Chúng ta đang
ở trong mùa lễ lạc trong năm nên thiên hạ tha hồ mua sắm
tưng bừng. Hết
Thanksgiving th́ lại đến Xmas, rồi New Year Day!
Chúng ta thấy dù mua sắm ǵ đi nữa, cái món không thể
thiếu , những hộp bánh kẹo , v́ đây chính là tỏ cho nhau
tấm ḷng thơm thảo,ngọt ngào, và chính bản thân của ḿnh
cũng ăn để tăng thêm năng lượng hay calorie chứ! Huống hồ
chi mỗi khi mừng sinh nhật th́ không thể thiếu birthday
cake. Tục Việt Nam ḿnh không có tục mừng sinh nhật
thường xuyên như Âu Mỹ th́ vào hai ngày mồng một, rằm mỗi
tháng luôn luôn là cúng xôi chè. Danh sách của những món
chè VN kể ra khá dài đó.
Trước hết, chúng ta phải thấy rằng cái vị ngọt
là một vị căn bản đầu tiên sau cái vị mặn mà lưỡi con người
luôn luôn thèm. Chúng ta phải giải thích làm sao đây về đặc
điểm này!
Cái vị mặn đương nhiên là con người ai cũng
phải cần v́ môi trường gốc gác của các sinh vật trên địa cầu
là nước đại dương rồi sau từ từ tiến hoá để sống trên cạn
nên nói không khôi hài chút nào là: cơ thể chúng ta là một
thùng nước biển cá nhân di động qua lượng muối chứa trong
máu... mất máu mệt mỏi... tiếp dung dịch nước biển th́ khoẻ
ngay.
C̣n vị ngọt cũng là cái thèm cố hữu của con
người. Nếu giả thuyết cho rằng những con người sơ khai trên
địa cầu kiếm ăn giống như những loại khỉ mà người ta nhận
xét thời nay th́ con người đă có tính” hảo ngọt” từ cái thuở
hồng hoang nghĩa là “ăn trái cây ngọt”. Con khỉ Tề thiên Tôn
Ngộ Không trong truyện Tây du kư là một thí dụ điển h́nh của
sự thèm” cái ngọt” kinh khủng qua tích ăn trộm quả đào
trường sinh bất lăo trong vườn của bà Tây Vương Mẫu... C̣n
trong Kinh Thánh của Thiên Chúa Giáo, ông Adong và bà Evà
chính v́ cái tính hảo ngọt này nên mới nghịch lời Chúa để
lén ăn “trái cấm để biết dại biết khôn”… Cái di sản “hảo
ngọt” mà Anh Ngữ có danh từ đặc biệt để gọi là Sweet
Tooth có từ cái thuở khai sinh lập địa đó.
Cái đặc tính di truyền này được chứng minh qua
cái bầu sữa mà trẻ hai nhi cần bú để lớn... Đường chính là
một thực phẩm tiếp tế năng lượng cho cơ thể con người... Đi
máy bay ù tai, mệt mỏi, ngậm nhai cục kẹo làm tai bớt lùng
bùng v́ có tác dụng điều hoà áp lực của không khí trên màng
nhĩ và làm cho miệng đỡ nhạt và cơ thể thêm năng lực. Một
muỗng cà-phê đường chứa 15 calori. Ăn Tết là một dịp tái lập
truyền thống của người ta cần phải ăn để có năng lượng để
sinh tồn với thời gian, mà ăn nhiều nhất là chất ngọt, nên
đường mứt, bánh trái.
Chúng ta cần biết cơ thể
của chúng ta thường cảm nhận mùi vị ngọt như thế nào?
Về cơ chế sinh lư học th́ có một chất nhận -
receptor mùi vị ngọt gồm 2 protêin lớn ở ng̣ai mặt các tế
bào mầm mùi vị – gọi là taste-bud cell ( tạm dịch là tế bào
của gai mầm vị giác trên lưỡi). Khi ta ăn kẹo bánh, quá
tŕnh như xảy ra như sau:
1- Chất ngọt chảy trên lưỡi và đi vào các lỗ
của gai mầm mùi vị
2- Các chất làm ngọt dính vào các protêin của
mầm mùi vị
3 - Tín hiệu đưa tới năo, để cho ta biết nhận
thức được chất vị "ngọt ngào - sweetness"
Sau đây là quá tŕnh về
những chuyện ngọt ngào qua các thời kỳ lịch sử.
9000 năm trước công nguyên : Cây mía mọc hoang ở
Tân Ghi Nê - New Guinea được con người nhai
7000 năm trước công nguyên : Các bức họa ở hang
thời kỳ đồ đá mới phát họa con người thu họach mật ong ở tổ
ong
1000 năm trước công nguyên : Cây mía được giao
thương và trồng trọt khắp nơi. Ở Âu châu, mía đến Tây Ban
Nha vào khỏang 700 năm sau công nguyên .
1550 : Tân Thế Giới khởi sự trồng vườn mía
thương măi; tiếp theo là việc mua bán nô lệ để làm nhân
công các đồn điền mía ở
Brazil và Trung Mỹ.
Chúng ta cũng cần biết
cách thức làm đường của các dân tộc từ những chất ngọt thiên
nhiên .
Chất ngọt trong thiên nhiên thường gốc từ trái
cây và mật ong. Nhưng người ta biết cách làm mạch nha mấy
trăm năm trước TC bằng cách để lúa mọc mầm (nha) rồi nấu kẹo
lại. Măi cho đến đời Đường (618- 905) mới có sự làm đường
bằng mía do sự học hỏi từ nước Ma Yết đà là một nước nhỏ bên
Ấn độ, từ đó nước Tàu mới có đường cát. Đường phèn là do chữ
Băng đường đọc trại ra cũng ra đời sau đó ít lâu. Người
Việt ḿnh trước khi biết làm đường th́ dùng mật mía để chấm.
Ở Tây phương th́ đường làm bằng mật của cải hay mật của cây
phong (maple). Ở miền Nam và Cambốt th́ có loại đường thốt
nốt. Nhưng loại đường mía là loại ta quen ăn nên nó đă đi
vào ca dao như sau:
Đi ngang ḷ mía thơm đường,
Muốn vô kết nghĩa cang thưởng với em.
Về đường mía th́ tùy theo h́nh thức và phẩm loại
mà có những tên gọi sau:
Đường cát (cát đen, cát mỡ gà, cát trắng), đường chè ( hay
đường thẻ, đường tán), đường phổi, đường muống (tức là đường
đúc thành khối trong chậu, thường khi chuyên chờ sắp trong
nhửng sọt có lót rơm).
Thiết tưởng ta cũng nên nói về những cây mía của
quê hương VN cho nó gần gũi với kỷ niệm hơn. Nói đến mía VN
ta thấy thân thương hơn v́ nó của quê hương nên đóc giọng
ngọt hơn. Ta hăy nghe câu hát sau: Hôm may ăn mía Triệu
Tường, đợi mắm Nam ổ, đợi đường Phú Yên.
Mía Triệu Tường thuộc tỉnh Thanh Hoá đă một thời
nổi tiếng nên mới có câu:
Hoài tiền mua thuốc nhuộm răng,
Để tiền mua miá đánh khăng vào mồm..
Đường Phú Yên có một địa phương nồi tiếng là La
Hai là nơi sản xuất lắm đường:
Tiếng đồn chợ Xổm nhiều khoai,
Đất đỏ nhiều bắp, La Hai nhiều đường.
Và bánh ít đen B́nh định (Phú Yên) nhờ đường mà
nổi danh:
Muốn
ăn bánh ít là gai,
Lấy chồng B́nh Định sợ dài đường đi.
VN ḿnh có bao nhiêu loại mía?
Về tên các loại mía VN th́ có rất nhiều tên sau
mà tôi nghĩ không ai nhớ rơ trừ dân địa phương như Mía de (
mía bắp), mía bầu ( mía mưng), mía c̣ ke, mía g̣ cát, miá
gián, mía lỳ, miá sơn dịu... Tôi cũng thường nghe dân Bắc
hay ca tụng miá đường chèo mà chưa có dịp ăn, duy chỉ biết
rằng tỉnh Thừa thiên có “mía voi Mỹ Lợi” là quê sanh đẻ của
bà Từ Cung, chính nhờ đất cát mặn ṃi gần biển nên ngọt đậm,
thân miá to bằng cổ tay người lớn.
C̣n mía lau trái lại th́ ốm và trắng, ép lấy
nước mà uống giải nhiệt, nhất là nấu chung với rễ tranh
(bạch mao căn) làm lợi tiểu. Vị đường ngọt của mía lau khó
giữ lâu v́ trỡ thành chua, nên mới có câu ca dao sau nói đến
sự chăm sóc và chiều chuộng mẹ già phải rất tế nhị và tâng
tiu như câu ca dao sau:
Mẹ già như chuối ba hương,
Như xôi nếp một, như đường miá lau.
Nước Việt ta thường trồng mía tại những địa
phương nào?
Theo những sách viết về thổ nhưỡng và canh nông
Việt Nam như của Tiến sĩ Thái Công Tụng th́: Mía thường
trồng nhiều ở Nam Trung Phần ở Quảng ngăi, Quảng Nam, Phú
Yên, B́nh Định. C̣n miền Nam, mía trồng nhiều ở Long An và
Hậu Nghĩa, dọc theo đất phù sa của sông Vàm Cỏ Đông từ Hiệp
hoà đến G̣ Dầu Ha.
Nói chung th́ trong thiên nhiên, cây cỏ chính là
nguồn cung cấp chất đường như mía, thốt nốt, củ cải đường,
cây maple . Nhưng hiện nay th́ nghe nói có sự phát minh của
khoa học về các chất làm ngọt nhân tạo để cạnh tranh với
chất ngọt thiên nhiên đó!
Nhưng chúng ta đôi khi không hiểu lư do tại sao
khoa học lại cần t́m kiếm ra những chất ngọt nhân tạo để
dùng nhỉ ? Đây là một câu hỏi lư thú và khá hóc búa đó.
Trước hết, điều lư thú nhất là trong thiên
nhiên, phần lớn những sinh vật bu lại t́m những nguồn giàu
đường như nhị hoa, trái cây, mật chính là theo một bản
năng thiết yếu ví dụ như ruồi , chim và chó. VN ḿnh nói:
Mật ngọt chết ruồi là v́ vậy. Trong sự kỳ diệu này của
tạo hoá th́ các sinh vật trong thiên nhiên đều trang bị
nhiều khả năng huyền bí trong đó có khả năng “ḍ nhận
chất ngọt” sweet receptors bên cạnh những khả năng ḍ
tinh tế khác như ḍ nhận “mùi vị của t́nh dục” gọi là dục
t́nh hương - pheromones cốt để bay nhào lại. Đồng thời các
sinh vật cũng được trang bị khả năng ḍ biết các chất độc
để tránh xa ra. Con chim quyên t́m đến chùn nhăn
lồng chín, cá thia quen thích chậu nuớc có mái, có trống
cũng như ở con người sự trai gái rù quến nhau cũng v́ cái
khả năng“ḍ nhận” siêu đẳng này đối với những mùi hơi của
nhau.
Bởi vây nên mới có câu
Ca dao ru em miền Nam như sau:
Chim
quyên ăn trái nhỡn lồng,
Thia
thia quen chậu, vợ chồng quen hơi!
Tuy nhiên
ở con người, những khả năng thiên nhiên nhận biết thường
càng ngày càng bị cùn mằn đi đến nỗi con người không biết
dùng nó một cách thích hợp mà chỉ biết t́m kiếm những nguồn
calôri đáng kể cho ḿnh. Cây cỏ súc vật yêu đương t́m đến
nhau là theo mùa, c̣n ở con người th́ buông thả vô kỷ luật
theo dục vọng. Nên đối với chuyện ăn đường cũng vậy, th́ con
người càng thèm, th́ lại càng ăn nhiều càng tốt. Bản năng
t́m chất ngọt ở con người xét ra có ích cho dân ở những
nước chậm tiến nơi mà những nguồn năng lượng calôri hiếm
hoi. Con nít VN mong quà của mẹ đi chợ về cũng như thường đi
hái trái bậy bạ để ăn cũng v́ thíêu chất ngọt và đói
calori. Ngược lại điều này không c̣n mấy ích lợi ở Hoa Kỳ
là một quốc gia thặng dư protein và tràn đầy kẹo và những
chai nước ngọt hay bánh doughnut khổng lồ nên mới có nạn
mập ph́ tai hại!
Thế nhưng
cắt bớt đường đi là cả một vấn đề, v́ cái ngot ngào của
đường thiên rất khó bắt chước .
Dân Mỹ là
dân hảo ngọt nhất thế giới! Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ ước lượng
là mỗi người Mỹ trung b́nh tiêu thụ thêm 100 cân Anh ( 45
kgr3 60 ) nước ngọt, bánh , nước trái cây... một năm, có
sự gia tăng thêm 30 % từ thập niên 1980 . Mọi lọai thực
phẩm này đều chứa chất ngọt nhân tạo. Các nước ngọt kiêng cử
- diet soft drinks tăng chừng 6% một năm , trong
khi những nước ngọt thường lệ lại giảm đi 2 % .
Người ta
thấy rằng các chất làm ngọt nhân tạo - artificial
sweetener ḥan ṭan không gây ra hậu quả thường gây
chán ngấy, chẳng hạn như có mùi kim lọai hay một mùi vị ǵ
lạ hoắc . Trong khi th́ đường thiên nhiên không những chỉ
làm cho ngọt.mà c̣n làm cho bánh trái ḍn tan bên ng̣ai v́
đặc tính dễ vỡ vụn, hơn nữa đường thiên nhiên thường làm cho
các thức nước giải khát có mùi ngọt ngào hơn. Người ta thấy
sau mấy chục năm tṛn khảo cứu , các chất làm ngọt nhân
tạo bán trên thị trường ở Mỹ lên đến 1 tỉ đô la Mỹ một
năm, thế mà chúng vẫn chưa hoàn toàn đạt đến mùi vị của
đường thiên nhiên đấy.
Khoa học
cho thấy rằng các chất “đường nhân tạo” không kết dính vào
những vi thể vị giác nhận biết ngọt trong cơ thể con người
một cách giống như đường thiên nhiên , mà chúng lại kết
dính ở một nơi khác với tốc độ và độ dính chặt khác hẳn.
Chính nhờ những thừa tố này mà người ta suy ra những dị biệt
tế nhị, khi làm ra mùi vị, cường độ và mức lâu dài của vị
ngọt nhân tạo.
Có rất nhiều chi tiết về lịch sử t́m
ra những chất làm ngọt nhân tạo thật là ly kỳ và hấp dẫn:
Chất làm
ngọt nhân tạo đầu tiên t́m ra là một sự cố , hay một sự
ngẩu nhiên vào năm 1879 . Hai nhà hóa học đại học Johns
Hopskins , Constantine Fahlberg và Ira Remsen đang cố chế
biến ra một chất nhuộm hóa học mới ở hắc ín từ than đá , khi
một thùng đun sôi trào ra lavabô một ngày nào đó . Fahlberg
không rửa tay cho sạch hẳn trước khi ăn và ông nhận thấy là
các ngón tay ông, ngọt ơi là ngọt . Ông t́m ra dấu hiệu
ngọt đó là một hóa chất hai ṿng tên gọi là benzoic acid
sulfanilamide . Chất này ngọt 300 lần hơn đường, nhưng
không được thân thể tiêu hóa và nên không chứa calôri nào
cả. Nên do đó ông gọi hóa chất này là saccharin,
suy ra từ chữ Saccharum , tên la tinh gọi đường mía.
Khả năng
bất ngờ t́m ra chất saccharin quí giá này cứ tiếp tục măi
cho đến bây giờ với các chất sau:
Cyclamate : chất này được sử dụng trong các chai nước
ngọt cho đến khi bị cấm. Nó được phát minh năm 1937, khi
một sinh viên cao học đại học
Illinois, Michael Sveda ,đặt điếu thuốc hút cạnh một
hợp chất anh đang thử nghiệm xem các đặc tính làm thuốc
chống sốt và sau đó nhận thấy là anh đang hút một điếu
thuốc ngọt .
Aspartame được nhà hóa học Jim Schlatter khám phá năm
1965, khi liếm ngón tay ḿnh trong khi đang thử nghiệm một
thuốc chống ung thư mới cho công ty dược phẩm G . D .
Searle & Co.
Các nhà
khảo cứu ngày nay c̣n biết hàng lọat hóa chất ngọt -
monellin, stevioside, thaumatin, lugduname, glycyrrhizin,
naltitol và dulcin , ngon ngọt nhưng rất độc hại .(
Dulcin đă được làm chất làm ngọt trong thế chiến thứ nhất
và đă làm chết nhiều trẻ em ) .
Là người tiêu thụ,
chúng ta cần biết những chất làm ngọt không có hại được cơ
quan Quản Lư Kiểm soát Thuốc và Thực phẩm Hoa Kỳ chấp thuận
cho dùng.
Chỉ có một vài chất đếm trên đầu ngón
tay dược
FDA chấp thuận cho dùng làm chất làm ngọt như :
_ saccharin ( ở
Mỹ được biết nhiều hơn dưới tên Sweet' N Low trên gói
màu nhỏ hồng );
_ acesulfame- K
( một hóa chất giống như saccharin, nhưng ít người biết
hơn );
_ aspartame (
pha trong các chai, lon Diet Coke và
Pepsi hay trên gói nhỏ màu xanh Equal );
_ sucralose (
gói màu vàng Splenda );
_ và neotame
một chất làm ngọt khám phá gần đây nhất, 7000 lần ngọt hơn
đường .
Sự phát
minh ra đường nhân tạo đương nhiên đă gây ra nhiều đe doạ
cho đường thiên nhiên.
Ngay từ
khi chất làm ngọt đầu tiên ra đời, ngành công nghệ đường
(đường mía và đường củ cải đường) đă xem đó là một đe dọa.
Đầu thế kỷ 20, ngành công nghệ củ cải đường (sugar beet
industry) Âu Châu đă thuyết phục nhiều nước là chỉ cho phép
dùng saccharin rẽ tiền khi có toa bác sĩ. Một đường giây
buôn lậu (cartel ) đă buôn lậu saccharin bừng dậy, họ đă
từng chuyễn lậu những bột trắng tổng hợp này từ biên giới
Thụy Sĩ trong lốp,se hơi , những đáy giả va li, áo khóat ,
nến hay các chai rượu vang . Ở nước ta dù bị cấm dùng ,
saccharin vẫn trộn lậu để nước mắm trong, ngon vào đầu thập
niên 1960 .
Nhưng đó
chỉ mới là tranh chấp đầu tiên nổ bùng ở thế giới chất ngọt
nhân tạo. Tranh chấp mới đây nhất là với sucralose , chiếm
50 % thị trường các chất làm ngọt vô gói ở Hoa Kỳ , bốn năm
nay dưới nhăn hiệu là Splenda
Sự nướng
được trong lửa ḷ (baking ) là mục tiêu của cuộc chiến .
Sucralose, ngọt 600 lần hơn đường thiên nhiên, được khám phá
ra năm 1976 , khi các nhà hóa học họat động cho hảng làm
đường Anh Quốc là Tate & Lyle cố t́m ra cách dùng mới cho
đường sucrose . Họ đă sửa đổi sucrose, cho nó chứa ba nguyên
tử chlorine (chlor). Độ ngọt mạnh mẽ của sucralose, theo
truyền thuyết của công ty, được khám phá khi một sinh viên
cao học hiểu lầm chỉ thị: nhiệm vụ chính chỉ là thử nghiệm
no ( test it) , nhưng người này oái oăm lại đem nếm nó (
taste it) . Khi thêm vào ba nguyên tử chlorine, hợp chất
thành ra không tiêu hóa được nữa và trở nên “tinh sạch” (
tức là không cung cấp calôri ). Splenda khi nướng ḷ không
có vị đắng như saccharin và mảnh giẻ dễ hỏng v́ sức nóng (
heat fragility) . Ưu điểm cuối này có nghĩa là Splenda có
thể dùng để làm bánh kẹo khi nướng trong ḷ, cạnh tranh trực
tiếp với đường thiên nhiên .
Nhưng
Splenda vẫn c̣n đôi điều khuyết điểm, v́ thực phẩm tùy
thuộc đường thiên nhiên không phải chỉ duy nhất là độ ngọt.
Khi nướng ḷ thực phẩm, đường thiên nhiên không cho nước và
bột phản ứng với nhau làm thành những dây chuỗi hột gluten
dài. Do đó bánh ngọt trở nên xốp- cookies và bánh tạt (pie)
đóng vỏ cứng gịn (crusts) và bánh ngọt - cakes có khuynh
hướng mềm hơn, vỡ vụn, thay v́ giống như bột nhăo
(doughy) . Khi đun nóng, đường thiên nhiên phối hợp với
amino acids theo tiến tŕnh gọi là phản ứng Maillard , gây
ra ḍn tan và màu sắc. Đường thiên nhiên cung cho thêm
khối phồng ( bulk) và ẩm độ cho các thực phẩm nướng ḷ.
Như là một
lời kết, ta thấy đầu óc ṭ ṃ đă làm xúc tiến nền khoa học
của con người để dẫn vào nhiều con đường rối rắm mới.
Đúng vậy!
Nhân loại đă khơi mào một cuộc cách mạng “khoa hoc mùi
vị” (taste science) Đây là một đường hướng khảo cứu đang
được các hảng nặng cân là
Campbell Soup Co., Coca-cola Co. và Nestle hổ trợ
để sản xuất những mặt hàng thực phẩm mới. Chúng ta hăy chờ
xem cuộc cách mạng sẽ đưa khẩu vị chúng ta đến một hướng nào
đây. Nhưng câu chuyện hảo ngọt với đường thiên nhiên và
đường nhân tạo đành phải ngưng ở đây chứ, phải không quí
bạn!
Lê
văn Lân |