
Việc hồi
hương 20 vạn hài cốt quân Tàu ở g̣ Đống Đa
Trần Nhu
Trước hết, mời bạn đọc t́m hiểu qua
về địa lư nước ta và khu vực thủ đô Thăng Long.
Thư tịch cổ về địa lư học của Việt Nam từ đời Lư
nước ta đă có sách “Nam Bắc phiên giới địa đồ,
ghi h́nh thể núi sông phong vật” đời Lư Anh
Tông. Tiếc là từ lâu đă thất truyền. Vị trí mở đầu
các tác phẩm “địa lư học Việt Nam Thực Lục
mở đầu từ Địa Dư Chí” của Nguyễn Trăi.
Đời Lê Thánh Tông có hai đợt phân định địa giới, sửa
đổi địa danh: năm Quang Thuận thứ 10 (1469), chia cả
nước làm 12 thừa tuyên, năm Hồng Đức thứ 21 (1490),
đổi chia làm 13 xứ thừa tuyên.
Đến năm Đinh hợi, nhằm niên hiệu Cảnh Hưng thứ 28
(1767) trong tập Quốc Sử Quan Hàn Lâm Viện, Học Sĩ
Lê Quí Đôn tham gia biên soạn, th́ địa đồ nước ta:
“Phía đông nam đến tận
biển, phía đông đến Châu Khâm Châu Liêm, phía bắc
tiếp liền với Quảng tây, phía tây tiếp liền với Vân
Nam, phía tây bắc vượt đến ranh giới Vân Nam, Quảng
đông và Quảng tây, phía Tây Nam kế tiếp nước Ai Lao,
phía nam cắt phân nửa nước Chiêm Thành. H́nh thể
tiếp liền sông biển, nắm lấy núi sông, đáng gọi là
một nước rào dậu vững vàng ở bốn bên”.
(“Dẫn sách Vân Đài Loại Ngũ
quyển 3 của Lê Quí Đôn” trang 221)
Riêng về Thăng Long ta c̣n một tư
liệu khá quan trọng cho chúng ta ngày nay hiểu thêm
được về thành Thăng Long là bản đồ Thăng Long thời
Hồng Đức. Bản đồ thời đó tuy chỉ là những họa đồ có
tính ước lệ phần trắc đạc không được chính xác như
bây giờ nhưng dù sao qua đó chúng ta có thể h́nh
dung được vị trí một thời của kinh thành.
Nh́n trên bản đồ thành Thăng Long xưa được xây hai
lớp, Hoàng Thành và Cấm Thành. Ṿng Hoàng Thành uốn
lượn theo địa h́nh, thành có ba cửa: Đông Môn
(ước đoán khu vực cửa Đông ngày nay), Nam Môn
(ước đoán khu vực phố Cao Bá Quát ngày nay),
cửa Bảo Khánh (ước đoán khu vực nhà triển lăm
Giảng Vơ, Ngọc Khánh ngày nay). Từ góc ngă ba
sông Tô Lịch và Thiên Phù chỗ đầu chợ Bưởi ngày nay
sang Cầu Giấy, ṿng theo đường La Thành xuống Giảng
Vơ, ngoặt về phía Đông đến phố Kim Mă sang Sơn Tây,
vườn hoa Lê Trực đến phố Hà Trung ngược lên hướng
Bắc thẳng theo phố Phùng Hưng đến vườn hoa Hàng Đậu,
rẽ về phía Tây ṿng theo sông Tô Lịch, phố Quan
Thánh, đường Hoàng Hoa Thám ngày nay đến chợ Bưởi là
hết một ṿng Hoàng Thành.
Thăng Long, từ Lư, Trần đến nay, là một khoảng không
gian có thể tính từ chợ Bưởi đến Ô Cầu Dền, từ sông
Hồng đến Cầu Giấy trên sông Tô Lịch. Bao gồm 3 ṭa
thành trong 13 trại và 6 phường, rồi 36 phố phường,
từ bờ Hồ Tây chạy dài đến Hồ Gươm. Phía Bắc có sông
Hồng bao bên trong thành có Hồ Tây, tiếp đến Hồ Trúc
Bạch, rồi Cổ Ngư, đi nữa đến Hàng Than, lại thêm một
nhánh khác của sông Hồng và sông Tô Lịch, đi từ chợ
Gạo đến chùa Cầu Đông, Hàng Đường, chếch lên mạn Bắc
ở cổng chéo Hàng Lược đi theo Phố Phan Đ́nh Phùng
qua Thụy Khuê, Thụy Chương đến Hồ Khẩu là cửa thoát
nước từ Hồ ra sông Hồng rồi đến chợ Bưởi, sau khi
gặp con sông Thiên Phù từ Quán La xuống sông Tô
Lịch, quẹo về phía Nam sông Tô trở thành cái hào tự
nhiên, che mặt Bắc và cả mặt Tây, đến Ô Cầu Giấy,
Sông Tô Lịch lại có một nhánh nối liền với sông Kim
Ngưu, làm hào lũy cho mặt Nam cửa thành, rồi chạy
qua Ô Chợ Dừa, đổ vào Đầm Sét. Mặt Đông của thành
Thăng Long có sông Hồng (c̣n có tên gọi là sông
Cái, sông Nhị Hà) phía Nam Tây Hồ. Từ Đông sang
Tây, có núi Nùng, núi Khám, núi Xưa, núi Bát Mẫn,
núi Voi (Thái Ḥa), núi Cột Cờ, núi Cung,
núi Trúc và núi Vạn Bảo.
Núi đây là những núi nhân tạo, người ta đắp lên từ
đời Lư, Trần. Núi Cung và núi Xưa hiện c̣n cao
khoảng 18 mét. Phía Nam lác đác có những g̣ lớn tựa
như những quả núi. Từ Đống Đa đến g̣ Chinh Chiến xă
Phương Liệt, chạy măi đến bờ sông có nhiều g̣ lớn
như núi, G̣ Đống Đa ở về phía Tây Nam Hà Nội thuộc
khu vực phố Tây Sơn, nay cái tên phố lịch sử đó Cộng
Sản đổi thành đường Nguyễn Lương Bằng (UVBCTĐCS, Chủ
Tịch nhà nước CSVN).

G̣ Đống Đa
là một bằng chứng về sự
thất bại thảm hại, nhục nhă nhất của bọn xâm lược
Trung Quốc. Hai chục vạn quân xâm lược Tầu đă bị vùi
lấp ở nơi đây (Mồng 5 Tết Kỷ Dậu 1789). Trên cả thẩy
12 cái núi xương gọi là g̣, thời bấy giờ gọi là
Ḱnh Quán, sau những trận đánh,
người Việt Nam thường chôn xác giặc thành G̣ gọi là
Ḱnh Nghê, Ḱnh Quán. Ḱnh Nghê là
hai loài cá dữ, chỉ bọn giặc Tầu, Ḱnh Quán là
g̣ lớn. Trong bài thơ “Loa sơn
điếu” (viếng núi Ốc của thi sĩ Ngô Ngọc Du, sống
cùng thời vua Quang Trung), có hai câu thơ đầy ḷng
tự hào:
Thành nam thập nhị ḱnh nghê
quán
Chiếu diệu anh hùng đại vơ công.
Nghĩa là:
Mười hai ḱnh quán phía Nam
thành
C̣n rọi sáng công lớn của vị anh hùng.
Về núi Ốc ngày trước tên chữ là Loa
Sơn. Nay núi này không c̣n, nhưng trên bản đồ Hà Nội
năm 1873 c̣n thấy ở khu vực Nam Đồng, Khương Thượng
có vẽ nhiều G̣ Đống, trong số này có núi Ốc, giờ đây
nằm trên con đường đi từ phố Tây Sơn vào chùa Bộc
gần hết địa phận nơi đây Cộng Sản xây dựng trường
Công Đoàn có một chỗ nhô cao chỗ đó chính là vết
tích của núi Ốc ngày xưa.
Ngoài ra, suốt cả khu vực rộng lớn đó có nhiều g̣
đống lớn chôn xác giặc Tầu ấy vốn có tên là “xứ Đống
Đa”. Thời Pháp thuộc, vào những năm cuối thế kỷ thứ
XX thực dân Pháp đem khu vực xứ Đống Đa ấy thưởng
cho tên Việt gian Hoàng Cao Khải làm Thái Ấp, Khải
bắt dân san bằng g̣ đống, chỉ giữ lại cái g̣ thứ 12.
Năm 1851 khi xây dựng chợ Nam Đồng, phải làm đường,
san đất dân phu đào thấy nhiều đống hài cốt của quân
Tầu khắp cả khu vực rộng lớn đó, đào đâu cũng thấy
xương quân Tầu. Viên Tổng Đốc hạ lệnh cho dân đem
chôn ở một cái g̣ nữa thuộc đất làng Nam Đồng thành
ra cái ḱnh quán thứ 13 (13 cái g̣). Rơ ràng đây
chẳng phải là những g̣ thiên nhiên, mà chính là
những đống thây quân Trung Quốc xâm lược. Sau trận
Khương Thượng, xác giặc Tầu chôn không xuể, nhiều
quá! Vượt tất cả kỷ lục Đông Tây kim cổ của thế
giới, phải đào xuống rồi xếp thành đống cao, đổ đất
lên trên 13 cái g̣ là những núi xương trở thành một
dăy đài kỷ niệm, mà đáng nhẽ ra những nhà lănh đạo
Bắc Kinh như Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào, Ôn Gia
Bảo… mỗi lần qua Hà Nội phải đến đây để mặc niệm các
chiến sĩ xâm lăng mà suy tư…
Nhưng Giang Trạch Dân, cũng như Hồ Cẩm Đào đă không
tới g̣ Đống Đa, mà chúng nghênh ngang đến Hội An tắm
biển không cần lính bảo vệ.
Này hai chú khách kia: Vùng biển Hội An, đâu phải ao
nhà của nước Tầu. Các chú muốn tuyên bố ǵ với thế
giới đây? Mục tiêu của Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào,
qua việc đến biển Hội An tắm, chúng ta có thể xác
quyết rằng họ có ư đồ xâm chiếm nước ta. Với nhiều
bằng chứng cụ thể từ nhiều năm nay… Họ làm cái ǵ mà
không có hậu ư, không theo một sứ mạng (“mission”)
nào đó. Ta nh́n thấu tim đen của các chú, nếu không
phải cái nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa VN này, kể
từ nay, đă trở lại quy chế (AN NAM ĐÔ HỘ Phủ) của
Thiên Triều trên thực tế.
Tục ngữ Việt Nam có câu: “Loài nào giống ấy chẳng
sai”, ca dao Việt Nam lại dậy rằng:
“Ḷng vả cũng như ḷng sung
Một trăm ḷng vả ḷng sung một ḷng”
Nghĩa là người Tầu đời nào cũng có
máu xâm lăng như nhau cả:
“Loài đỉa Hán vốn say máu
Việt
Nước độc rừng thiêng, một đi là một chết
Vạn người đi không một bóng trở về”
(Thơ của Phạm Lê Phan)
C̣n bọn Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Lê Khả
Phiêu, Nông Đức Mạnh kia, vờ không hiểu, và có khi
không hiểu thật, ư nghĩa của tṛ ám chỉ đểu cáng,
xấc láo của hai gă kia! Th́ bọn chúng đă bôi tro
trát trấu vào mặt Tổ Tiên và chối bỏ quốc tịch Việt
Nam rồi đó. Bọn chúng không lo mất nước, chỉ sợ mất
quyền lợi địa vị.
Tổ quốc Việt Nam chưa bao giờ lâm nguy như bây giờ,
bởi v́ ngay từ đầu Hồ Chí Minh đă tạo mọi điều kiện
cho giặc can thiệp vào nội t́nh nước ta cho đến nay
đă hội đủ mọi điều kiện để trở thành một tỉnh của
Trung Cộng: lănh đạo đồng lơa, trí thức nhu
nhược, dân trí thấp kém với một chủ trương
cấm cố qua bao thế hệ bằng đủ mọi thứ biện pháp bưng
bít, hậu quả là tất nhiên.
Ư thức nhục nhă, ư thức nguy hiểm. Song với ư muốn
giải ảo toàn diện mọi ảnh hưởng của cái gọi là “tư
tưởng Hồ Chí Minh” và cả cái thứ Chủ Nghĩa Cộng Sản
mà y mang vào một cách dứt khoát. Đất nước ta mới có
khả năng hồi sinh, hầu đương đầu với t́nh huống bi
đát hiện tại.
Tất cả ai là công dân Việt Nam hăy ư thức trách
nhiệm, hăy cảnh giác Bắc Triều. Đừng bao giờ quên
cái họa 1000 năm. Và đừng bao giờ quên Việt Nam luôn
luôn là giấc mơ không giấu giếm của bọn bành trướng
phương Bắc, dù là bạn bè đồng chí cũng không có
ngoại lệ. Đừng bao giờ quên bài học nước Tây
Tạng đă bị Trung Cộng ngang nhiên thôn tính trước
sự bó tay của cộng đồng quốc tế.
Có lẽ tôi đă đi ra ngoài đề tài vụ hài cốt người Tầu
ở g̣ Đống Đa, tôi muốn nhắc nhở họ mang hài cốt ông
cha họ về Bắc Kinh an táng và lập đền thờ mà đâu có
phải chỉ có ở khu vực g̣ Đống Đa, nội thành Thăng
Long và khu vực ngoại thành, đâu đâu cũng có thây
xác người Tầu từ lớp này đến lớp khác… Đó là chưa kể
ở các ḍng sông, như sông Như Nguyệt (thời nhà
Lư 1077). Sông Bạch Đằng với Ngô Quyền, Lê Đại
Hành, thời nhà Trần sau ba phen lửa đạn
(1257-1285-1288). Tuy là cuộc chiến với Thành
Cát Tư Hăn với các tướng Mông Cổ đấy, nhưng trên 50
chục vạn lính toàn là người Hán, chết nhiều lắm, đến
thời nhà Lê, mười năm đánh quân Minh (1418-1427)…
Biết là mấy triệu tử sĩ!

Những tử sĩ người Tầu đó chẳng phải
là máu mủ, huyết thống của Giang Trạch Dân, chủ tịch
Hồ Cẩm Đào hay sao? Nếu cần, các ông có thể nhờ
Trung Tâm giảo nghiệm của Hoa Kỳ ở Hạ Uy Di khám
nghiệm xem có đúng huyết thống của các ông không?
Nơi đây đáng tin cậy lắm. Các ông không quư nhau, mà
Trung Quốc là một nước có lễ nghĩa, con cháu của
Hoàng Đế và Thần Nông, Đại Hán mà những người tướng
lănh và người lính Tầu hy sinh v́ lư tưởng xâm lược
Việt Nam lẽ nào lại là kẻ ngoại tộc?
Thế mà các triều đ́nh nước Tầu không có ông vua nào
muốn gánh vác trách nhiệm giải quyết vấn đề đó. Nay
may ra có Đảng Cộng Sản Trung Quốc vĩ đại làm được
việc đó chăng?
Văn hóa truyền thống 5000 năm đấy nhé. Đế quốc Mỹ
chỉ có hơn hai trăm năm mà họ coi hài cốt lính Mỹ
c̣n quư hơn cả vàng, chẳng thế mà đường xa vạn dặm,
cách trở ngàn trùng, tốn bạc tỷ cũng thuê Việt Cộng
t́m cho bằng được. Vậy mong tiên sinh họ Đào và Ban
lănh đạo Đảng Cộng Sản Trung Quốc nhớ giải quyết vụ
hài cốt này cho đẹp ḷng người chết, an ḷng kẻ sống.
Cũng xin quư vị lưu ư, cái vong người Tầu ở khu vực
g̣ Đống Đa, đói rét kinh khủng, họ khổ sở không thể
kể xiết…
V́ Tổ quốc của họ không một ai ngó tới! Nên trước
đây các chùa Việt Nam ở Hà Nội và nhiều nơi khác
hàng năm vào dịp Rằm tháng Bảy có cúng vong. Nhân
đây tôi xin kể một câu chuyện xẩy ra gần 50 năm qua
mà tôi luôn nghĩ tới. Đó là hồi tôi ở tù khoảng năm
1959, có sống chung với mấy vị sư, tôi có hỏi về
việc cúng vong ngày Rằm tháng Bảy. Các thầy đều nói
vào những ngày đó, các vong người Tầu đến đông như
kiến cỏ. Tôi hỏi: Tại sao các thầy biết là vong
người Tầu? Các thầy bảo: Th́ họ nói toàn tiếng Tầu
mà hàng ngàn vạn vong như một thân h́nh tiều tụy kêu
khóc thảm thiết rằng: Không có ai thừa nhận họ!
Không có nơi trở về sống vất vưởng ở đây nhiều thế
kỷ rồi! Họ chỉ mong được đầu thai làm con chó nước
Mỹ. Hỏi tại sao lại không muốn làm người Trung Quốc?
Họ nói nếu được làm kiếp con chó nước Mỹ th́ c̣n
hạnh phúc gấp vạn lần làm người Trung Quốc! Sống
được đối xử tử tế… chết có nghĩa trang riêng. C̣n ở
Trung Quốc, muôn thuở các vua chúa coi người như cỏ
rác. Nhiều triều đại tắm máu nhân dân để lên ngôi
thống trị, bao nhiêu cuộc xâm lăng các vị tướng
“công thành” nhờ “vạn cốt khô” nhưng chết không ai
ngó tới. Bây giờ chúng con chỉ c̣n biết trông cậy
vào nhà chùa, một năm được ăn của bố thí vài lần, có
năm chẳng được ǵ v́ đông quá! Tôi hỏi các thầy có
ai ở khu vực đó không?
Một vị nói: Tôi trụ tŕ chùa Đồng Quang, đối diện
với g̣ Đống Đa, qua trục đường Sơn Tây, ông có nhớ
không? Dạ nhớ! Sư kể: Không phải chỉ có ngày Rằm
tháng 7 mới có cúng vong mà hàng năm thời Pháp thuộc
cứ vào mồng 5 Tết Nguyên Đán có Hội Đống Đa là hội
lớn ở Thủ Đô. Từ tinh mơ, cửa đ́nh làng Khương
Thượng đă mở rộng. Khói hương thơm ngát tỏa lan cả
bầu trời. Lá cờ đại cao ngất trước sân đ́nh chào
mừng ngày hội vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Cả Thủ Đô
náo nức, cờ Ngũ Hành cắm la liệt quanh sân đ́nh, các
tụ điểm lịch sử như chùa Bộc, chùa Đồng Quang mà
trung tâm là G̣ Đống Đa, nơi cử hành quốc lễ.
Sáng rơ mặt người tất cả các đoàn rước kiệu vùng
ngoại ô Hà Nội, các bô lăo và các vị chức sắc trong
các làng đă tề tựu đầy đủ. Chiêng trống gọi hồi
gióng uy nghiêm. Sau tuần trầu nước, vừa trọn một
tuần hương cuộc đại lễ bắt đầu.
Khoảng giờ Ngọ (12 giờ), đám rước thần mừng chiến
thắng được diễn ra từ đ́nh làng Khương Thượng đến G̣
Đống Đa: Cờ, biểu, tàn, tán, lọng, kiệu… Đă sửa soạn
xong. Quân chấp kích, Đô tùy, quan viên, người nào
việc ấy, cũng đă gọn gàng trong trang phục lễ hội,
chờ lệnh:
Ba hồi chín tiếng trống chiêng nổi lên báo hiệu tất
cả dân làng ngoại ô Hà Nội đốt một bánh pháo như
nghi thức pháo lệnh của vị thống soái.
Tiếng pháo dứt, đám rước lên đường uy nghi hùng
tráng làm sống dậy hào hùng của trận tấn công mùa
xuân Kỷ Dậu (1789) của Hoàng Đế Quang Trung, người
anh hùng áo vải Tây Sơn lănh đạo.
Hàng vạn thanh niên, nam nữ vui vẻ hồn nhiên đua
nhau bện con cùi (núm) bằng rơm thật to, nối dài
măi, rồi lấy mo cau, giấy bồi vẽ thành h́nh rồng lớn
(con rồng lửa) múa theo nhịp sênh tiền, nhiều tốp
thanh niên mặc vơ phục đi quanh đám rước rồng lửa,
biểu diễn côn quyền, múa kiếm… Họ dùng rơm bện núm
dài tẩm dầu nổi lửa, như mở trận hỏa công uy hiếp kẻ
thù. Đám lửa cháy theo đường dài và ṿng tṛn, tựa
như con rồng đang rực lửa căm thù lao vào thiêu cháy
quân giặc.
Từ đó (rồng lửa Thăng Long) trở thành biểu tượng
chiến thắng của nhân dân ta, một tṛ lễ hội độc đáo
của lễ hội chiến thắng Đống Đa.
Trước đây, nhà nước đứng ra trụ tŕ cuộc lễ hội.
Quốc kỳ và cờ phất phới trên sân đền trên băi, chân
G̣ Đống Đa. Đó là nhà nước c̣n các chùa Đồng Quang
và các chùa ở Hà Nội, cũng cầu kinh, cầu hồn, cúng
cháo thí cho cô hồn quân giặc, những kẻ chiến bại
như một hành động nhân nghĩa truyền thống của dân
tộc ta ông ạ!... Nhưng rồi đến thời Hồ th́ chùa
chiền bị dẹp! Chẳng ai cúng vong. Vả lại cũng như
Trung Quốc Thời Mao, nhà nước Cộng Sản quản lư lương
thực hết sức gắt gao, và chặt chẽ, đồng bào ai cũng
đói. C̣n sư tăng đi tù cả lấy đâu cúng vong. Giả sử
Nghiêu Thuấn, đến đức Khổng Tử, Lăo Tử… mà các vị đó
sống trong thời Cộng Sản quản lư lương thực, chắc
cũng khó ḷng nhường nhau mẩu sắn, huống hồ là người
dân!
Nên mong rằng các ông và dân Trung Quốc cũng cảm
thông… chứ đồng bào tôi thực ḷng không hẹp ḥi ǵ.
Nhân đây xin có một vài lời cùng ban lănh đạo Đảng
Cộng Sản Trung Quốc vĩ đại.
Cốt nhục, phân ly, các bậc tổ tiên, tướng lănh Hán
tộc quá cố trận vong trăm đời, ngàn đời, cùng với
thân nhân quyến thuộc Chủ Tịch Hồ Cẩm Đào, thủ tướng
chính phủ Ôn Gia Bảo, Ngô Bang Quốc chủ tịch quốc
hội. Các ông quyền thế, danh vọng tột đỉnh vinh hoa
phú quư nhất nước Trung Hoa hiện nay. Phải nghĩ đến
tiền nhân của các ông. Ít nhất là nên xây dựng một
đài kỷ niệm ở g̣ Đống Đa Hà Nội. Tiếc thay Ban Lănh
Đạo Đảng Cộng Sản TQ lại không làm việc nghĩa đó, mà
họ lại đi xây dựng “Nhà Hữu Nghị Việt-Trung”. Theo
báo chí VN th́ vào trung tuần tháng 10 năm 2007
chính phủ Trung Quốc đă cho khởi công xây dựng “Nhà
Hữu Nghị Việt-Trung”, ở Từ Liêm, Hà Nội. Kinh phí
lên đến 26 triệu Mỹ Kim. Đối với nhân dân VN, đây
không phải là điều tốt lành trên thực tế trong tâm
khảm muôn đời của người Việt là:
Ngậm mối thù truyền kiếp mấy
ngàn năm
Con cháu mẹ từng nhọc nhằn u uất
(Thơ Phạm Lê Phan)
Người Trung Quốc và người Việt Nam
đều biết sự thực này! Vậy tại sao họ lại đi xây Nhà
Hữu Nghị?
Hay họ muốn làm đẹp ḷng Chủ Tịch Hồ Chí Minh, kẻ
khi c̣n sống thường dậy các Đảng viên Cộng Sản Việt
Nam: “Mối t́nh thắm thiết Việt-Trung, vừa là đồng
chí vừa là anh em.”
Lịch sử sang trang rồi (t́nh đồng chí anh em) Quốc
Tế Cộng Sản đă ch́m vào dĩ văng. Hồ Chí Minh cũng đă
chết từ lâu! Nhưng di sản của ông để lại có nhiều
cái không chịu ch́m vào dĩ văng, có cái thuộc về quá
khứ (Cải Cách Ruộng Đất), có cái thuộc hiện tại,
Việt Nam mất đất, mất Trường Sa và Hoàng Sa!
Có cái thuộc về tương lai, mất nước!
Trong t́nh cảnh như thế này, xây dựng “Nhà Hữu Nghị
Việt-Trung” cho ai xem đây? Việc này đáng ngờ, họ
định chặn long mạch hay yểm ǵ ở vùng đất thiêng
này? Tổ tiên của họ, Mă Viện dựng cột đồng đề chữ
“Đồng trụ chiết, giao chỉ diệt”. Thóa mạ cả dân tộc
Việt Nam, Cao Biền đă phá hủy long mạch đất Hương Cổ
Pháp (ngoại thành Hà Nội). Thiền Sư Định Không biết
được âm mưu của giặc, đă lấp lại như xưa… Có hàng
trăm chứng tích về các cuộc xâm lấn của người Trung
Hoa đối với đất nước Việt Nam nhỏ bé!
Tội của chúng:
“Trúc Nam Sơn không ghi hết
chữ.
Nước Đông hải không rửa sạch mùi”
(Cáo B́nh Ngô)
Trần Nhu
(Trích dẫn một chương trong sách “Thăng Long Xưa
– Hà Nội Nay” sắp xuất bản)
|
|