Giới Thiệu về
“Mền
Quang Minh” hay “Mền Giải Thoát”
theo Truyền Thống Phật Giáo Tây Tạng
** Sáu Pháp Giải Thoát của Đức Liên Hoa
Sanh:
“Tử Thư Tây Tạng” là giáo lư được rất
nhiều người biết đến, bắt nguồn từ những
lời truyền giảng của Đức Liên Hoa Sanh
(Guru Padmasambhava) vào thế kỷ thứ 8.
Đây là những giáo lư hướng dẫn về cơi
trung giới “Bardo” sau khi cái chết xảy
đến, thường được gọi là Thân trung Ấm.
Trong Phật Giáo Tây Tạng, “Tử Thư Tây
Tạng” được biết đến như là phương tiện
thiện xảo để giúp chúng ta đạt được
giải thoát qua cái nghe, nghĩa là
giải thoát qua việc lắng nghe trong giai
đoạn Trung Ấm (liberation through
hearing in the Bardo).
Theo các giảng dạy về “Bardo,” có tất cả
là 6 giai đoạn “Bardo” – là các giai
đoạn chuyển tiếp, bắt đầu từ khi chúng
ta chào đời cho đến khi tái sinh trở
lại, gồm có: (1) Giai đoạn trung giới
của sự chào đời (Kye Ne Bardo),
(2) của giấc mộng (Milam Bardo),
(3) của thiền định (Samten Bardo),
(4) của quá tŕnh tan ră đưa đến của cái
chết (Chikai Bardo), (5) của kinh
nghiệm trải qua sau khi chết (Chonyi
Bardo), và (6) của sự tái sinh trở
lại (Sipai Bardo).
Riêng trong trường hợp để chuẩn bị cho
cái chết và sau khi chết th́ theo truyền
thống Phật Giáo Tây Tạng, người quá cố
thường được chư tăng tụng đọc cho nghe
toàn bộ giáo lư của “Tử Thư” trong suốt
49 ngày để nhắc nhở họ về cái chết, về
chu kỳ tan ră của ngũ đại (đất, nước,
gió, lửa và khí), về những diễn biến
trong cơi trung giới sau khi thân và tâm
đă tách ĺa, giúp người chết t́m ra nẻo
thoát. Đây chính là giải thoát qua
việc lắng nghe.
Nhưng giải thoát qua việc lắng nghe
là cũng chỉ một trong Sáu Pháp Giải
Thoát mà đức Liên Hoa Sanh đă giảng dạy,
gồm có:
1. Giải thoát qua cái nghe
(liberation through hearing)
2. Giải thoát qua cái mặc
(liberation through wearing) (*)
3. Giải thoát qua cái thấy
(liberation through seeing)
4. Giải thoát qua sự hồi nhớ
(liberation through remembering)
5. Giải thoát qua vị nếm
(liberation through tasting)
6. Giải thoát qua sự chạm xúc
(liberation through touching)
(*) Ở đây ám chỉ áo mặc, hoặc phủ,
hoặc đắp trên thân, mà cũng có thể là
pháp bảo mà ta có thể đeo trên người.
** Ư nghĩa của
“Giải Thoát Qua [Áo] Mặc:”
Theo ư nghĩa như trên, người Tây Tạng
gọi “Mền Quang Minh” mà chúng ta thường
dùng để đắp cho người đă qua đời là
Tag-drol, nghĩa là “giải thoát
qua cái mặc” (liberation through
wearing). “Mền Giải Thoát” (hay “Áo
Giải Thoát”) ở đây được kiến tạo dựa
trên sự kết hợp của các câu chú nguyện,
các biểu tượng và đồ h́nh. Trên thực
tế, đây, là sự thiết lập của một mạn đà
la tâm linh.
Người Việt có thói quen gọi những chiếc
“mền” đắp cho người quá cố là “Mền Quang
Minh,” đó là v́ ta muốn nhắc đến trạng
thái tịnh quang chói sáng và trong suốt
(Clear Light) của Chân Tâm khi
đạt được giải thoát. Ta mong muốn người
chết sẽ đạt được đến trạng thái này sau
khi ĺa đời, cho nên gọi bằng “Mền Giải
Thoát” hay “Áo Giải Thoát” cũng mang
cùng một ư nghĩa như gọi “Mền Quang
Minh.” Cũng có những nơi, người Việt
gọi “Mền Quang Minh” là “Áo Đà la ni.”
** Đắp “Mền Giải Thoát” tạo được ba loại
công đức và lợi lạc như sau:
1. Giúp bảo vệ người chết khỏi những
chướng ngại hoặc những tai hại do các
vong linh hiểm ác hoặc quỷ thần gây ra.
2. Trong tương lai, có thể giải thoát
khỏi luân hồi và khổ năo.
3. Trong cơi trung giới “Bardo,” có
thể trực nhận được Tuệ Giác Nguyên Sơ,
hoặc tái sinh vào cơi Tịnh Độ của đức A
Di Đà, sau sẽ đắc được Phật quả.
Tuy các giải thích về “Mền Giải Thoát”
có nói về lợi lạc của việc “bảo vệ”
người chết như trên, nhưng theo Garchen
Rinpoche, ta nên hiểu rằng, “bảo vệ” ở
đây không chỉ chú trọng vào việc bảo vệ
thân xác của người đă qua đời theo nghĩa
thế tục, mà chủ yếu là bảo vệ cho tâm
của người chết không bị tán loạn, giúp
cho họ giữ được sự sáng suốt, một mực
hướng về mục đích cứu cánh là đạt đến
giải thoát. Ở đây, giải thoát qua
[áo] mặc, qua việc phủ đắp chiếc
“Mền Quang Minh,” một phương tiện thiện
xảo giúp cho người chết có thể chú tâm,
không sao lăng, giữ vững ước nguyện muốn
sinh vào cơi Phật, đạt được giải thoát.
Đại sư Garchen Rinpoche cũng giải thích
thêm như sau:
“Mền Giải Thoát” là một phương pháp vô
cùng thiện xảo của chư Phật để hoá độ
chúng sinh. Khi mang trên người tấm
“Mền Giải Thoát” th́ người chết cũng có
thể tịnh hoá được rất nhiều chướng ngại
hoặc các che chướng. Trong thân xác thô
kệch chưa được tịnh hoá của ta có tiềm
ẩn hạt mầm của 100 Vị Hộ Phật An B́nh và
Hung Nộ (Tạng ngữ: Shitrula;
Shi: An B́nh, Tru: Hung Nộ;
La: Hộ Phật). Thật sự, các Vị Hộ
Phật An B́nh và Hung Nộ xuất hiện trong
“Bardo” là những biểu lộ của hợp thể
các ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành,
thức) và ngũ đại (đất, nước, gió, lửa,
khí) trong mỗi một cá nhân. Vào lúc lià
đời, sau khi ngũ đại tan ră th́ những
thể tính bản nhiên của ngũ uẩn sẽ được
bộc lộ qua sự xuất hiện của các linh
ảnh, màu sắc, ánh sáng của các vị Hộ
Phật. Các vị Hộ Phật đều chứa đựng tuệ
giác viên măn của Năm Vị Thiền Na Phật
hay Ngũ Trí Phật. Khi ta khoác trên
người tấm “Mền Giải Thoát” hay “Áo Giải
Thoát” th́ những hạt mầm trong thân xác
sẽ nhận được năng lực gia tŕ và năng
lực chuyển hoá. Thân ta sẽ chuyển thành
thân Phật. Những tư tưởng bất tịnh của
xác phàm sẽ chuyển thành tâm tịnh khiết
và trí tuệ của các vị Phật.
Tulku Jimge Rinpoche có nhắc thêm rằng,
theo các hướng dẫn của đức Liên Hoa Sanh
và theo truyền thống tu tập Chuyển Di
Thần Thức “Phowa,” trên thân chúng ta có
9 khiếu (9 cửa thoát) là nơi mà thần
thức sẽ thoát ra ngoài. Do đó, đắp “Mền
Giải Thoát” cũng có tác dụng che kín 8
cửa thoát nơi mà ta không muốn thần thức
thoát ra ngoài, và chỉ chừa lại một cửa
thoát duy nhất, cửa thứ 9, đó là cửa
Phạm Thiên. Tựu chung, 8 khiếu (8 cửa
thoát)
(**)
mà ta muốn che lại gồm có: (1) phía
trên đầu (từ đường chân tóc đo lên bằng
bề ngang của bốn ngón tay chập lại);
(2) mắt, (3) tai, (4) mũi, (5) miệng,
(6) rốn, (7) hậu môn, và (8) bộ phận
sinh dục, ngoại trừ cửa thoát cao nhất
trên đỉnh đầu – (9) cửa Phạm Thiên - là
nên để hở. Nếu thần thức thoát ra từ
cửa Phạm Thiên, người chết sẽ được tái
sinh vào cơi Tịnh Độ hoặc đạt được giải
thoát.
Đại hiền giả Naropa đă từng dạy rằng,
“Có 8 cửa thoát là 8 cánh cổng đưa đến
luân hồi, và chỉ duy nhất một cánh cổng
(cửa Phạm Thiên) là con đường dẫn đến
Đại Thủ Ấn (Mahamudra).”
(**) Lama Lodo, xuyên qua những giáo
lư khẩu truyền của Kalu Rinpoche, đă
tŕnh bày trong “Giáo Lư Bardo: Chết và
Tái Sinh Như Thế Nào” (Bardo Teachings:
The Way of Death and Rebirth) về 8 cửa
thoát của thần thức như sau: Nếu thần
thức thoát ra (1) từ phía trên đầu (từ
đường chân tóc đo lên bằng bề ngang của
bốn ngón tay chập lại), sẽ tái sinh vào
cơi Trời thuộc Vô Sắc giới; (2) từ mắt
(kể cả mắt thứ ba), sẽ tái sinh vào cơi
Trời thuộc Sắc giới; (3) từ tai, sẽ tái
sinh làm A-tu-la; (4) từ mũi, sẽ tái
sinh làm người hoặc làm yaksa (Dạ xoa);
(5) từ miệng, sẽ tái sinh làm ngạ quỷ;
(6) từ rốn, sẽ tái sinh làm chư Thiên
trong cơi Dục giới; (7) từ hậu môn, sẽ
tái sinh vào địa ngục; (8) từ bộ phận
sinh dục, sẽ tái sinh làm súc sinh. Theo
Lati Rinpochay và Jeffrey Hopkins trong
“Chết, Trung Ấm và Tái Sinh Theo Truyền
Thống Phật Giáo Tây Tạng”(Death,
Intermediate State and Rebirth in
Tibetan Buddhism) th́ cách phân loại 8
cửa thoát và nơi đầu thai có một số khác
biệt; ngoài ra, trong tài liệu này, vị
trí ở mắt thứ ba được xem là một cửa
thoát riêng biệt, trong khi cửa thoát
trên đầu (từ đường chân tóc đo lên bằng
bề ngang của bốn ngón tay chập lại)
không được nhắc đến. Trong một số tài
liệu khác, cách tŕnh bày về các cửa
thoát cũng có một vài điểm dị biệt.
** Giải thích về các giáo lư, câu minh
chú, mạn đà la và h́nh ảnh in trên “Mền
Giải Thoát:”
1. Giáo lư Dzogchen- Đại Viên Măn: “Bốn
Giáo Pháp Vĩ Đại” [của đức Longchenpa]
thuộc hệ giảng Longchen Nyingtik
(h́nh thu nhỏ của các trang sách về giáo
lư Đại Viên Măn viết bằng Tạng văn).
2. Biểu hiện cho Tâm viên măn của đấng
Đạo Sư (đây chính là oai lực hoá độ của
Đạo Sư)
(hai mạn đà la h́nh tṛn nằm ở bên trái
và phải của đức Kim Cang Tát Đỏa).
3. Đức Kim Cang Tát Đoả (Phạn:
Vajrasattva/
Tạng: Dorje Sempa): vị Phật chủ
trong mạn đà la - sắc tướng của ngài là
hiện thân cho tinh túy của 100 vị Phật;
oai lực của ngài là tịnh hoá được nghiệp
chướng của những ai mặc hoặc đắp h́nh
ngài trên thân, giúp cho họ đạt được
giải thoát trong những giai đoạn khác
nhau của cơi trung giới “Bardo” (h́nh
đức
Kim Cang Tát Đỏa ở giữa).
4. Tinh Túy của Giáo Lư Đại Viên Măn
Dzogpa-Chenpo (mạn đà la h́nh tṛn,
lớn, nằm ở giữa).
5. Một Trăm Vị Hộ Phật An B́nh và Hung
Nộ trong “Bardo” [theo hướng dẫn] của
ngài Karma Lingpa
(mạn đà la h́nh vuông, lớn, nằm ở cuối).
6. Chùy Kim Cang và Kim Cang lục tự
minh chú (chú giải thoát 6 âm của đức
Kim Cang)
(h́nh viền chung quanh).
“Mền Giải Thoát” đă được rút tỉa ra từ
tinh tuư của Kinh điển và Mật điển.
Trong Mật điển có nói rằng, bất cứ ai có
đủ phước duyên để nghe được, nh́n được,
chạm được hoặc khoác được vào người tấm
“Áo Giải Thoát” th́ sẽ có thể được giải
thoát xuyên qua Thân trung Ấm, hoặc tái
sinh vào cơi Tịnh Độ. Ngoài ra, ngay cả
loài súc sinh nếu có đủ phước duyên để
đeo được giáo lư của “giải thoát qua
cái mặc” quanh cổ
(***)
th́ cũng có thể sẽ được sinh vào các cơi
cao hoặc được giải thoát trong các giai
đoạn chuyển tiếp. Loài súc sinh c̣n
được như vậy, huống chi là loài người,
lợi lạc thật khó nghĩ bàn. Ngay cả những
kẻ đă tạo ác nghiệp khi c̣n sống và
những kẻ đă qua đời mà không hề có được
bất cứ ai tŕ chú hay cầu nguyện hồi
hướng cho, th́ họ cũng vẫn có thể được
tái sinh và cơi Tịnh Độ, và sau đó đạt
được giải thoát.
(***) Những giáo lư, câu minh chú,
biểu tượng, h́nh ảnh in trên “Mền Giải
Thoát” cũng có khi được thu nhỏ lại và
được in thành một tập sách tí hon, có
thể đeo quanh cổ hay đeo trước ngực, cho
cả người lẫn thú vật khi c̣n sống.
** Cách thức sử dụng “Mền Giải Thoát:”
1. Trong giờ phút lâm chung, nếu không
có đủ thời giờ để thay quần áo hay tẩm
liệm cho người sắp qua đời, hăy dùng
“Mền Giải Thoát” để đắp lên trên toàn
thân. Trong trường hợp người chết ra đi
v́ tai nạn, nếu “Mền Giải Thoát” có chạm
phải máu trên thân cũng không có ǵ phải
lo ngại.
2. Khi chúng ta cầu nguyện cho người quá
cố, hăy đắp “Mền Giải Thoát” lên toàn
thân của người quá cố. Nếu cần thay quần
áo hay làm lễ tẩm liệm cho người quá cố
th́ có thể tạm thời dời “Mền Giải
Thoát’ qua một bên. Sau đó th́ đắp lên
trở lại.
3. Cũng có thể đắp trên nắp quan tài sau
khi đă đậy nắp quan tài. Khi cần mở nắp
quan tài ra th́ tạm thời dời “Mền Giải
Thoát” qua một bên, sau đó có thể đắp
lên trở lại.
4. Theo Lamchen Gyalpo Rinpoche, khi bắt
đầu cử hành lễ hoả thiêu, hăy dời “Mền
Giải Thoát” để qua một bên. Khi lễ hoả
thiêu đă hoàn tất, dùng “Mền Giải Thoát”
để gói tro lại. Sau đó, có thể để tất cả
vào trong hủ đựng tro. Khi dùng “Mền
Giải Thoát” để gói tro lại, hăy cẩn
thận, đừng để h́nh ảnh của vị Phật [Kim
Cang] nằm úp xuống dưới. Nếu hủ đựng tro
quá nhỏ th́ có thể gấp “Mền Giải Thoát”
lại thật nhỏ và để vào phía trên tro bên
trong hủ đựng tro, hoặc dùng “Mền Giải
Thoát” để gói hủ đựng tro lại.
5. Theo Garchen Rinpoche th́ khi làm lễ
hoả thiêu, có thể giữ nguyên “Mền Giải
Thoát” trên xác người quá cố và thiêu
chung tất cả một lúc. Đây cũng là truyền
thống thường được làm trước đây bên Tây
Tạng khi cử hành lễ hỏa thiêu.
6. Nếu chôn cất (thay v́ hoả thiêu), có
thể giữ nguyên “Mền Giải Thoát” trên xác
người quá cố (hoặc trên nắp quan tài) và
chôn chung với quan tài.
** Cách thức sử dụng cát mạn đà la để
giúp người hấp hối hay quá cố:
Ngoài ra, xin nói thêm về cách thức sử
dụng cát mạn đà la để giúp người hấp hối
hay đă qua đời.
1. Trong trường hợp có những bệnh nhân
đang nằm trong bệnh viện vào giờ phút
cận tử, hăy để một ít cát mạn đà la
trong túi áo của bệnh nhân, hoặc đặt cát
vào một túi vải nhỏ đeo vào trên ngực
của bệnh nhân, để tránh không cho các
vong linh đang lăng văng trong bệnh viện
đến được gần thân xác của người hấp hối.
2. Có thể đặt một ít cát mạn đà la trên
đỉnh đầu của người hấp hối, cũng như
trên đỉnh đầu của người quá cố.
3. Trước khi tẩm liệm, rắc một ít cát
mạn đà trên xác người quá cố. Sau khi
tẩm liệm, rắc một ít cát mạn đà la lên
trên toàn thân. Sau khi hỏa thiêu, đặt
tro vào bên trong hủ đựng tro và rắc một
ít cát mạn đà vào bên trên hủ đựng tro.
4. Nếu chôn cất thay v́ hoả thiêu th́
sau khi đậy nắp quan tài, rắc một ít cát
mạn đà la trên nắp quan tài (ở vị trí
đặt đầu của người qua cố). Cũng có thể
để một chút hồ keo lên chỗ đó rồi rắc
một ít cát lên trên hồ keo để cát có thể
dính được trên nắp quan tài.
5. Sau khi chôn cất, rắc một ít cát mạn
đà la lên trên phần mộ (ở vị trí đặt đầu
của người quá cố).
6. Sau thời gian 3, 7 hoặc 10 năm, nếu
phải cải táng theo tục lệ Á đông th́ có
thể rắc một ít cát mạn đà la lên trên
xương sọ.
____________ _________ _________ _
Những tấm “Mền Giải Thoát” theo mẫu
thiết kế trên đây đă được thiết kế và ấn
tống dựa trên những hướng dẫn của đại sư
Drikung Nangchenpa Gyalpo Rinpoche cùng
với chư vị Lạt Ma khác.
Tài liệu giới thiệu về “Mền Quang Minh”
hay “Mền Giải Thoát” bằng Việt ngữ
được Tâm Bảo Đàn biên soạn dựa
trên những lời giải thích nguyên thủy
bằng Hoa ngữ (do Steven Tung và
Theresa Stevenson dịch qua Anh ngữ),
cùng với những lời chỉ dạy trực tiếp của
đại sư Garchen Rinpoche (do Ina Bieler
dịch qua Anh ngữ), Tulku Jigme Rinpoche,
Khenpo Tsultrim và Gapé Lama. Mọi sai
sót là của người soạn Việt ngữ. (2/2010)
Quư đạo hữu muốn thỉnh “Mền Giải Thoát,”
xin liên lạc điện thư Viet Nalanda
Foundation
vietnalanda@ ymail.com hoặc
điện thoại 240-238-1903 (website:
www.vietnalanda.
org). Riêng ở vùng
California, xin liên lạc
maithylam@yahoo. com hoặc
điện thoại 714-889-1081 & 714-443-1210.
Ngoài cước phí bưu điện, mọi đóng góp
khác đều là tùy hỉ và có thể gửi về địa
chỉ: Viet Nalanda Foundation, 14905
Coles Chance Road, North Potomac, MD
20878, USA. Tất cả tịnh tài đóng góp,
nếu có, một phần sẽ được dùng để hỗ trợ
cho các vị tăng ni người Việt được Đề Án
Zangpo bảo trợ qua tu học tại các trung
tâm Phật Giáo Tây Tạng ở tại Ấn Độ. Phần
c̣n lại sẽ được sử dụng để tiếp tục ấn
tống “Mền Giải Thoát” trong tương lai.
Nguyện xin hồi hướng công đức đến toàn
thể pháp giới chúng sinh, nhất là các
chúng sinh đang trải qua các kinh nghiệm
chuyển tiếp đầy hoang mang và sợ hăi sau
khi ĺa đời; nguyện cho họ có được ḷng
từ bi và luôn sáng suốt để mau chóng
nhận ra được ánh sáng giải thoát trong
“Bardo.”