Hóa Phật Giáo, Tỉnh Hội Đồng Nai
-oOo-
http://www.buddhismtoday.com/viet/anchay/001-amthuc.htm
Ăn chay, ăn mặn
Đại đức Thích Trí Siêu
Giới thiệu: Đại đức Thích Trí Siêu là một tu sĩ người Việt. Đại đức
nhập chúng tu học tại Tự viện Linh Sơn, Paris, và thọ Cụ túc giới với Ḥa
thượng Thích Huyền Vi. Mặc dù xuất thân từ Bắc Tông, Đại đức vẫn thích tầm
sư học đạo, không ngần ngại du phương tham vấn học hỏi với các thầy thuộc
nhiều truyền thống khác. Bài nầy được trích từ quyển "Đạo ǵ", xuất bản năm
1996.
-ooOoo-
Trong một chuyến hành hương sang Ấn Độ, trên máy bay vào giờ ăn có vài vị Sư
Nam Tông ăn thịt do chiêu đăi viên đưa tới. Thấy thế vài Phật tử Việt Nam x́
xào với nhau: "Mấy ông Thầy này tu hành kiểu ǵ mà ăn mặn, không biết từ bi
chỗ nào!".
Một dịp khác, có một Thầy Việt Nam đi cùng với Phật tử đến viếng thăm một
trung tâm Phật Giáo Tây Tạng. Không biết Thầy này thơ thẩn làm sao mà lại đi
ngang nhà bếp thấy họ đang xào nấu thịt ḅ, trở ra nói với Phật tử: "Trời ơi,
ở đây họ ăn thịt!".
Quan niệm của đa số Phật tử Việt Nam là người tu hành không được ăn thịt,
nếu ăn thịt th́ không phải kẻ tu hành. Trong khi đó Phật tử các nước Nam
Tông khi nh́n vào người tu hành Bắc Tông th́ họ nói: "Tu hành ǵ mà lại ăn
chiều, không giữ đúng giới luật của Phật!". Khi thấy quư Thầy ăn chay, họ
hỏi: "Bộ quư Thầy theo Đề Bà Đạt Đa hay sao?". Nếu không may, Thầy nào thành
thật trả lời: "Truyền thống chúng tôi tu hành phải ăn chay" th́ họ bẻ lại
ngay: "Trâu ngựa kia ăn chay ăn cỏ, vậy chúng cũng tu hành sao?".
Người ăn chay th́ hănh diện cho ḿnh tu thật. C̣n người ăn mặn nhưng ngày ăn
một bữa th́ cho ḿnh tu đúng lời Phật dạy.
Là du Tăng có dịp lang thang qua các Tu-Viện không phải truyền thống Việt
Nam nên tôi thông cảm, không bênh bên nào cả. Tôi chỉ nói về kinh nghiệm cá
nhân của ḿnh để bạn đọc tùy ư lựa chọn.
Trước hết, trở về ḍng lịch sử. Xưa kia đức Phật và chư Tăng đi khất thực,
ai cho ǵ th́ các ngài ăn cái đó, không đ̣i hỏi phân biệt chay mặn. Trong bộ
Mahavagga có vài giới cấm Tỳ Kheo không được ăn thịt của một số loài vật
như: voi, ngựa, sư tử, rắn và chó. Như thế có nghĩa là được quyền ăn những
loại thịt khác. Khi đi khất thực, Tỳ Kheo được phép ăn năm thứ thịt, gọi là
ngũ tịnh nhục:
1. Thịt ăn mà không thấy người giết.
2. Thịt ăn mà ḿnh không nghe tiếng của con vật kêu la.
3. Thịt ăn mà ḿnh không nghi người ta giết v́ ḿnh và cho ḿnh ăn.
4. Thịt của con thú tự chết.
5. Thịt của con thú khác ăn c̣n dư.
Cũng cần thông cảm là khi
đi xin ăn, một vị khất sĩ không thể nào đ̣i hỏi thí chủ phải cúng cho ḿnh
thứ này thứ kia theo khẩu vị và ư thích của ḿnh được. Hơn nữa khi đi khất
thực, nhiều khi phải đi đến những làng mạc xa xôi hẻo lánh nơi mà thí chủ đa
số không phải là Phật tử.
Khi đi khất thực, ai cho ǵ ḿnh ăn cái nấy, đây là một phương pháp tu hành
rất hay, nó tập cho ta bỏ tánh ham ăn ngon, ăn nhiều, bỏ tánh đ̣i hỏi cao
lương mỹ vị, tăng trưởng hạnh tri túc và tánh b́nh đẳng. Điển h́nh là Đại
Đức Pindola Bharadvaja (Tân-Đầu-Lô Phả-La-Đọa) đă thản nhiên ăn ngón tay của
một người cùi rụng rơi vào b́nh bát của ngài, khi người này cúng dường vật
thực. Ở trường hợp này ta thấy việc ăn chay hay ăn mặn không c̣n là một vấn
đề nữa. Ngoài ra trong giới Pratimoksha (Ba-la-đề-mộc-xoa) của Tỳ kheo, dù
là 227 giới của Tiểu Thừa hay 250 giới của Đại Thừa đều không có giới nào
cấm ăn thịt cả. Do đó một Tỳ Kheo ăn thịt lạt hay thịt mặn, không thể bị xem
là phạm giới được.
"Ăn mặn nói ngay, hơn ăn chay nói dối". Câu này không có nghĩa khuyên người
nên ăn mặn mà cốt cảnh tỉnh người ăn chay. V́ có nhiều người ăn chay dễ dàng
nên sinh ḷng kiêu mạn, tự cho ḿnh hơn người rồi khinh người ăn mặn. Hoặc
có người mới bước vào Đạo đă ăn chay trường ngay, cốt để người khác khen
ngợi. Ăn chay như vậy là do ḷng háo danh mà ra.
Tại sao Phật tử Đại Thừa lại có giới ăn chay? Trong hai kinh Đại Thừa: Lăng
Già và Đại Bát Niết Bàn, đức Phật dạy đệ tử không được ăn thịt cá. Đại ư
tŕnh độ chư Tỳ Kheo lúc ban đầu c̣n thấp kém, chưa có thể lănh thọ giáo
pháp Đại Thừa nên Phật nói pháp Tiểu Thừa, phương tiện cho các Thầy dùng ngũ
tịnh nhục. Sau này tŕnh độ các Thầy khá hơn, lănh thọ được pháp Đại Thừa
nên Như Lai cấm tuyệt không cho ăn thịt cá nữa. Nếu c̣n ăn các thứ ấy th́
c̣n phạm giới sát sinh, không trực tiếp th́ cũng gián tiếp sát sinh, làm mất
hạt giống từ bi. Sau nữa Đại Thừa có kinh Phạm Vơng nói về Bồ Tát giới: gồm
10 giới trọng và 48 giới khinh, trong đó giới khinh thứ 3 cấm ăn thịt. Bởi
thế người nào thọ giới Bồ Tát phải trường trai.
Gần đây năm 1987, Thượng Tọa Đức Niệm soạn dịch quyển Tại Gia Bồ Tát Giới,
gồm 6 giới trọng và 28 giới khinh, trong đó không bắt phải trường trai nữa
mà phải giữ ít nhất 6 ngày chay trong một tháng (giới khinh thứ 7).
Nếu ta thích ăn chay v́
ḷng từ bi hoặc giữ giới Bồ Tát th́ ta cứ việc ăn chay, nhưng đừng nên chỉ
trích coi thường người ăn mặn, v́ họ cũng có lư của họ.
Ngoài ra vào thời đức Phật, Đề Bà Đạt Đa đă yêu cầu Phật ban hành thêm năm
điều sau đây trong giới luật của hàng xuất gia:
1. Tỳ Kheo phải sống trọn đời trong rừng.
2. Tỳ Kheo phải sống đời du phương hành khất.
3. Tỳ Kheo phải đắp y Pamsakula (y may bằng những mảnh vải lượm ở đống rác
hoặc nghĩa địa).
4. Tỳ Kheo phải sống dưới gốc cây.
5. Tỳ Kheo phải ăn chay suốt đời.
Với ḷng từ bi và đức khoan dung, đức Phật tuyên bố rằng các đệ tử của ngài
được tự do hành động về năm điều này, muốn áp dụng hay không cũng được. Ngài
không bắt buộc phải theo chiều nào nhất định.
V́ lư do này nên khi thấy quư Thầy ăn chay, các Sư Nam Tông mới nói: "Bộ quư
Thầy theo Đề Bà Đạt Đa hay sao?".
Nên biết ngày nay chỉ có chư Tăng Việt Nam, Trung Hoa và Đại Hàn là c̣n
truyền thống ăn chay, các nước khác đều ăn mặn. Nhất là Tây Tạng, không
những ăn thịt mà lại ăn cả ba bữa nữa.
Trong giới Bồ Tát của Tây
Tạng gồm 18 giới trọng và 64 giới khinh, không có giới nào cấm ăn thịt cả.
Tôi đă thọ giới này với Ganden Tripa Rinpoché thứ 98 tại Institut
Vajrayogini trong dịp lễ Điểm Đạo Yamantaka Tantra năm 1987. Cùng lúc ấy tôi
cũng thọ giới Kim Cang Thừa gồm 14 giới trọng và 10 giới khinh. Trong 24
giới này cũng không có giới cấm ăn thịt. Bởi vậy chư Tăng và các Lạt Ma Tây
Tạng ăn thịt như thường, nhất là thịt Yak (một loại ḅ núi rất to).
Một lần trong buổi thuyết pháp của Thrangou Rinpoché (một vị Lạt Ma cao cấp
của phái Kagyupa), có người hỏi: "Tại sao các Sư Tây Tạng không ăn chay?".
Thrangou Rinpoché trả lời: "Dân Tây Tạng giết một con Yak nuôi được 10 người
trong một tháng, trong khi đó nếu rửa và nấu một bó cải làm chết biết bao
côn trùng sâu bọ mà chỉ nuôi được một người trong một bữa. Vậy th́ cái nào
lợi và ai sát sinh nhiều hơn?".
Không biết bạn đọc có đồng ư không? Nhưng theo tôi câu trả lời của Thrangou
Rinpoché cũng chỉ là một lối biện hộ cho người ăn thịt mà thôi. Ta có thể
tranh luận măi về vấn đề này, v́ người ăn thịt sẽ có lư lẽ của người ăn thịt
và người ăn chay cũng có lư lẽ của người ăn chay. Không ai chịu thua ai! Tu
hành đâu phải để ăn thua đủ với nhau để dành phần thắng về ḿnh!
Như vậy, ăn chay hay ăn mặn cái đó tùy ư bạn. Nhưng nếu là người muốn tu
hành th́ chắc bạn sẽ đồng ư với tôi rằng chúng ta ăn để sống chứ không phải
sống để mà ăn. Ăn để nuôi thân, cho thân có sức khỏe để tu hành, hoặc nếu
không tu th́ cũng làm sao tránh khỏi bệnh tật, sống đời an vui.
Có câu "bệnh tùng khẩu nhập, họa tùng khẩu xuất", có nghĩa là mọi căn bệnh
đều vào từ miệng và mọi tai họa đều từ miệng mà ra. Con người có hai phần:
thể xác và tinh thần. Người đời thường chỉ lo cho thể xác, c̣n người tu lo
tinh thần. Có nhiều người tu ăn chay chỉ ăn rau luộc chấm nước tương v́ cho
rằng việc ăn uống không quan trọng, việc tu niệm quan trọng hơn. Sau một
thời gian cơ thể thiếu sinh tố dinh dưỡng, bệnh hoạn đủ thứ, lúc đó liền đổ
thừa tại "nghiệp"! Tôi thấy cái đó đúng là tại nghiệp, nghiệp vô minh không
biết ăn uống đúng với luật dưỡng sinh. Thân thể ví như chiếc bè để qua sông
sinh tử đến bờ Niết Bàn. Muốn qua sông mà không săn sóc chiếc bè, để bè mục
nát, chưa đến giữa ḍng bè đă tan ră, như vậy có đến được bờ bên kia không?
Ăn chay là điều rất tốt nhưng nên ăn chay một cách thông minh. Những hành
giả Yogi Ấn Độ ăn uống rất kỹ lưỡng. Họ chia thức ăn theo ba loại: tamasique,
rajasique và sattvique.
Thức ăn Tamasique là những loại có tính chất làm hại cơ thể tiêu hao nguyên
lực và làm tâm trí hôn ám đần độn. Đó là thức ăn thiu chua hoặc quá chín,
thịt cá, hành tỏi, rượu, thuốc lá, thuốc phiện, đồ hộp, đồ đông lạnh, v.v...
Ăn quá no cũng được xem là Tamasique. Hành giả Yogi tuyệt đối tránh ăn những
loại thức ăn này.
Rajasique là những loại kích thích cơ thể, tâm trí và cảm xúc. Nó kích thích
luôn cả đam mê và làm mất tự chủ. Hành giả Yogi cố tránh những thứ này càng
nhiều càng tốt. Đó là trứng, cà phê, trà, đồ gia vị mạnh, quá chua, quá đắng,
đường trắng, bột trắng, đồ hóa học, v.v... Ăn quá nhanh hoặc ăn nhiều thứ
trộn lẫn cũng được xem là rajasique. Người tu thiền ăn những thứ này dễ bị
loạn tưởng chi phối.
Sattvique là loại thức ăn bổ dưỡng cho cơ thể, đầy đủ sinh tố, dễ tiêu, giúp
cho tâm trí bén nhạy, sáng suốt và vắng lặng. Đây là thức ăn chính của hành
giả Yogi, gồm ngũ cốc, hoa quả, rau cải tươi, bơ, sữa, fromage, đậu hạt, mật
ong, nước trái cây, nước suối, v.v...
Người ăn chay nên ăn những thức ăn Sattvique, nhưng cũng phải biết ăn theo
thời tiết bốn mùa, tùy theo phong thổ và tạng âm dương.
Trích: "Đạo ǵ?", Thích Trí Siêu, Pháp quốc (1996)