THIỀN TRÚC LÂM
Trên danh nghĩa, Trúc
lâm Yên tử là Thiền tông. Nhưng trong tinh thần, cũng như
trên thực sinh tế tu tập và sự truyền thừa lịch sử của nó,
Trúc lâm phải được coi là một phái Thiền đứng ngoài Thiền
tông Trung Hoa. Tất cả ư nghĩa này có thể được tóm tắt
trong mấy câu thơ sau đây của Thiền tông Bản Hạnh
(v.t: TTBH)
Bụt truyền tự cổ chí kim
Ai tin giá trị tri âm thiệt thà
Xem Thánh đăng lục giảng ra
Khêu đèn Phật tổ sáng ḷa tam thiên
Việt nam thắng cảnh Hoa Yên
Sái tiêu cực lạc Tây Thiên những là
Vĩnh trấn cửu phẩm Di Đà
Phần hương chức Thánh quốc gia thọ trường.
(TTBH, tờ 19a, câu 699-706)-706)
Đoạn thơ này cho
chúng ta biết ít nhất là hai nét đặc sắc của Thiền Trúc
lâm. Nét thứ nhất, Trúc lâm vẫn xứng danh như một phái
Thiền chính thống, mà truyền thừa tâm ấn được khởi từ đức
Thích Ca, rồi như ngọn đèn được khêu sáng qua nhiều thế
hệ, cho đến Việt Nam.
Đó là tất cả ư nghĩa truyền thừa căn bản theo quan niệm
Thiền tông chính thống Trung Hoa. Nét đặc sắc khác, liên
hệ đến đường lối hành tŕ. Ở đây người ta thấy Trúc lâm đă
không đặt nặng sự thực hành công án để đốn ngộ đạo lư
Thiền như trong truyền thống Thiền tông Trung Hoa. Thiền
tông Trung Hoa kể từ nhà Minh về sau đă có sự thực hành
công án bằng niệm Phật. Theo đó, niệm Phật vẫn có thể là
phương tiện để đốn ngộ.
Trong khi đó, tác giả của TTBH lại nói đến lư tưởng văng
sanh, mà cấp bực thành tựu là chín phẩm sen vàng nơi cỏi
cực lạc. Nói một cách vắn tắt, phương pháp hành tŕ của
Trúc lâm nghiêng nặng phần tín ngưỡng tôn giáo. Động cơ
hay bối cảnh của phương pháp này, như đoạn thơ đă trích
dẫn nói rơ: “Phần hương chúc Thánh quốc gia thọ trường”.
Thế th́ Thiền Trúc lâm mang một sắc chủ nghĩa quốc gia khá
rơ. Và đây không phải là sự kiện khó hiểu, khi chúng ta
biết rằng, tất cả những vị khai sáng ra nó đều là những
người có trách nhiệm trực tiếp với sự tồn vong của quốc
gia dân tộc.
Trong hai nét đặc sắc
vừa kể, nét thứ nhất xác định với chúng ta rằng, Trúc lâm
đích thực là Thiền tông. Nét thứ hai dành cho Trúc lâm một
vị trí địa dư và lịch sử trong truyền thống tư tưởng của
dân tộc. Chương này sẽ trính bày nét thứ nhất. Trước khi
tŕnh bày các sự kiện liên hệ, chúng tôi xin dành ít trang
nói về quan niệm truyền thừa của phái Thiền Trúc lâm, để
cuối cùng thiết lập một bản Phả Hệ Truyền Thừa của phái
này.
Quan niệm truyền thừa
được TTBH giới thuyết khá rơ, qua lời đối đáp của vua Trần
Thái Tông và Phù Vân Quốc sư. Dưới đây là lời của Phù Vân
Quốc sư:
Sơn bổn vô Phật làm xong
Phật ở trong ḷng, Bụt tại mỗ tâm
Hiện ra nhăn nhĩ thanh âm
Từ mục tương cố chẳng tâm thời ǵ?
(TTBH, câu 235-238)
Một điểm khá lư thú
đối với chúng ta là quan niệm về Thiền của tác giả Đại
Chân Viên Giác Thanh (v.t: VGT).
Theo đó, tác giả đă đồng nhất Thiền tông và
Thiền đăng. Nh́n từ bên ngoài, danh từ Thiền đăng, tức
ngọn đèn của Thiền, chỉ có thể cho ta cái ấn tượng về lịch
sử tiếp nối của tông phái như sự nối tiếp của ánh đèn.
Nhưng ở đây tác giả VGT đi xa hơn nữa, khi ông giải thích:
“Tăng Hải Ḥa nói:
Trong đời các vị Đế th́ coi thiên hạ là của công, không
thể riêng cho con cháu mà tất phải truyền lại cho những
bậc Thánh hiền, v́ thế mới nảy ra cái thuyết Thiền (tức là
chữ thiền có nghĩa là trao lại). Thiền ấy là tỏ
nghĩa cùng trao truyền cho nhau vậy. Hiện nay các vị sư
sau tiếp nối vị sư Tổ trước, th́ gọi là thiền sàng.
Thiền sàng tức là đem cái giường và chỗ ngồi mà trao lại,
cũng như các vị Đế đem ngôi vua mà trao lại cho nhau vậy.
Nhưng sự trao lại ấy không phải là trao lại cái ngôi vị mà
chính là trao lại cái tâm.
“Đức Quan Thế Âm Bồ
Tát chỉ đem cái tâm lượng rộng lớn trao cho chư Phật, rồi
chư Phật đều lấy (tờ 61a) tâm ấy là tâm của ḿnh. Câu kệ
nói:
Ngàn sông có nước ngàn sông nguyệt
Muôn dặm không mây muôn dặm trời.
(TTBH, câu 661-664)-664)
“Như thế mới gọi là
Thiền. Nếu bằng chỉ trao lại cái ngôi vị mà không có cái
tâm tinh nhất để trao th́ có cần ǵ đến vua Nghiêu vua
Thuấn.
“Hiện nay nhất thiết
các tăng chúng chỉ thấy ngồi lặng tĩnh tâm th́ gọi là
Thiền Định, và dạy cho Thiền định tức là an
định, như thế thực là mất cái nghĩa chữ Thiền. Măi đến sau
khi đức Đại Thiền sư phát minh ra nghĩa đó mới hiểu rơ hai
chữ Thiền định có nghĩa là đem cái tâm an định mà truyền
lại vậy. Gần đây ở chùa Đại Từ thuộc về Lam sơn, phía bên
cạnh có một cái am gọi là am Thụ Thụ (chữ Thụ trên là trao
cho, chữ Thụ dưới là nhận lấy) và bày thứ tự các tượng của
các sư Tổ các đời kế tiếp, xem đó dù không biết cái tâm
thụ thụ là như thế nào, song sự trao cho và nhận lấy đó có
lẽ đúng với ư nghĩa chữ Thiền.”
(Nguyên văn:
海和僧曰帝者之世,天下為公,不自私其子孫,而必傳諸賢聖。是以有禪之說。禪也者遞相傳授之謂也。今後師繼前祖師,
曰禪床曰禪坐;
以創與坐相傳;
亦猶帝者之以位相禪耳。豈知禪不以位而以心。觀世音菩薩唯以心量之廣大禪諸佛。
諸佛閣以其心為心。
偈云
千江有水千江月
萬里無雲萬里天
這方謂之能禪。
若徒禪之位而無精一之心法以禪之,亦奚取於堯舜況區區床坐能不愧人之尊信也哉。今我一切僧眾但見靜坐息心謂之禪定,便訓禪定為安定,
大失禪字之義。
自大禪師發明之後方知禪定者以心之靜定相傳。近見覽山大悲寺旁有授受庵列諸代祖師像,雖不知授受之心為何如,
然所以相授受者其禪之謂歟
Hải Ḥa tăng viết: Để
giả chi thế, thiên hạ vi công bất tự tư kỳ tử tôn nhi tất
truyền chư Thánh hiền. Thị dĩ hữu Thiền chi thuyết. Thiền
dă giả đệ tương truyền thụ chi vị dă. Kim hậu sư kế tiền
Tổ sư, viết thiền sàng, viết thiền ṭa, dĩ sàng dự tọa
tương thiền, diệc do Đế giả chi dĩ vị tương thiền nhĩ.
Khởi tri thiền bất dĩ vị nhi dĩ tâm. Quan Thế Âm Bồ Tát
duy dĩ tâm lượng chi quảng đại thiền chư Phật. Chư Phật
các dĩ kỳ tâm vi tâm, kệ vân:
Thiên giang hữu thủy thiên giang nguyệt,
Vạn lư vô vân vạn lư thiên.
Giá phương vị chi
năng thiền. Nhược đồ thiền chi dĩ vị nhi vô tinh nhất chi
tâm pháp dĩ thiền chi, diệc hề thủ ư Nghiêu Thuấn? Huống
khu khu sàng ṭa năng bất quí nhân chi tôn tín dă tai.
Kim ngă nhất thiết
tăng chúng đăn kiến tĩnh tọa tức tâm vị chi thiền
định, tiện huấn thiền định vi an định. Đại thất
thiện tự chi nghĩa. Tự Đại Thiền sư phát sinh chi hậu
phương tri Thiền định giả, dĩ tâm chi tĩnh định tương
truyền. Cận kiến Lăm sơn Đại bi tự bàng hữu Thụ thụ am,
liệt chư đại Tổ sư tượng, tuy bất tri thụ thụ chi tâm vi
hà như nhiên, sở dĩ tương thụ thụ giả kỳ Thiền chi vị dư?).
Đoạn văn được trích
dẫn rất dài trên đây không những đă cho ta biết tính cách
quan trọng về sự truyền thừa của Thiền, mà c̣n nói đến cái
đặc sắc của Thiền Trúc lâm, khi tác giả coi sự truyền thừa
liên tục của Thiền y hệt như sự turyền thừa liên tục của
một vương triều; tức là đă gói ghém bản chất vương giả của
Trúc lâm trong tinh thần Thiền học của nó. V́ thế, tác giả
đă có lư khi tự phụ rằng chỉ riêng phái Thiền Trúc lâm mới
có nổi một sắc thái Thiền học đăïc biệt như vậy, cho dù
Trung Hoa hay Ấn độ chưa chắc đă có người thực hiện được
tinh thần hành động bao dung và phổ biến như ḍng Thiền
Trúc lâm của Việt Nam ta.
Đằng khác, cũng trong
một quan niệm truyền thừa khá nghiêm chỉnh như các tác
phẩm được dẫn chứng ở trên, đoạn lược dẫn của Huệ Nguyên
viết cho Thượng Sỹ Ngữ Lục (v.t: TSNL) đă kê khai
thứ tự truyền thừa của Trúc lâm một cách liên tục và mạch
lạc. Quan điểm then chốt của tác giả bài lược dẫn đó vẫn
là: Phật Phật duy truyền tâm ấn, Tổ Tổ mật phú ấn tâm.
Nhưng sự truyền thừa này được tác giả bài lược dẫn nối kết
giữa các bậc tiền bối của Trúc lâm với những truyền nhân
cuối cùng của ḍng Thiền Vô Ngôn Thông. Dĩ nhiên, chúng ta
biết rằng Vô Ngôn Thông được Thuyền uyển tập anh
(v.t: TUTA) coi như là thân truyền từ Bách Trượng.
Chúng ta đă dẫn chứng
ba tác phẩm quan trọng của phái Trúc lâm: TSNL, TTBH và
VGT, mà tác phẩm nào cũng có thiết lập một phả hệ truyền
thừa liên tục, từ đức Thích Ca trên hội Linh sơn, rồi
Bồ-đề-đạt-ma, rồi ngang qua các Tổ Thiền Trung quốc, sau
cùng th́ đến Thiền Trúc lâm Việt Nam. Trên đại thể, chúng
đồng quan điểm về triết lư truyền thừa. Nhưng trong dữ
kiện lịch sử mà chúng cung cấp, c̣n nhiều chi tiết cần
khảo sát lại. Vậy chúng ta hăy thực hiện công việc khảo
sát trong các mục dưới đây của chương này.
TIẾT
MỘT
LỊCH SỬ TRUYỀN THỪA
THIỀN TÔNG VIỆT NAM VÀ PHÁI THIỀN TRÚC LÂM
Việt Nam bốn bể cửu châu
Hưng sùng đạo Bụt chợ quê khắp miền
Gió thung thổi lọt am hiên
Tinh thần sảng nhớ ḷng Thiền chép ra
Trước kể tông phái Thiền gia
Ai ai học đạo xem ḥa biết hay
Tây Thiên Thích Ca là Thầy
Truyền cho Ca-diếp liền rày A Nan
Tính được nhị thập bát viên
Hai mươi tám Tổ Tây thiên thuở này
Đạt Ma Tổ mới phương
tây
Vượt sang Đông độ truyền nay kệ rằng:
…………….
(TTBH, câu 17-28)7-28)
Đoạn thơ nôm trên đây
được trích từ những lời mở đầu của TTBH. Chúng không cung
cấp cho ta những dữ kiện cần thiết về sự truyền thừa của
Thiền tông Việt Nam. Nhưng chúng đă quả quyết với chúng ta
một điều rất nghiêm trọng: Nói tới Thiền tông là phải nói
từ đức Thích Ca trở xuống, và tất cả Thiền tông ở Đông độ
đều phải bắt đầu kể từ Bồ-đề-đạt-ma. Đúng như cung cách
của Thông Biện khi trả lời cho Thái hậu nhà Lư về lịch sử
Thiền tông Việt Nam. Vậy, tại Việt Nam, người ta đă nối
kết như thế nào để có sự truyền thừa liên tục của Thiền
tông? Cho đến nay, chúng ta vẫn không có giải thích nào có
thẩm quyền hơn ngoài giải thích của TUTA. Theo đó, Thiền
tông được gọi là tâm tông của Phật, ở Ấn th́ bắt đầu với
Ca-diếp; ở Trung Hoa, bắt đầu với Bồ-đề-đạt-ma; và ở Việt
Nam, bắt đầu với T́-ni-đa-lưu-chi và Vô Ngôn Thông. Riêng
sách Thiền uyển thống yế kế đăng lục của Như Sơn
đời Hậu Lê lại không liệt kê danh tánh hai vị sơ Tổ của
ngành Thiền tông Việt Nam vào trong thế hệ truyền thừa.
Sách TTBH h́nh như cũng giống thuyết của Kế đăng lục
(v.t: KĐL). Trong khi đó, bài lược dẫn trong TSNL h́nh như
theo thuyết của TUTA, nên nối kết sự truyền thừa của phái
Thiền Trúc lâm Yên tử với ḍng Thiền Vô Ngôn Thông. Chúng
ta thử khảo sát giá trị lịch sử của các thuyết trên đây,
chia chúng làm hai nhóm. Nhóm thứ nhất, lấy TUTA làm
chính. Nhóm thứ hai, lấy KĐL làm chính đối chiếu với TTBH.
Bởi v́, TUTA được cấu kết theo một h́nh thức bác học và
làm lộ hẳn truyền thống sáng tác của Thiền tông, trong khi
TTBH thuần túy là những lời ca dân giả, nên có thể coi là
đại diện cho kiến thức về lịch sử Thiền tông của quảng đại
quần chúng.
Thuyết của Thiền
uyển tập anh: Tác giả của sách này có lẽ là môn hạ của
phái Vô Ngôn Thông nên đă dành cho Vô Ngôn Thông và những
người thừa kế một vị trí đặc biệt quan trọng. Dù vậy, ông
chắc chắn không biết ǵ nhiều về thân thế của vị khai tổ
của ḿnh, ngoài những dữ kiện có sẳn trong Truyền
đăng lục (v.t: TĐL), một quyển sử Thiền tông căn
bản của Trung Hoa. Cái khó khăn cho chúng ta là không hiểu
bằng cách nào Thông Thiên sư của TĐL lại là được đồng nhất
với Vô Ngôn Thông của TUTA. Mặc dù Tập anh có nói
rằng, Vô ngôn Thông là một biệt danh mà người đương thời
đặt cho, và biệt danh đó TĐL gọi là Bất Ngữ Thông. Thế th́
tên thật của Thiền sư này không rơ là ǵ. Vă lại, TĐL chép
sự tích của Thông Thiền sư đến lúc trở về nguyên quán,
tỉnh Quảng châu, trụ tŕ nơi chùa Ḥa an, rồi thôi. Không
thấy nói những sự việc liên quan đến sư về sua này nữa.
Tuy nhiên, không phải v́ thế mà chúng ta nói TUTA gán ghép
Vô Ngôn Thông với Thông Thiền sư TĐL một cách gượng gạo.
Hiển nhiên, c̣n đợi nhiều khảo cứu giá trị về vấn đề này.
Những thiếu sót của
TUTA đối với Vô Ngôn Thông quá ít, nếu ta so với những ǵ
mà sách nói về T́-ni-đa-lưu-chi. Ngay cái nguyên quán của
Thiền sư này, Tập anh đă ghi chép một cách trái
ngược nếu đối chiếu với các dữ kiện mà tài liệu sử của
Phật giáo Trung Hoa cung cấp. Trước hết, Tập anh
nói rằng T́-ni-đa-lưu-chi người gốc Nam Ấn, trong khi tác
phẩm gần với T́-ni-đa-lưu-chi nhất, Trường Pḥng lục,
lại ghi rơ là người nước Ô-trượng, thuộc miền Bắc Ấn. Rồi
đến niên đại dịch kinh, chúng ta được biết Tập anh
phỏng chừng sáu năm trước năm Đại tường thứ 2 (580), đời
nhà Chu. Nhưng Trường Pḥng lục lại cho biết rất rơ
cả về năm cũng như tháng: Nhà Tùy, niên hiệu Khai hoàng
thứ 2 (582), tháng 2, T́-ni-đa-lưu-chi dịch xong kinh
Tượng đầu tinh xá, và cũng trong niên hiệu đó, tháng 7
dịch xong kinh Phương quảng tổng tŕ. Tập anh
không những chỉ mơ hồ về niên đại phiên dịch mà c̣n lầm cả
tác phẩm phiên dịch, khi sách quả quyết kinh Báo nghiệp
sai biệt được T́-ni-đa-lưu-chi phiên dịch, mà kỳ thực,
kinh này do Pháp Trí dịch, cùng trong một thời gian và địa
điểm với T́-ni-đa-lưu-chi. Những dữ kiện vừa nói cho thấy
TUTA có sử dụng tài liệu của lịch sử Phật giáo Trung Hoa,
nhưng lại sử dụng một cách sai lạc
. V́ thế chúng ta không thể không thận trọng đối với sự
tŕnh bày của Tập anh về truyền thừa của Thiền tông
Việt Nam. Bỏ ra ngoài tính cách bấp bênh trên giá trị lịch
sử, chúng ta cũng có thề thử hỏi TUTA có thể cung cấp một
vài chỉ điểm nào về tính cách truyền thừa của Thiền tông
Việt Nam không? Nếu có thể trả lời một cách vắn tắt, chúng
ta có thể ghi lại hai dữ kiện trong Tập anh để làm
luận chứng cho vấn đế.
Điểm thứ nhất, tính
cách nhất quán của hai ḍng Thiền được ghi trong Tập
anh. Phân tích kỹ, chúng ta sẽ thấy rơ đa số các Thiền
sư trong ḍng T́-ni-đa-lưu-chi đều có khuynh hướng thần
bí, nghiêng nặng về tín ngưỡng tôn giáo nhân gian. Trong
khi đó, đa số các Thiền sư thuộc ḍng Vô Ngôn Thông
nghiêng hẳn về phương diện văn học và tư tưởng.
Điểm thứ hai, chúng
ta thấy rải rác trong các tiểu sử những dữ kiện được
truyền tụng ở nhân gian hơn là có tính cách lịch sử khách
quan
.
Những ǵ mà được lưu
truyền thịnh hành trong nhân gian, th́ dù không có tính
cách lịch sử cũng phải trở thành lịch sử. Luận chứng này
cho phép chúng ta chấp nhận đường lối thiết lập thế hệ
truyền thừa cho Thiền tông Việt Nam của TUTA.
Thế hệ truyền thừa
của Thiền tông Việt Nam theo thuyết của TUTA, chúng ta có
thể lập một đồ biểu đại lược như sau:

Thuyết của Kế đăng
lục (v.t : KĐL) Theo lời tựa của Ḥa thượng Phúc Điền,
viết cho lần trùng khắc vào năm Tự Đức thứ 12 (1859), th́
tác phẩm được mô phỏng theo Ngũ đăng hội nguyên,
chia thế hệ truyền thừa theo năm nhánh của Thiền tông
Trung Hoa, mà trong số đó có hai nhánh là Lâm tế và Tào
động được truyền vào Việt Nam. KĐL chép thứ tự truyền thừa
của hai nhánh này. Về nhánh Lâm tế, ở Việt Nam bắt đầu với
Chuyết Công. Nhánh Tào động bắt đầu với Thủy Nguyệt. Mặc
dù lời tựa ấy có nhắc đến Ngũ đăng hội nguyên,
nhưng tác phẩm này chỉ chép tiểu sử các Thiền sư Trung Hoa
đến đời thứ 14, tính theo ḍng Nam Nhạc, và đời thứ 15
tính theo ḍng Thanh Nguyên. Trong khi đó, Chuyết Công chỉ
có thể thuộc vào đời thứ 37 tính theo ḍng Nam Nhạc. Sau
Ngũ đăng hội nguyên được viết vào năm Sùng trinh
thứ 17 (1644), tác giả là Tĩnh Trụ; chép từ đời thứ 15 của
Nam Nhạc vào thứ 16 của Thanh Nguyên. Chúng tôi t́m thấy
một tác phẩm khác, nó cung cấp cho ta nhiều chi tiết quư
giá cho việc thiết lập sự liên lạc truyền thừa giữa các
ngành Thiền tông Trung Hoa đến Việt Nam. Đó là Ngũ đăng
toàn thư, tác giả là Siêu Vĩnh, viết vào năm Khang Hi
thứ 12 (1692). Niên đại này xác nhận Siêu Vĩnh đồng thời
với Chuyết Công, hoặc thầy của Chuyết Công. Tác phẩm này
quư giá ở chỗ nó cho biết niên đại sinh hoạt của các Thiền
sư cho đến thầy tṛ của Chuyết Công, điều mà KĐL không đá
động ǵ đến. V́ không cốt ư đi sâu vào chi tiết, nơi đây
chúng tôi chỉ xin đơn cử trường hợp đối chiếu điển h́nh,
giữa Ngũ đăng Toàn thư và Kế đăng Lục.
Trước hết, cũng nên
ghi nhận lối tŕnh bày phả hệ truyền thừa theo KĐL. Theo
đó, sách chép Ca-diếp là Tổ thứ nhất, rồi lần lượt tính
liên tục ngang qua Trung Hoa cho đến Việt Nam. Như vậy,
thay v́ chép Huệ Năng là tổ thứ 6 theo thông lệ th́ sách
ghi là Tổ thứ 33. Và cũng theo thông lệ của các quyển sử
Thiền Trung Hoa, người ta ghi thứ tự truyền thừa của năm
ḍng Thiền theo hai nhánh lớn là Nam Nhạc và Thanh Nguyên.
Thí dụ: thay v́ ghi rằng Lâm Tế thuộc đời thứ 4 của Nam
Nhạc. KĐL ghi là đời thứ 38; tức là kể từ Ca-diếp truyền
đến đă được 38 đời. Dưới đây là ba thế hệ Chuyết Công,
thuộc phả hệ Nam Nhạc, theo Ngũ đăng Toàn thư.
-Kế đăng Lục:
Tổ thứ 37, Thiên Đồng Mật Ḥa thượng. Theo Ngũ đăng
toàn thư: Ḍng Nam Nhạc đời thứ 33, Thiên Đồng Mật Vân
Viên Ngộ Thiền sư, tịch năm Vạn lịch thứ 12 (1584).
-Kế đăng Lục:
Tổ thứ 8, Lâm Dă Kỳ. Ngũ đăng Toàn thư: Nam Nhạc đời thứ
34, Thai Châu phủ, Thông Huyền Lâm Dă Thông Kỳ Thiền sư,
tịch năm Nhâm th́n trong niên hiệu Thuận trị (1652).
-Kế đăng Lục:
Tổ thứ 69, Ẩn Mật Ḥa thương. Ngũ đăng Toàn thư:
Bảo An Nhị Ẩn Mật Thiền sư, tịch năm Giáp dần đời vua
Khang Hi (1664).
Về vị kế tiếp, KĐL
ghi là Nam sơn Trạng nguyên Tăng-đà-đà Ḥa thượng, truyền
nhân của Ấn Mật. Như vậy sư thuộc đời thứ 36 của Nam Nhạc.
Ngũ đăng toàn thư dành tất cả 20 quyển để chép tiểu
sử của các thiền sư thuộc đời này. Nhưng trong số đó chúng
tôi đă không t́m thấy danh tánh của Tăng-đà-đà, do đó
không biết niên đại đích thực. Cứ theo sự tích mà KĐL
chép, sư rất có thịnh danh đương thời; thịnh danh ấy vang
dội đến cả triều đ́nh. Triều đ́nh đây chắc hẳn là triều
vua Khang Hi. Với thịnh danh ấy chúng tôi chưa hiểu lư do
tại sao tác gỉa của Ngũ đăng toàn thư không biết
đến. Hiển nhiên, theo niên đại viết Ngũ đăng Toàn thư, năm
1669 và năm tịch của Ấn Mật, 1664, th́ tác giả hẳn là đồng
thời, hay ít nữa là trẻ hơn, đối với Tăng-đà-đà.
Truyền nhân của
Tăng-đà-đà là Chuyết Công. KĐL chép: Tổ thứ 72, Mân Điện
Thanh Chương Hải Trừng Văn Chuyết Công Ḥa thượng. Chuyết
Công người quê ở Thiện sơn (?), có lẽ trong vùng Chiết
giang, Trung Hoa.
Sau khi đắc pháp với thầy là Tăng-đà-đà, sư vào Việt Nam,
mở đường cho phái Thiền Lâm tế tại đây. Chuyết Công truyền
pháp cho Minh Lương, rồi Minh Lương truyền cho Chân
Nguyên, tác giả TTBH.
V́ Chân Nguyên trụ tŕ tại chùa Long động trên núi Yên Tử,
nên có liên hệ mật thiết với phái Thiền Trúc lâm của ta.
Có lẽ chính v́ thế nên TTBH mới nói:
Điều ngự cổ Phật tái lai
Tông giáo trong ngoài phó chúc tuân y
Thiệt ḍng Lâm Tế tông chi
Pháp phái Vĩnh thùy Yên Tử Thiền Lâm
(TTBH, câu
755-758)
Nghĩa là, Tổ thứ nhất
của Trúc lâm, vua Trần Nhân Tôn, hiệu Điều Ngự Giác Hoàng,
vốn là cổ Phật tái thế, thuộc ḍng Thiền Lâm tế.
Theo những dữ kiện kể
trên, chúng ta có thể thiết lập một đồ biểu phả hệ truyền
thừa của Thiền tông Việt Nam như sau:

Trong đồ biểu
B, không những cho thấy thứ tự truyền thừa của Thiền tông
Việt Nam, mà c̣n vạch ra gốc tích của phái Thiền Trúc lâm và
hậu thân của nó. Gốc tích nầy TTBH chỉ nói một cách mơ hồ,
do đó, đồ biểu B, nơi hàng 38 Lâm Tế, chúng tôi gạch nối
đường ngang nối qua đầu hàng Trần Nhân Tôn, mà phía trên
hàng Trần Nhân Tôn có một dấu hỏi. Trong khi đó, ḍng truyền
thừa vẫn liên tục từ Ca-diếp trở xuống, cho đến hàng Chân
Nguyên. Phía trên hàng Chân Nguyên, chúng tôi kéo một đường
ngang nối với cột Trần Nhân Tôn diễn ra nơi Chân Nguyên.
Chúng ta có một
đồ biểu về sự truyền thừa của Trúc lâm, in trong TSNL. Đồ
biểu này có lẽ do Huệ Nguyên thiết lập, khi Sư viết bài lược
dẫn của Ngữ lục ấy, vào năm Cảnh hưng thứ 24 (1763).
Xin ghi ở đây những chi tiết chính của đồ biểu đó:
Chúng ta được biết
rằng, Thông Thiền, Túc Lự và Ứng Thuận là ba vị Thiền sư
trong những thế hệ cuối cùng của Vô Ngôn Thông. Theo TUTA.
Như vậy, hiển nhiên Trúc lâm là một phái Thiền hậu thân của
phái Vô Ngôn Thông.
Khảo sát các đồ biểu
được thiết lập ỡ trên, chúng ta thấy rơ hai quan niệm khác
nhau về sự truyền thừa của Thiền tông Việt Nam qua TUTA và
KĐL. Đối với TUTA, mặc dù các Tổ thiền của Việt Nam đều có
gốc tích từ Trung Hoa, nhưng sự truyền thừa không theo thế
hệ Trung Hoa một cách chặt chẻ. Trong thế hệ Trung Hoa,
Thiền tông được phát triển theo năm chi nhánh, trực thuộc
dưới hai ḍng chính tông là Thanh Nguyên và Nam Nhạc. Thế hệ
này là căn bản của Truyền Đăng Lục, mà các quyển sử Trung
Hoa sau đó hoàn toàn mô phỏng theo. Ở TUA, T́-ni-đa-lưu-chi
xuất hiện trước Huệ Năng, nên có thể đứng riêng ngoài thế hệ
chính tông của Trung Hoa là điều hiển nhiên. Vô Ngôn Thông,
trực thuộc ḍng chính tông Nam Nhạc của Trung Hoa, nhưng
TUTA lại kể Cảm Thành là thế hệ thứ nhất, cho đến thế hệ thứ
15 là Ứng Thuận, đồ biểu của TSNL (xem đồ biểu C) đặt vào
hàng tiền bối của phái Trúc lâm Việt Nam. theo sự tŕnh bày
này, tất cả các ngành Thiền tông Việt Nam đều có một vị trí
riêng biệt, không nằm trong truyền thừa chính tông Trung
Hoa. Và như vậy, Thiền tông Trung Hoa và Thiền tông Việt Nam
chỉ là bà con.
Ngược lại, KĐL cố gắng
đặt Thiền tông Việt Nam vào phả hệ truyền thừa chính tông
của Trung Hoa. Mặc dù sách này ghi thứ tự của các thế hệ
Thiền kể từ Ca-diếp liên tục trở xuống, nhưng vẫn không ra
ngoài sự chi phối của quan niệm truyền thừa của các tác giả
Trung Hoa. Do đó, trong đồ biểu truyền thừa mà chúng tôi
thiết lập theo KĐL (xem đồ biểu B) đă không có hai phái
Thiền khởi thủy của Việt Nam là T́-ni-đa-lưu-chi và Vô Ngôn
Thông. Sự liên hệ giữa phái Trúc lâm và nhánh Thiền Lâm tế
được ghi trong đồ biểu B của chúng tôi là căn cứ theo TTBH.
Mối liên hệ này không những đă không chứng tỏ được tinh thần
độc lập của Thiền tông Việt Nam, mà c̣n cho thấy đà phát
triển thoái hóa của nó.
Ở đây theo chúng tôi, ngay từ khởi thủy, Phật giáo Việt Nam
đă không phải là con đẻ của Phật giáo Trung Hoa dù không
phải là không có những liên hệ mật thiết. Hai phái Thiền
Việt Nam, T́-ni-đa-lưu-chi và Vô Ngôn Thông, đă đóng góp
không ít cho tinh thần độc lập và tự chủ của dân tộc, mà
lịch sử đă chứng tỏ qua sự nghiệp của Vạn Hạnh và Khuông
Việt. Rồi đến phái Trúc lâm th́ tinh thần độc lập trong tư
tưởng Phật học Việt Nam đă lên đến cao độ. Sáng tổ của Trúc
lâm không c̣n là hậu duệ của Bồ-đề-đạt-ma, mà ít ra cũng là
ngang hàng, nên mới có hiệu là Điều Ngự Giác Hoàng. Danh từ
này vốn chỉ cho đức Thích Ca.
Như vậy, trong lịch sử
truyền thừa của Thiền tông Việt Nam, Trúc lâm có một vị trí
rất lớn, nếu không nói là điểm đồng qui. Rồi chúng ta sẽ
thấy, trên lănh vực tư tưởng cũng như trong đường lối sinh
hoạt, Trúc lâm đă là điểm đồng qui của mọi chiều hướng phát
triển của tư tưởng Việt Nam, cả trong và ngoài Phật giáo.

TIẾT HAI
CÁC TIỀN BỐI PHÁI THIỀN TRÚC LÂM
Nói đến các vị tiền bối
của Trúc lâm tức là nói đến gốc tích của nó. Cái học và cái
hành của các vị này sẽ cho chúng ta biết phong thái sinh
hoạt của Phật giáo trong khoảng đầu nhà Trần. Trong các tiểu
sử sẽ được tŕnh bày dưới đây, chúng ta cũng nên để ư trước
hết về vai tṛ của Cư sĩ. Họ là Cư sĩ, nhưng đương thời, hay
về sau, được liệt vào danh sách những người nối tiếp ngọn
đèn chấp pháp, duy tŕ cái tông chỉ tâm yếu của Phật. Đó là
một thời kỳ đặc biệt của Phật giáo Việt Nam. Trong thời đó,
triết lư hành động của đại thừa, nhất là Đại thừa Thiền
tông, được phát huy và được thực hiện một cách đáng mệnh
danh là viên dung vô ngại.
Danh hiệu của những vị
mà chúng tôi tŕnh bày ở đây, trước hết căn cứ theo đồ biểu
trong bài lược dẫn của TSNL, và kế đó, là cuộc đời của họ,
được viết theo những tài liệu mà chúng tôi hiện có. Tài liệu
này không nhiều lắm, nhưng chúng cũng thủ vai tṛ chứng tích
lịch sử một cách khá đầy đủ. Dù sao, điều mà chúng ta cần có
là biết và hiểu một phần nào thái độ hành động của họ; để
rồi trong những phần khác, chúng ta có thể hiểu những ǵ
đáng gọi là điểm then chốt trong phái Thiền Trúc lâm.
Theo đồ biểu trong
TSNL, về các tiền bối của Trúc lâm, trước hết chúng ta có
Thông Thiền, Tức Lự và Ứng Thuận. Đó là ba vị Thiền sư thuộc
các thế hệ thứ 13, 14 và 15 của ḍng Thiền Vô Ngôn Thông.
Tiểu sử của họ được chép trong TUTA. Ta có thể ghi lại như
sau:
1. THÔNG THIỀN.
Thiền uyển tập anh
cho biết, đời thứ 13 của ḍng
Thiền Vô Ngôn Thông gồm có 5 vị, trong số đó, ba vị khuyết
lục. Hai vị c̣n lại đều là truyền nhân của Thiền sư Thường
Chiếu.
Thông Thiền, hay Thông
Sư Đại Sỹ, người làng Ốc hương, huyện A la, họ Đặng. Buổi
đầu, cùng với bạn là Quách Thần Nghi đồng thời Thường Chiếu,
ở chùa Lục tổ làm thầy. Một hôm, Sư vào thất để thỉnh ích,
hỏi:
-Thế nào th́ được gọi
là đă giác ngộ Pháp Phật?
Thường Chiếu đáp:
-Phật Pháp không thể
giác được th́ làm ǵ có cái pháp giác ấy.
Qua lời đó, Sư lĩnh hội
yếu chỉ. Rồi sau, trở về quê của ḿnh. Kẻ tăng người tục kéo
đến học hỏi rất đông. Phàm ai hỏi, Sư đều đem tâm ấn mà ấn
chứng cho.
Có người hỏi:
-Người xuất thế là
người thề nào?
Sư đáp:
-Không phải thấy đạo
của cổ nhân là ǵ, mà cứ quán rằng năm uẩn đều không, bốn
đại là vô ngă. Cái chân vốn vô tướng, không đến cũng không
đi. Lúc sinh, tánh không đến, lúc chết, tánh không đi. Tâm
và cảnh nhất như, tṛn đầy và vắng lặng. Nếu có thể tỏ ngộ
ngay được chỗ đó như vậy, không c̣n bị buộc ràng vào trong
quá khứ, hện tại hay vị lai. Đĩ là người xuất thế. Điều
trọng yếu là đừng mảy may nhắm tới một mục đích nào cả.
Hoặc có người hỏi về ư
nghĩa vô danh, Sư đáp:
-Phân biệt các uẩn ấy,
thấy rằng tánh của chúng vốn không tịch. V́ là không cho nên
không thể diệt. Đó là ư nghĩa vô sinh.
Hoặc có kẻ hỏi về lư vô
sinh, Sư đáp:
-Nhờ soi tỏ thấy các
uẩn, mới làm hiển lộ tánh không. Tánh không th́ không hề
diệt. Đó là lư vô sinh.
Có thầy Tăng hỏi: Phật
là ǵ? Sư đáp:
-Bổn tâm là Phật. V́
vậy, Đường Tam Tạng Huyền Trang nói rằng: Nếu tỏ rơ được tâm
đạo, đó gọi là Tổng tŕ, tỏ ngộ pháp vô sinh, đó gọi là siêu
giác.
Sư tịch vào năm Kiến
trung thứ 4 (1228) đời nhà Trần.
Sư tịch vào lúc Trần
Thái Tông sáng nghiệp được bốn năm. Giai đoạn giao thời giữa
nhà Trần và nhà Lư hẳn là có những biến chuyển trọng đại
trên phương diện xă hội. Chúng ta không hiểu những biến
chuyển này ảnh hưởng đến tư tưởng Thiền tông đến mức độ nào.
Một sự kiện trong tiểu sử của Quách Thần Nghi, bạn đồng học
của Thông Thiền, có lẽ cho ta một ít tin tức. Đó là vào năm
Kiến gia thứ 6 (1216), trước khi mất, Quách Thần Nghi trao
cho đồ đệ ḿnh là Ấn Không bản đồ phả hệ của Thiền tông Việt
Nam do Thông Biện thiết lập. Bản đồ này, Quách Thần nghi
nhận từ thầy của ḿnh, mà cũng là thầy của Thông Thiền, là
Thường Chiếu. Cái gây cho chúng ta ngạc nhiên ở đây là Quách
Thần Nghi hỏi Thường Chiếu về nguồn gốc tông phái của ḿnh:
-Con theo thờ thầy đă
lâu năm, thế mà chưa biết người bắt đầu truyền đạo này là
ai. Mong thầy chỉ dạy cho biết thứ tự các đời truyền pháp.
Một câu hỏi tương tự
cũng đă được TUTA chép trong tiểu sử của Thông Biện. Nhưng
nó được đặt ra từ bà Thái hậu nhà Lư nên sự kiện không đáng
ngạc nhiên mấy. Nhưng một trăm năm sau được nhắc lại từ
miệng của một truyền nhân trong ḍng Thiền Vô Ngôn Thông,
tức là cùng một ḍnối Thông Biện. Thế th́, hóa ra sự tiếp
nối của các đời chỉ trong khoảng một trăm năm mà đă mất hết
dấu vế lịch sử. Như vậy, chúng ta có thể quả quyết mà không
nhầm lẫn rằng, ḍng Vô Ngôn Thông trong khoảng đầu triều đại
nhà Lư, rực rỡ với những Thiền sư lỗi lạc như Viên Chiếu
(1090), Cứu Chỉ (1067), Thông Biện (1134), Măn Giác
(1090)…….đến cuối đời nhà Lư th́ đă tàn lụi, chỉ c̣n lại một
vang bóng. Dù vậy, trong tiểu sử của Thường Chiếu, Tập anh
cho biết Thường Chiếu có soạn một tác phẩm mang danh Nam
tông tự Pháp đồ, lưu hành ở đời. Rất tiếc chúng ta không có
bản đồ này để khảo sát những biến chuyển trong ṿng một trăm
năm của Thiền tông Việt Nam, mà hậu quả sau cùng chắc chắn
là sự xuất hiện của Trúc lâm.
2. TÚC LỰ.
Sư người quê ở làng Chu
Minh, phủ Thiên Đức, trụ tŕ chùa Thông Thánh. Khi tuổi c̣n
nhỏ, đă ham học hết thảy sách sở thế tục. Rồi một hôm, bỏ
tất cả những sở học mà thờ Thông Thiền Đại sĩ làm thầy, học
thấu chỗ uyên áo của thầy. Có lần, trong ngày giải sư, Sư
đặt máy bắt được một con chim, đem dâng Thông Thiền, Thông
Thiền gạn hỏi: “Con đă làm Tăng mà c̣n phạm giới sát, không
sợ quả báo ngày sau sao?” Sư đáp: “Bất cứ vào thời nào, con
cũng chẳng thấy các vật đó, cũng không thấy có thân của
ḿnh, và cũng chẳng biết có quả báo sát sinh.” Bởi cớ đó,
Thông Thiền coi Sư là người pháp khí, nên đặt vào hàng đệ tử
nhập thất. Lại ấn chứng riêng cho rằng: “Nếu con mà dùng
được cái khoảnh đất đó, th́ dù có làm ra tội ngũ nghịch,
thất già, cũng có thể thành Phật.” Ngay lúc ấy, có thầy Tăng
gần đó lén nghe được, Sư bèn kêu lên: “Khổ thay, dù có cái
chuyện đó, con cũng chẳng nhận.” Thông Thiền mới lớn giọng:
“Giặc! Giặc! Cần ǵ phải nhờ đến hạng phi nhân mới xong! Qua
lời đó, Sư lĩnh ngộ. Về sau, trở về chùa Thông Thánh giảng
dạy và nghiên cứu tông chỉ của Thiền. Đệ tử tâm đắc của Sư
là Cư sĩ Ứng Thuận, cũng là truyền nhân của Sư.
Không thấy nói Sư mất
vào năm nào. Sư có bạn đồng học là Thiền sư Hiện Quang. Cả
hai cùng thờ Thông Thiền làm thầy. Nhưng Hiện Quang chẳng
may được Hoa Dương Công chúa trọng để cho đến nỗi bị đời dèm
phá, nên về sau, Sư lánh ḿnh trong núi trải qua 10 năm. Vua
Lư Huệ Tông có sai sứ đến thỉnh, nhưng Sư cũng từ chối. Sư
mất năm Kiến gia thứ 1 (1221), trước năm mất của Thông Thiền
7 năm.
3. ỨNG THUẬN.
Ưng Thuận, hay Ứng
Vương, là đời thế hệ cuối cùng của Vô Ngôn Thông trong TUTA.
Thế hệ này, có 7 người, mà tiểu sử chỉ c̣n lại duy một Ứng
Vương. Người phường chợ Vơ, họ Đỗ, tên húy là Văn. Tánh dững
dưng, không hay bon chen với thế sự. Trong triều Chiêu lăng,
tức triều vua Trần Thái Tông. Ông làm quan đến chức Trung
phẩm Phụng ngự. Những lúc rỗi rảnh, thường để hết tâm trí
vào việc học Thiền, tay không rời sách, ḍ cho tới tận cùng
ư chí của Tổ, tỏ rơ được tâm tông. trong hàng môn phái của
Thông thánh Tức Lự, ông đă đạt đến chỗ ẩn mật, nên Thiền sư
Tức Lự không ngại mà không trao tâm ấn Thiền tông cho. Sau
khi được truyền tâm ấn, ông là người tai mắt trong giới học
Thiền, mà thịnh danh có thể so với các Thiền sư đương thời
như: Nhất Tông Quốc sư, Tiêu Dao, Giới Minh, Giới
Viên……..không thấy TUTA nói đến năm mất. Trần văn Giáp trong
Phật giáo Việt Nam phỏng chừng rằng có lẽ Ứng Thuận đồng
thời với tác giả của TUTA nên sách mới không ghi được năm
mất cuả ông. Đằng khác, theo đồ biểu phả hệ Thiền Trúc lâm
trong TSNL, chúng ta biết rằng Tiêu Dao là truyền nhân của
Ứng Thuận, hay Ứng Vương. Thế th́, khi TUTA ghi nhận thịnh
danh của Ứng Vương cũng ngang hàng với Nhất Tông, Tiêu Dao….
Sự ghi nhận đó ám chỉ như thế nào? Tuy vậy, ở đây chúng ta
cũng có thể đưa ra một ghi nhận riêng về tiểu sử của Ứng
Vương. Oâng là một cư sĩ, làm quan đến chức Trung phẩm Phụng
ngự,lại là truyền nhân của Thiền; sự kiện ấy có thể cho phép
chúng ta ức thuyết rằng, khoảng đầu nhà Trần, Thiền tông
Việt Nam đă có một thái độ hành động rơ rệt, Chắc chắn ông
là người mở đầu cho tinh thần Thiền tông của phái Trúc lâm.
Điều đáng tiếc là chúng ta biết rất ít về tư tưởng của ông.
Tập anh chỉ nói là ông đă đạt đến chỗ uyên áo của Thiền, và
nhất là ḍng Thiền Vô Ngôn Thông, bấy giờ truyền đă được 15
đời, kéo dài trên dưới năm thế kỷ.
4. TIÊU DAO:
Ông là thầy của Tuệ
Trung, trụ ở Phước đường, nên cũng gọi là Phước Đường Đại
sư. Về gốc tích, chúng tôi chưa rơ là đâu. Bản hành trang
của Tuệ Trung Thượng Sỹ, do Pháp Loa viết, chỉ thấy nói Đại
sư là thầy của Tuệ Trung, ngoài ra không cho biết ǵ thêm.
Vă lại, TUTA cũng có nhắc đến. Vậy thịnh danh của Đại sư
không phải là nhỏ. Một số thi văn của Tuệ Trung có nói riêng
về Đại sư. Xin lục ra cả dưới đây để làm tài liệu.
問福堂大師疾
風ủủ水到時波忽動
火薪交處焰纔生
方知四大原無際
一任沿流劍閣行
Vấn Phước Đường
Đại Sư Tật.
Phong thủy đáo
thời ba hốt động
Hỏa tân giao xứ
diệm tài sinh
Phương tri tứ đại
nguyên vô tế
Nhất nhiệm duyên
lưu kiếm các hành.
Việt dịch của Trúc
Thiên:
Hỏi thăm bịnh của
Đại sư Phước Đường.
Gió nước nhồi nhau liền sóng nổi
Lửa, rơm chạm phải ngọn liền sinh
Mới hay bốn đại đều không thực
Gươm sắt lầu son mặc ư t́nh.
上福堂逍遙大師
久違風彩
僑寄荒村
身雖天外之參商
意有鏡中之鸞鳳
閑唱無生之曲
用酬法乳之恩
濫札伽陀
上呈坐下
身雖肥遯寓鄉關
四重恩深未感寒
意拙少逢添意氣
心灰孤守寸心丹
春回虛對開桃葉
風起空聞擊竹山當日到家參問罷
沒弦琴子請今彈
暫來省問古錐禪
像貌期頤壯且堅
慧可身慚皮骨記
趙州天與鶴龜年
須知世有人中佛
休怪爐開火裏蓮
珍重伽陀隨興禮
幾多縵卻紫華彈
Thượng Phước
đường Tiêu Dao Thiền sư.
Cửu vi phong thể
Kiều lư hoang
thôn
Thân tuy thiên
ngoại chi Sâm thương
Ư hữu kính trung
chi loan phượng
Nhàn xướng vô
sinh chi khúc
Dụng thù pháp nhũ
chi ân
Lạm trát già đà
Thượng tŕnh hạ
tọa
Thân tuy ph́ độn
ngụ hương quan
Tứ trọng ân tham
vị cảm hàn
Ư chuyết tiểu
phùng thiêm ư khí
Tâm hố cô thủ
thốn tâm đan
Xuân hồi hư đối
khai đào diệp
Phong khởi không
văn kích trúc can
Đường nhật đáo
gia tham vấn băi
Một huyền cầm tử
thỉnh kim đàn
Tâm lai thỉnh vấn
cổ chùy Thiền
Tướng mạo kỳ di
tráng thả kiên
Huệ Khả thân tàm
b́ tủy kư
Triệu Châu thiên
dữ hạc qui niên
Tu tri thế hữu
nhân trung Phật
Hưu quái lô khai
hỏa lư liên
Trân trọng già đà
tùy hứng lễ
Kỷ đa nạm khước
tỉ nhung đàn.
Việt dịch của Trúc
Thiên:
Lể Thiền sư Tiêu
Dao ở Tịnh xá Phước Đường.
Hèn lâu xa ánh sáng
Ơû gởi chốn hoang thôn
Thân tuy ngoài cơi Sâm với thương
Ư
vẫn trong gươm loan và phượng
Nhàn nhă ngâm khúc vô sanh
Hầu đáp ân thầy mớm sữa
Trộm có lời thơ tụng
Cúi dâng lên tháp ṭa
Thân tuy cục mịch ngụ quê này
Bốn trọng ân nào dám lăng khuây
Ư
vụng sớm nhờ thêm ư khí
Ḷng tàn riêng giữ chút ḷng ngay
Xuân về ngắm lững hoa đào nở
Gió động nghe hở khóm trúc lay
Ngày trước đến nhà thăm hỏi hết
Nay đàn xin thỉnh khúc không dây
Thoát qua thăm hỏi cổ chùy Thiền
Tướng mạo mười mươi được khoẻ bền
Ṭng thẩm tuổi theo rùa hạc thô
Thần Quang đạo rút tủy đa truyền
Vẫn hay Phật sẵn trong đời có
Đừng lạc sen bừng giữa lửa lên
Trân trọng dâng theo lời tụng viếng
Có ǵ lễ mọn chút quà riêng.
福堂景物
福堂景致已即當
賴有禪風習習涼
籬落簫疏抽筍瘦
門庭幽邃闢松荒
未逢時泰賢人出
且喜林瑞獸藏
早晚老天開佛日
通門桃李弄春光
Phước đường cảnh
vật.
Phước đường cảnh
trí dĩ tức dương
Lại hữu thiền
phong tập tập lương
Li lạc tiêu sơ
trừu duẫn sấu
Môn đ́nh u thúy
tịch tùng hoang
Vị phùng thời
thái hiền nhân xuất
Thả hỉ lâm thâm
thụy thú tàng
Tảo vân lăo thiên
khai Phật nhật
Thông môn đào lư
lộng xuân quang.
Trúc Thiên dịch:
Cảnh vật Phước
đường:
Phước đường cảnh vật chính là đây
Nương ngọn gió thiền mát mẻ thay
Then lỏng cửa sân lùa bụi rậm
Tre thưa rào dậu búp măng gầy
Thời chưa gặp đấy ra hiền thánh
Núi khá vui nhiều án phượng qui
Hôm sớm trời già khai Phật nhật
Lối đào bỏ ngơ lộng xuân đầy.
5. TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ.
Về cuộc đời của Thượng
Sỹ, có lẽ đầy đủ nhất là bản hành trạng do Pháp Loa, Tổ thứ
hai của Trúc lâm viết. Nhưng bản tiểu sử đó không chép tên
thật, mà chỉ nói, Thượng Sỹ con của Khâm Minh Từ Thiện Thái
Vương. Trong khi đó, lời dẫn cuối sách, nói là trích
Hoàng Việt văn tuyển, quả quyết rằng, Thượng Sỹ là Hưng
Ninh Vương Trần Quốc Tảng, con lớn của Trần Hưng Đạo.
Đối chiếu với bản Hành trạng của Pháp Loa, chúng ta
bắt gặp một nghi vấn lớn. Nguyên văn Thượng Sỹ Hành trạng
viết: “Thượng Sỹ Khâm Minh Từ Thiện Thái Vương chi đệ nhất
tử, Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng Thái Hậu chi trưởng huynh.”
Viết như vậy có nghĩa rằng Thượng Sỹ là con đầu của Khâm
Minh Từ Thiện Thái Vương, và là anh cả của Nguyên Thánh
Thiên Cảm Hoàng Thái hậu. Thái hậu là mẹ vua Trần Nhân Tôn,
được tôn làm Hoàng Thái hậu với tước hiệu đó do vua Trần
Nhân Tôn, tức vị năm 1278. Sử chép, bà là con gái thứ năm
của Yên Sinh Vương Trần Liễu, tên thật là Thiều, làm vợ vua
Trần Thánh Tông, được phong làm Thiên Cảm Hoàng hậu. Xét
theo đó, nếu Thượng Sỹ có tục danh là Trần Quốc Tảng, con
của Trần Hưng Đạo, th́ Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng hậu là
em của Trần Hưng Đạo chứ không thể là em của Trần Quốc Tảng.
Phải chăng Tuệ Trung Thượng Sỹ không có tên thật là Trần
Quốc Tảng như Hoàng Việt văn tuyển chép?
Về năm mất của Thượng
Sỹ, Hành trạng chép là năm Trùng hưng thứ 7, tức năm
1291, đời vua Trần Nhân Tôn. Sử chép, Hưng Nhượng vương Quốc
Tảng chết năm Hưng long thứ 21, Quí Sửu, tức năm 1313, đời
vua Trần Anh Tôn. Sai lạc đến 12 năm.
C̣n hai sự kiện khác về
Hưng Nhượng Vương Quốc Tảng, chúng tôi xin dẫn ra đây để
rộng đường suy luận. Sự kiện thứ nhất, liên quan đến việc
dan díu giữa Trần Khắc Chung, người viết bài bạt cho
Thượng Sỹ ngữ lục, với Huyền Trân công chuá. Trước đó,
Huyền Trân Công chúa được vua Nhân Tôn, bấy giờ đă là Thượng
Hoàng, gả cho Chế Mân để đổi lấy hai châu Ô và Lư. Nhưng năm
Hưng long thứ 15 (1307), Chế Mân mất. Theo tục lệ Chiêm
Thành, Công chúa phải bị hỏa thiêu. Khắc Chung được lịnh lập
mưu đón Công chúa về. Hai người tư thông với nhau, nên đi
đường biển để kéo dài ngày. Hưng Nhượng Vương Quốc Tảng ghét
vụ này, nên mỗi khi gặp Trần Khắc Chung thường mắng rằng:
“Người ấy đối với nước là bất tường, họ tên là Trần Khắc
Chung, th́ nhà Trần có lẽ hết v́ người này chăng?” Khắc
Chung sợ nên thường phải lẫn tránh.
Sự kiện khác, liên quan
đến cái thù nhà của Hưng Đạo Vương, v́ vụ Trần Thái Tông
cướp vợ của anh là Yên Sinh Vương Trần Liễu. Khi Liễu chết,
có ư dặn Hưng Đạo phải trả cái thù nhà này. Nhưng Hưng Đạo
đặt nước lên trên thù nhà. Về sau, có lần ngài giả vờ hỏi
Hưng Vũ Vương Quốc Nghiện rằng: “Cổ nhân giàu có cả thiên
hạ, để truyền cho con cháu về sau, việc ấy con nghĩ thế
nào?” Quốc Nghiện thưa rằng: “Việc ấy đối với người khác họ
cũng không nên làm, huống chi là người cùng một họ.” Ư là
cản Hưng Đạo trả thù nhà, không cướp ngôi vua. Hưng Đạo rất
bằng ḷng. Sau lại đem câu hỏi Hưng Nhượng Vương Quốc Tảng.
Quốc Tảng nói ngay: “Tống Thái Tổ là người làm ruộng, chỉ
nhờ gặp thời vận mà lấy được thiên hạ.” Tức có ư khuyên Hưng
Đạo thừa cơ hội mà cướp lấy ngai vàng. Hưng Đạo Vương giận
lắm, rút gươm muốn giết đi. Quốc Tuấn nói: “Sau khi ta chết,
đậy nắp áo quan đâu vào đấy xong rồi, sẽ cho Quốc Tảng vào
viếng khóc.”
Hai sự kiện trên đủ
chứng tỏ con người của Quốc Tảng, khác hẳn phong tư tiêu
sái, không màng thế vị công danh của Thượng Sỹ. Vậy chúng ta
có thể qua quyết, Hưng Nhượng Vương Quốc Tảng không phải là
Thượng Sỹ như lời dẫn ở cuối TSNL, nói là căn cứ Hoàng
Việt văn tuyển.
Cuối cùng, Thượng Sỹ là
ai? Thỉ bản Hành trạng đă nói rơ: Là con đầu của Khâm
Minh Từ Thiện Thái vương, tức là con của Yên Sinh Vương Trần
Liểu, anh cả của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, và là anh cả
của nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng Thái hậu. Khâm Minh là tước
hiệu của Trần Liễu, như Đại Việt Sử kư Toàn thư, bản
kỷ VI, có nhắc tới trong một lời chú. Theo đó, năm Hưng long
thứ 7 81299), đời vua Trần Anh Tôn, mùa hạ, tháng 4, ngày
12, xuống chiếu cấm chữ húy của Khâm Minh Đại Vương và Thiện
Đạo Quốc Mẫu. Và đây là lời chú của đoạn này: “Khâm Minh tên
húy là Liễu. Thiện Đạo tên húy là Nguyệt. Thiện Đạo là phu
nhân của Liễu.”
Khâm Minh Đại vương,
tức Yên Sinh Vương Trần Liễu có năm người con, mà bà Thiên
Cảm là con thứ năm như sử đă chép. Ngoài ra, sử chỉ nhắc đến
hai người khác nữa, mà trên hết là Vũ Thành Vương Doăn, anh
của Trần Hưng Đạo Quốc Tuấn. Vũ Thành Doăn về sau chạy sang
Tống muốn làm phản, bị quan biên cảnh bắt giải về, sau đó bị
tước mất họ Trần. C̣n Hưng Đạo Vương th́ chúng ta đă biết
rất nhiều. Người lớn nhất có lẽ là Thượng Sỹ. C̣n một người
nữa là ai, không biết tra cứu vào đâu.
Về tước hiệu Hưng Ninh
Vương
,
bản Hành trạng chép là sau khi Đại vương (Trần Liễu)
mất, vua Thái Tôn cảm nghĩa phong cho Thượng Sỹ tước Hưng
Ninh Vương. Trần Liễu mất năm Nguyên phong thứ nhất (1252),
đời vua Trần Thái Tông, không thấy sử chép việc phong tước
cho Thượng Sỹ.
Đến đây, có lẽ chúng ta
khỏi phải nghi ngờ về những ǵ mà bản Hành trạng của
Pháp Loa ghi chép đối với cuộc đời cũng như nhân cách của
Thượng Sỹ. Theo đó: “Lúc nhỏ, Thượng Sỹ đă tỏ ra bẩm chất
cao sáng, thuần hậu có tiếng. Được cử trấn giữ quân dân đất
Hồng lộ, ngài đă hai lần ngăn giặc Bắc xâm lăng, có công với
nước, rồi lần hồi được thăng chuyển giữ chức Tiết độ sứ trấn
cửa Thái b́nh.
“C̣n về con người,
Thượng Sỹ vốn khí lượng thâm trầm, phong thần nhàn nhă. Lúc
c̣n để chỏm, ngài đă chuộng cửa Không. Đến tham vấn Thiền sư
Phước Đường Tiêu Dao, ngài lănh hội được yếu chỉ, bèn dốc
ḷng thờ làm thầy, lấy thiền duyệt làm cái vui hằng ngày.
Không lấy công danh làm chỗ sở thích. Ngài lui về ấp Tịnh
bang do vua phong cấp cho, và đổi tên là Vạn Niên.
“Trộn lẫn thế tục, ḥa
cùng ánh sáng, trong việc đối xử ngài chưa hề phụ ḷng ai,
nhân có tiếp được một giống pháp, d́u dắt người sơ cơ. Người
nào đến hỏi han cũng đợc ngài chỉ qua chỗ cương yếu khiến
tâm tánh họ ứng dụng được nhẹ nhàng, khi hành cũng như lúc
tàng, không ǵ là nhất định cả.
Đằng khác, bài bạt của
Trần Khắc Chung lại quả quyết rằng: “Nếu không có Thượng Sỹ,
th́ đức Phật Hoàng (tức vua Trần Nhân Tôn) không thể thành
tựu được lớn lao trong đạo Thiền.”.
Như vậy cũng đủ xác nhận vị trí trọng yếu của Thượng Sỹ
trong việc thiết lập một thế hệ mới, cho Thiền tông Việt Nam
của vua Trần Nhân Tôn. Phái Thiền đó quả đă không thẹn với
những lời ca tụng của TTBH:
Nước Nam dẹp được bốn bên
V́ có Phật bảo hoàng thiên hộ tŕ
Đời đời Phật đạo quang huy
Quốc Gia đỉnh thịnh cường th́ tăng long
Nhân Tông gặp thầy Tuệ Trung
Làm đệ nhất tổ Nam cung nước này.
…………………………….
(TTBH, câu 661-666)
Ly tưởng thịnh hóa của
đạo Phật và lư tưởng thịnh trị của Quốc gia, cả hai đều được
thực hiện nơi con người của Thượng Sỹ, và những truyền nhân
của Thượng Sỹ về sau.
KẾT LUẬN
Ngoài các tiền bối được
mô tả ở trên, c̣n một người đă giữ vai tṛ lịch sử và tư
tưởng quan trọng đối với Thiền Trúc lâm. Đó là Trần Thái
Tông mà chúng tôi xem là nhân vật khai sáng cho ḍng Thiền
này. Chính v́ vai tṛ quan trọng của nó mà chúng tôi đặc
biệt nói về Trần Thái Tông trong một tiết của chương II.
Ngoài ra, TTBH c̣n cho
biết đương thời c̣n ít nhất là hai Thiền sư khá có ảnh
hưởng. Nhưng chắc là không ảnh hưởng trực tiếp đến Thiền
Trúc lâm. Vị thứ nhất, TTBH không nhắc tên, mà chỉ nói đại
khái:
Thuở ấy Thiền sư Trúc lâm
Thấy vua thuyết vậy bội phần khá thương
Trí không tâu động thánh hoàng
Được ḷng thiên hạ mới lường rằng bi.
…………………………………………………..
(TTBH, câu 269-272)
Đây là đoạn Trần Thái
Tông bỏ vào núi. Sử chép vua trốn vào núi Yên Tử nơi Phù vân
Quốc sư đang trụ tŕ. Vậy “Thiền sư Trúc lâm” mà TTBH nhắc
tới không ai khác hơn là Phù Vân Quốc sư. Lời khuyên của
Quốc sư, mà bài tựa của Thiền tông Chỉ Nam của Trần
Thái Tông c̣n nhắc tới, cho thấy một quan niệm hành động,
chắc chắn quan niệm đó là căn bản của phái Thiền Trúc lâm.
Lời khuyên thứ nhất của Quốc sư nhắm vào ư hướng khát khao
tuyệt đối của Trần Thái Tông:
“Núi vốn không có Phật,
Phật tồn ở nơi tâm. Tâm yên lặng mà biết, ấy gọi là Phật
thật. Nay nếu Vua giác ngộ được tâm này th́ lập tức thành
Phật, không phải khó nhọc t́m ở bên ngoài vậy.”
.
Lời khuyên thứ hai của
Quốc sư nhắm giải quyết tâm trạng không dứt khoát của nhà
vua; nó quan trọng đến độ TTBH nhấn mạnh bằng cách trích
luôn nguyên văn hán, chen giữa những câu thơ lục bát:
夫為人君者,以天下之心為心,以天下之欲為欲。今天下欲迎願陛下歸之。然內典之究無亡修心鍊性耳。
“Phù vi nhân quân giả,
dĩ thiên hạ chi tâm vi tâm, dĩ thiên hạ chi dục vi dục. Kim
thiên hạ dục nghinh, nguyện Bệ hạ qui chi. Nhiên nội điển
chi cứu, vô vong tu tâm luyện tánh nhĩ.” Kẻ làm đấng nhân
quân th́ phải lâư tâm của thiên hạ làm tâm của ḿnh, lấy cái
ư muốn của thiên hạ làm ư muốn của ḿnh, Nay thiên hạ muốn
rước, xin bệ hạ hăy về đi. Song, việc nghiên cứu nội điển,
không quên tu tâm luyện tánh là được. Và đoạn thơ lục bát
viết:
Nay đoạn thầy phó chúc vua
Dẫu về trị nước Đế đô kinh thành
Ngày th́ xem việc triều đ́nh
Đên th́ hằng nhớ tụng kinh toạ thiền
Phật Pháp là đại nhân duyên
Con cả nối nghiệp thay quyền lại đi.
………………………
(TTBH, câu 273-278)
Sau Phù Vân Quốc sư,
chúng ta được biết c̣n có Đại Đăng Quốc sư. TTBH viết:
Đại Đăng Quốc sư là Thầy
Thánh Tông đắc đạo mừng thay thuyết rằng:
Tiền đăng lại điểm hậu đăng
Một Bồ đề nở những ḷng ông cha.
…………………………
(TTBH,
câu 401-404)
Bản lược dẫn của
Thượng Sỹ Ngữ lục cũng xác nhận cho chúng ta về điểm
này: “Riêng Đại Đăng Quốc sư truyền cho vua Trần Thánh
Tông…..” Ngoài ra, chúng ta không có biết ǵ thêm.
Hai vị Quốc sư vừa được
nhắc đến, bổ túc cho các tiền bối trực tiếp của Trúc lâm,
chúng ta có thể thấy phong thái sinh hoạt của Phật giáo
trong khoảng đầu nhà Trần. Như vậy cũng đă đủ thay cho những
lời kết luận của chúng ta ở đây.
(Trích CHƯƠNG I.
THIỀN TÔNG VIỆT NAM)
CHÚ THÍCH:
|