|
THẤT SƠN MẦU NHIỆM
Dật
Sĩ và Nguyễn Văn Hầu
CH.
3
SỰ QUAN TRỌNG CỦA THẤT SƠN
I. Quan
Trọng Về Mặt Chiến Lược.
Nằm trong khu tam giác Tịnh
Biên - Nhà Bàng - Tri Tôn, vùng Thất Sơn choán một địa thế
bề dài lối 30 ngàn thước, bề ngang độ 17 ngàn thước, (lối
1/7 diện tích tỉnh Châu Đốc) và trở thành một pháo đài thiên
nhiên vô cùng kiên cố bên cạnh Miên Quốc và Thái Lan, án ngữ
cả vùng bḅ biển Hà Tiên, Rạch Giá.
Thật vậy, từ cổ chí kim, từ Âu
sang Á không một chiến lược gia nào có thể phủ nhận cái phần
ưu thắng về tính cách địa hiểm của núi non trong việc điều
binh khiển tướng.
Vua Lê Thái Tổ, nhà anh hùng
áo vải ở núi Lam Sơn, trong mười năm kháng chiến với quân
Minh đă phải ba lần rút về núi Chí Linh để cố thủ.
Ông Hoàng Hoa Thám tức Đề
Thám, trong hai chục năm chống Pháp đă nổi danh là "Con hùm
Yên Thế" v́ chiếm được Yên Thế sơn làm nơi hiểm cứ.
Nguyễn Hoàng cũng đă hiểu rơ
sự quan trọng của núi non về mặt chiến lược nên trước khi
mất có dặn người con thứ sáu là Nguyễn Phúc Nguyên rằng:
"Đất Thuận, Quảng này bên Bắc th́ có núi Hoành Sơn, sông
Linh Giang, bên Nam th́ có núi Hải Vân và núi Bí Sơn thật là
một nơi trời để cho người anh hùng dụng vơ...".
Ngày nay, trong thế cuộc nước
nhà, nếu ai chiếm được vùng Thất Sơn th́ Người Ấy sau này sẽ
nắm phần ưu thắng trong tay, chẳng khác vua Đinh Tiên Hoàng
(Vạn Thắng Vương) đă dẹp loạn sứ quân, giữ nên nghiệp cả nhờ
giữ được động Hoa Lư, hay Trương Lương đă rực rỡ thành công
nhờ biết lui về Ba Thục để lập chiến khu (chiến lược này đă
làm cho Tưởng Giới Thạch phải thán phục và học đ̣i bằng cách
rút về Trùng Khánh để trường kỳ kháng Nhựt).
Thật vậy, một khi ta đàng
hoàng chiếm cứ Thất Sơn làm nơi dụng vơ mà địch quân nào dám
bén mảng đến vùng thung lũng của vị trí này th́ chắc chắn họ
sẽ hoàn toàn thảm bại c̣n hơn Pháp quân ở Điện Biên Phủ.
II.
Quan Trọng Về Mặt
Kinh Tế.
Đă quan trọng cho việc quốc
pḥng (về mặt chiến lược như đă nói ở trên), vùng Thất Sơn
lại c̣n quan trọng cho dân sinh về mặt kinh tế, v́ nó bảo
trợ và chi phối những vùng đồng ruộng ph́ nhiêu bao la bát
ngát (Đồng Tháp Mười và Đồng Cà Mau) được thấm nhuần bởi con
sông Cửu Long và những sông ng̣i kinh rạch chi chít khắp
nơi, rất tiện cho việc trồng trọt cấy cày và giao thông vận
tải.
Dưới đây xin lược kê vài nguồn
lợi phong phú của vùng này về nông sản, chăn nuôi, lâm sản,
khoáng sản, giang sản và hải sản:
a. Về
nông sản, người ta lại c̣n chia ra nông sản chánh
và nông sản phụ.
Nông sản chánh gồm có lúa và
dừa.
Lúa (món ăn căn bản của
người Việt Nam và là sản phẩm quan trọng nhất) chiếm tám
chục phần trăm (80%) các nguồn lợi. Diện tích trồng trọt ở
Nam Việt được trên ba mươi ngàn mẫu tây và số sản xuất hàng
năm trên 4 triệu tấn. Về phương diện lúa gạo, Việt Nam ta
đứng vào hạng nhứt nh́ ở Đông Nam Á. Sở dĩ được vậy là nhờ
các vùng đồng ruộng mênh mông thuộc châu thổ sông Cửu Long
và đồng Cà Mau. Bởi lẽ đó, người ta gọi mấy vùng này
là vựa lúa của nước Việt Nam.
Dừa (một loại cây kỹ
nghệ rất hữu ích) cũng được trồng trọt rất nhiều trong các
vùng này, nhứt là ở Mỹ Tho và Bến Tre.
Về nông sản phụ th́ lại có cây
thực phẫm và cây kỹ nghệ:
1. Ngoài lúa ra, ở vùng này
người ta c̣n trồng nhiều thứ cây thực phẫm khác như: bắp,
khoai, đậu, mè, ḿ, sắn, tiêu, mía, trái cây (cam, quưt, ổi,
chuối,...)
2. Cây kỹ nghệ cũng có nhiều
để cung cấp nguyên liệu cho các xưởng máy như: bông vải,
gai, thuốc lá, đậu phọng.
b.
Về sự chăn nuôi tuy c̣n kém khuyết nhưng gà,
vịt, heo, dê, trâu, ḅ cũng có thể gọi là đủ dùng.
c.
Về lâm sản, vùng Thất Sơn có rất nhiều gỗ quư
như: cà chất, câm xe, cẩm lai, giá tị, trắc, sến, nu,
sao,... Những rừng rú điệp điệp trùng trùng lại c̣n cung cấp
vô số củ nâu, dây trại, dây mây và vô số dược liệu như: đầu
khấu, sa nhơn, chỉ xác, đổ trọng,...
Ở vùng đồng bằng và các nơi
ven biển như: Hà Tiên, Rạch Giá, Bặc Liêu, Cà Mau lại c̣n
những kho vô tận dừa lá, chưn hầu, bần, tràm, đước, vẹt,
lác, đưng... dùng vào việc xây dựng nhà cửa cho dân cư hoặc
để cắt củi hầm than bán lại cho dân gian và ngoại bang tiêu
thụ.
d.
Về khoáng sản, nếu miền Bắc Việt có nhiều mối
lợi vô biên với những mỏ than, vàng, sắt, kẻm, bạc, thiếc,
đồng, ch́... th́, ngoài thứ đá làm nhà ở Châu Đốc, Long
Xuyên và đá làm vôi ở Hà Tiên, ai dám bảo Miền Nam, nhất là
vùng Thất Sơn, lại chẳng có nhiều của quư sẽ t́m được sau
này? Đức Huỳnh Giáo Chủ há không có nói: "Trên bảy núi có
nhiều báu lạ"? Rất đổi núi Ba Thê ở Long Xuyên (gần Thất
Sơn) mà c̣n có vàng thay, huống ǵ Thất Sơn!
e.
Về giang sản th́ bất tất phải nói nhiều, v́
ai chẳng biết miền Tây Nam Việt chi chít sông ng̣i kinh rạch
có vô số cá tôm, dư sức nuôi sống mấy triệu gia đ́nh quanh
năm sống bằng lọp, câu, chài, lưới và dư sức cung phụng cá
ṃi, cá linh, cá cơm cho kỹ nghệ nước mắm.
g.
Về hải sản, tưởng không cần phải nói nhiều về
sự quan trọng của nghề đánh cá ở vùng duyên hải Hà Tiên,
Rạch Giá, Cà Mau và nghề làm muối ở Bặc Liêu.
Một kư giả ngoại quốc nói rằng
tỉnh Bặc Liêu có bốn kho vàng vô tận là: vàng vàng (lúa),
vàng xanh (cây làm củi), vàng đen (than củi) và vàng xám
(muối).
Chính các phú nguyên dồi dào
nói trên đă làm cho một số người thèm thuồng tiếc uổng, cứ
cố bám chặt như con tôm đeo dính miếng dừa, cho đến khi nào
bị hất vào xuồng câu mới đành chịu nhả. Đức Huỳnh Giáo Chủ
trong lúc đi khuyến nông tại Bặc Liêu (năm 1945) có điểm một
nụ cười mỉa mai kín đáo khi đọc đến câu:
Chỉ có xứ Nam Kỳ béo bở,
Cơ hội này bỏ dở sao xong!
III.
Quan Trọng Về Mặt Địa Lư.
Bàn về địa lư (phong thủy) ta
nên đặc biệt quan tâm đến những trọng điểm này:
Thất Sơn nằm trên địa phận
tỉnh Châu Đốc và sông Cửu Long cũng chảy qua tỉnh này.
Mà Thất Sơn tức là Bửu Sơn hay
Bảo Sơn (1) th́ qúy báu vô ngần, hiển linh tột bực: Nơi đây
đă có nhiều vị tu hành chứng quả Phật, Tiên, Thần, Thánh.
Chính phái Bửu Sơn Kỳ Hương đă phát hiện tại vùng này.
C̣n Cửu Long tức là Bửu Giang
hay Bảo Giang. Con sông này được coi như là con sống quư
báu, v́ nó là con sống lớn nhứt và dài nhứt trên hoàn cầu
(hơn 4,500 cây số ngàn), phát nguyên từ bên Tây Tạng, nơi
mọc lên dăy núi Hy Mă Lạp Sơn cao nhất hoàn cầu (8,840th) và
là nơi Đức Phật Thích Ca đă đắc quả chánh đẳng chánh giác.
Con sông này chảy sang Việt Nam, qua Nam Việt (nhứt là tỉnh
Châu Đốc) rồi tuôn ra biển Đại Thanh với chín cửa biển (cửa
Tiểu, cửa Đại, cửa Ba Lại, cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên, cửa
Cung Hầu, cửa Định An, cửa Bách Xắc, cửa Tranh Đề), vừa kết
tụ ngươn khí, vừa phát hiện đủ thứ địa h́nh.
Ḍm kỹ bản đồ Nam Việt th́ ta
thấy cù lao Kết (từ Vàm Nao đến Nam Vang) giống h́nh một con
qui, mỏ day về Vàm Nao. Mà "con qui" ấy đă nằm giữa Tiền
Giang và Hậu Giang lại ở vào khoảng giữa (tức Trung Ương)
Thất Sơn và Cửu Long. Theo nguyên lư nam thất nữ cửu
th́ Thất Sơn thuộc Dương, Cửu Long thuộc Âm.
Địa cuộc có âm dương tương hội
thế ấy tất nhiên là địa linh. Mà địa linh tất sanh nhân
kiệt. Sông thế ấy, núi thế kia phải đào tạo được những trang
hào kiệt phi thường, (Giang sơn chung tú phi thường). Câu:
Khí thiêng liêng sông núi
nhiệm mầu,
Un đúc giống anh hùng vang
bốn bể
của Đức Huỳnh Giáo Chủ dường
như vừa xác nhận giá trị của khoa học địa lư lại vừa hé màn
bí mật.
Cụ Trạng Tŕnh Nguyễn Bỉnh
Khiêm lại nói rơ về nơi xuất hiện của vị anh hùng dân tộc
tương lai -một vị Thánh Nhơn- trong những câu sấm:
Bảo Giang Thiên tử xuất
Bất chiến tự nhiên thành
Hoặc
Bảo Giang Thiên tử xuất
Bất chiến tự nhiên thành
Dường như muốn cho người đời
sau có thể t́m hiểu đâu là "Thánh nhơn hương" (quê hương của
vị Thánh nhơn) nên cụ Trạng lại nói thêm:
Bắc hữu Kim Thành tráng (2)
Nam tạc Ngọc Bích thành (3)
Hoà thôn đa khuyển phệ (4)
Mục giả, dục nhơn canh (5)
Về mặt địa lư, ông A.T.Y.
trong quyển "CON ĐƯỜNG NÀO?" có dựa theo tài liệu quyển
HUYỀN DIỆU THIÊN THƠ mà ông đă may mắn được một dị nhơn tặng
cho ở vùng Thất Sơn (mong rằng đây là sự thật!) để
nói về sự linh thiêng mầu nhiệm của miền Nam nước Việt như
vầy:
"Khoa địa lư dạy rằng: hễ một
ḍng sống bắt nguồn từ nơi đất địa hiển linh, núi cao ngàn
năm không người ở, rừng rậm ngàn năm không ai tới lui, phóng
lượn sóng nghêng ngang ngàn thu không cạn, th́ con sông ấy
sẽ kết tụ nơi huyệt "Long đảnh", một địa huyệt rất linh
hiển, ph́ nhiêu về vật chất, cao siêu tột bực về tinh thần.
Ngọn Cửu Long Giang là một ḍng Bảo giang oanh liệt, oai
nghiêm, vừa tạo thành nên vóc vạc hoàn toàn lối 100 năm nay.
Kết liên với các núi, Cửu Long giang xuất hiện ra 12 huyệt
huyền diệu, chấm đậm nét hùng vĩ trên địa cầu này.
Bắt đầu khởi kết tụ ngươn khí
âm dương xây nên địa huyệt thứ nhất tại Thất Sơn
(Châu Đốc). Chỗ ấy ba huyệt thiên tiên hiệp lại làm Nê hườn
cung, xuất hiện đúng ngày linh hiển tam huê tụ đảnh,
mùi hương lạ kỳ bí mật bay ra từ núi Sam đến núi Tượng. Chỗ
ấy là cân năo, cốt tủy của Cửu Long; tên nó được hưởng ứng
theo luồng điện thiên nhiên, oai nghiêm, từ bi, hùng vĩ đời
sau gọi là Kim Thành huyệt. Đó là huyệt Dương đă
hiện, Cửu Long kết lần với hai cốt núi âm phong cô độc, liên
hiệp thành cặp mắt Hà Tiên và Phú Quốc là Thủy Trung
huyệt. Tây Ninh, núi Điện Bà là Huỳnh Môn huyệt,
hai đảnh núi ấy thuộc về Âm kết tụ ngươn khí tại Trung Ương
tạo nên Ấn Đường huyệt (Dương) để khai mở luồng điển
quang cho các huyệt kia vừa ngưng tại lối miệt Long Xuyên,
B́nh Mỹ (một dăy cù lao lớn chạy dài từ B́nh Mỹ xuống gần
đến Cần Thơ).
Từ Kim Thành huyệt phóng xuống
mũi Cà Mau và núi Kỳ Vân, hai huyệt dương nữa, một bên th́
thành sống mũi Cửu Long chấm đến Cà Mau (tức là Lâm Huyền
huyệt) một bên th́ hàm rồng tại Kỳ Vân (tức là
huyệt Bích Ngọc). Đồng cân với hai huyệt âm (Thủy Trung
huyệt và Huỳnh Môn huyệt) hiện ra một huyệt thứ sáu (B́nh
Nam huyệt) tại núi Côn Nôn, là chót lưỡi của Cửu Long.
Sáu huyệt âm dương vừa kết tụ
ngươn khí th́ tại Trung Ương huyệt, yết hầu Cửu Long vừa
khai mở gần Cần Thơ bây giờ, gọi là Trung Ương Cửu Long
huyệt. Lần lần ba cửa mở ra: Cửa Đại, cửa Tiểu,... vừa thành
tựu (năm Nhâm Th́n 1892) khiến cho ba nguồn thủy dựng tại
B́nh nam châu chuyển động (lưỡi Cửu Long) làm cho các miền ở
chánh cửa khẩu phải bị nạn lụt (Vàm Cỏ, G̣ Công, Bến Tre và
các cù lao nhỏ v.v...) ba ngày ba đêm. Đó là bảy huyệt linh
thiêng chánh gốc của xứ Việt Nam mới ngưng kết được lối 100
năm nay. Đứng giữa hoàn cầu, sự linh thiêng tân tạo là đầu
Cửu Long giang, một nguồn Bảo giang thiên cơ đă định phải
chói rạng sự huyền diệu nhứt hạng khắp bốn bể năm châu. V́
địa linh ấy mới sanh nhơn kiệt, các vị thánh tổ kim thời hễ
thuộc âm mạng th́ phải xuất hiện (chứ không phải giáng sanh)
dạy đời trong ba huyệt Âm (Thủy Trung huyệt, Huỳnh Môn huyệt
và B́nh Nam huyệt), c̣n thuộc Dương th́ phải xuất hiện ở
Thất Sơn, Kỳ Vân và Cà Mau (Kim Thành huyệt, Bích Ngọc huyệt
và Lâm Huyền huyệt)."
Đọc đến đây, chắc sẽ có người
cho rằng khoa địa lư là một môn học gồm ytoàn những sự mê
tín dị đoan, vu vơ huyễn hoặc. Đối với những bạn đọc ấy,
chúng tôi xin thưa: Nếu quả thật sự xét đoán như thế là đúng
th́ cụ Trạng Tŕnh (Trạng Nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm, tước
Tŕnh Quốc Công) và ông Tả Ao (tức Nguyễn Đức Huyên, ngườ
làng Tả Ao, huyện Nghi Xuân, tỉnh Nghệ An) đă chẳng được nổi
tiếng và lưu danh v́ giỏi khoa địa lư. Và nếu vậy th́ làm ǵ
đời Hán, Trương Tử Pḥng đă phải soạn ra sách "B́nh xa
Ngọc Xích"; đời Tấn Quách Phúc phải soạn ra sách
"Táng Kinh"; đời Tông Trương Tử Vi phải soạn ra sách
"Ngọc Túy Chơn Kinh"; Trần Đoàn phải soạn sách "Kim
Toả Bí Quyết"; đời Nguyên, Lưu Bỉnh Trung phải soạn sách
"Kim Đẩu Quyết Táng Pháp"?
Nơi đây, chúng tôi tưởng cũng
nên nói thêm đôi điều về khoa địa lư (hay phong thủy). Khoa
này thường được áp dụng trong việc lập thành quách, cất đ́nh
chùa, hoặc làm nhà cửa, để mồ mả. Đất làm nhà cửa gọi là
dương cơ, c̣n đất để mồ mả th́ gọi là âm phần. Về dương cơ,
người ta ít khi kén chọn chỗ đất, mà chỉ lấy hướng cho hạp.
C̣n về âm phần th́ người ta thường nhờ thầy địa lư đi t́m
một cách cẩn thận.
Theo phép địa lư th́ trước hết
phải phân biệt h́nh đất làm năm loại chánh là: Kim, mộc,
thủy, hỏa, thổ. Nguời ta c̣n tùy theo cuộc đất giống h́nh
vật ǵ mà phân biệt các kiểu đất qúy như: lục long tranh
châu, phụng hoàng ẩm thủy, tê ngưu vọng nguyệt, quần tiên
hội ẩm, hổ trục quần dương, v.v... Cũng có những kiểu
đất h́nh con rùa, con cá, con voi, con ngựa, cái cờ, cái ấn,
ng̣i bút, thanh gươm, v.v... Khi đi t́m đất th́ trước phải
t́m tổ sơn, rồi ḍ long mạch theo thế đất đặng t́m huyệt. Hễ
là huyệt trường th́ tất phải có tiền ám hậu chẫm, tả long
hữu hổ; mặt tiền phải có minh đường thủy tụ hội,
mặt hậu phải có long mạch thu thúc, mặt ngoại phải có
bàng sa triều củng. Cuộc đất như thế là chỗ tụ khí
tàng phong, quả là chơn huyệt.
IV.
Quan Trọng Về Mặt Tinh Thần.
Có lẽ không ai c̣n ngờ vực về
sự núi non có ảnh hưởng to tát đối với tinh thần, chí hướng
của con người.
Ḍm lại lịch sử nước nhà, ta
thấy phần đông những bực anh hùng dân tộc hay những thi sĩ
siêu nhân hoặc những đấng siêu phàm đều có chịu ít
nhiều ảnh hưởng của núi non... Đó là do kh íthiêng un đúc mà
cũng tại v́ sự hùng vĩ vủa núi non rừng rú nó làm cho con
người được chí tại cao sơn, tâm ư thượng đỉnh.
Ngoài trường hợp của những vị
anh hùng, những nhà chí sĩ cách mạng ở Nghệ An, Hà Tĩnh (hai
tỉnh có lắm núi non) chúng tôi xin kể thêm vài trường hợp
khác để làm bằng chứng.
1. Vua Lê Lợi (tức Lê Thái Tổ)
khởi nghĩa chống quân Minh ṛng ră mười năm trường (và rốt
cuộc đă "nên công đại định") là một vị anh hùng áo vải ở núi
Lam Sơn.
2. Ông Nguyễn Trăi -người đă
giúp mưu cơ cho vua Lê Lợi chiến thắng quân Minh và đă viết
bài "B́nh Ngô Đại Cáo", một áng văn kiệt tác vẫn c̣n măi lưu
truyền trong sử sách- là người khi về già đă lên Côn Sơn di
dưỡng tính t́nh và an nhàn tự toại, ngâm khúc Côn Sơn ca.
3. Cụ Trạng Tŕnh rành khoa
địa lư, lại thông hiểu bộ Thái Ất Thần Kinh, viết ra nhiều
lời sấm truyền mà khi trở về già lại ẩn chốn lâm sơn tác thi
dưỡng trí (thơ này góp lại thành quyển Bạch Vân thi tập),
sống một cuộc đời thanh bần nhàn nhă. Những câu thi dưới đây
đủ để chứng minh một cách hùng biện trạng thái tâm hồn của
cụ lúc đó:
Một bầu một bát vững sơn
tăng
Hoặc:
Ba gian am quán ḷng hằng
mến
Đôi chốn sơn hà mặt đă quen
Hay là: Khách nhàn sơn đă
dưỡng thân nhàn.
4. Vua Quang Trung (Nguyễn
Huệ), vị anh hùng dân tộc đă "lật đổ Nguyễn, diệt tan
Trịnh, đánh bại Măn Thanh, thống nhứt cả Việt Nam vào cuối
thế kỷ thứ 18" là người ở trại Tây Sơn (gần đèo An Khê,
trên đường đi Pleiku-Kontum).
5. Ông Nguyễn Quang Thiếp, tức
la Sơn Phu Tử -một bậc danh nho cao sĩ, chánh kiến quang
minh, biết lẽ tiến thoái tồn vong nhờ thuật số học (lư học,
phong thủy, sấm kư), đă được vua Quang Trung mời nhiều lần
để hỏi ư kiến và cầu sự cộng tác - là người gốc ở huyện Nghi
Xuân, gần núi Hồng Lĩnh (một thắng cảnh ở Hoan Châu và vùng
quanh chơn núi đă sản xuất không biết bao nhiêu danh nho,
danh tướng), sau này về ngụ ở huyện La Sơn nên người
ta kêu tặng ông là La Sơn Phu Tử. Lúc về già ông lên ẩn náu
chốn núi rừng.
Trong Hạnh Am Kư (Bài
kư viết trong Am May), ông chép như vầy:
(6) "Bởi vậy, ta bỏ hết
học khoa cử, chuyên đọc các sách Tính lư, Tứ thơ, Ngũ kinh
đại toàn. Vui cùng rừng hố. Núi sông miền Nam châu, dấu chân
có gần khắp...
Lúc ấy, ta cùng hai ba đứa
học tṛ lớn bé, giảng dạy các việc của tiên nho. Dạo xem
cảnh núi. Ngồi giăi bóng trăng. T́m suối xem mây. Thần trí
khoan khoái..."
5. Cụ Nguyễn Du tức Tố Như
tiên sinh, tác giả cuốn Kim Vân Kiều -một áng văn tuyệt tác
làm cho các nhà văn trong nước và ngoại quốc nhiệt liệt hoan
nghinh- là một thi nhân đă từng lê dấu chơn trên chín mươi
chín ngọn núi Hồng Lĩnh.
Trên đây là nói những bậc tiền
bối phần đông đă thấm nhuần thuyết tu tề trị b́nh của Nho
giáo và đă xa cách ta đến mấy thế kỷ. Ảnh hưởng của núi non
miền Bắc và Trung Việt đối với các vị ấy sánh lại không bằng
ảnh hưởng của Thất Sơn đối với những vị học Phật tu Nhân gần
đây lối 150 năm trở lại, như: Đức Phật Thầy Tây An, Đức Phật
Trùm, Đức Bổn Sư, Ông Sư Văi Bán Khoai, ông Cử Đa, chư đại
đệ tử của Phật Thầy Tây An (ông Cố Quản Thành, ông Tăng Chủ,
ông Đ́nh Tây, ông Đạo Xuyến), và hiện nay, Đức Huỳnh Giáo
Chủ. (Trong một chương sau, chúng tôi sẽ nói về tiểu sử của
các vị trên đây.)
Thật vậy, nếu xưa kia Đức
Thích Ca đến Rạch Ni Liên Thuyền trên Linh Thứu Sơn (trong
dăy Hy Mă lạp Sơn) và "thấy cỏ cây cảnh bắt tham thiền"
nên "ngồi khổ hạnh sáu năm bên ấy" để được đắc đạo
th́ ngày nay các vị Giáo chủ hay các vị đại đệ tử trong phái
Bửu Sơn Kỳ Hương cũng phải có một thời gian tu tâm luyện
tánh trong các núi non am cốc nơi chốn Thất Sơn, ẩn ḿnh nơi
điện Tam Thanh, điện Rau Tần hay điện Quan Âm chẳng hạn. Cái
đó có khác nào trong truyện Tây Du nói Tôn Ngộ Không đến
Phương Thốn Sơn học đạo với Bồ Đề Tổ Sư tại Linh Đài Tà
Nguyệt Tam Tinh động hay trong truyện Phong Thần nói Khương
Tử Nha lên Côn Lôn Sơn thọ giáo với Ngươn Thỉ Thiên Tôn tại
động Ngọc Hư...
Đến đâ chúng tôi tưởng cũng
nên mở một dấu ngoặc để luận giải ít điều về hai bộ truyện
này.
Truyện Tây Du và truyện Phong
Thần là hai bộ lịch sử tiểu thuyết Tàu vô cùng lư thú. Bộ
Tây Du nói về sự tu Phật của Khưu Trường Xuân Chơn nhơn (tu
Tiên) viết. C̣n bộ Phong Thần nói về sự tu Tiên lại do
Bạch Vân Thiền sư (tu Phật) viết. Hai vị là người đồng thời
và đều tỏ ra -bằng cách tưởng tượng và xây dựng chung quanh
một sự kiện lịch sử- rằng người tu Tiên cũng am hiểu việc tu
Phật và kẻ tu Phật cũng biết rơ việc tu Tiên.
Vậy chúng ta xem truyện Tây Du
nên hiểu rằng Đường Tăng Tam Tạng (7)
thâu phục ba người học tṛ và con ngựa của Ngài cỡi là tượng
trưng người tu hành (có tâm Phật) chế ngự được tâm
phàm. Tôn Ngộ Không (ngụ ư gặp được cái lư chơn không)
hay Tôn Hành Giả (người dấn thân trên bước đường Đạo),
một con người cốt khỉ, tượng trưng cái vọng tâm của con
người sơ tâm, nó lao chao như con vượn chuyền nhánh này qua
nhánh nọ (tâm viên). Con ngựa của Đường Tăng cỡi,
tượng trưng cái ư phóng túng, buông lung, bất định của con
người mới tu, nó giống như con ngựa khó kềm cho đứng yên
được (ư mă). Trư Bát Giái (ngụ ư tám điều răn cấm),
một người cốt heo, tượng trưng sự mê ăn , mê ngủ, thích nhục
dục, lại ngu dốt như con heo (mê si). Sa Tăng (ám
chỉ người theo hạnh Sa môn trong Tăng già) giết người ăn
thịt, lấy sọ người đeo trên cổ, tượng trưng sự hung hăng
nóng nảy (sân nộ) v.v... Chớ sự thật không có Tôn
Hành Giả, Bát Giái hay Sa Tăng, chỉ có thầy Trần Huyền
Trang, một tăng sĩ đă phụng mạng vua Đường đi qua Ấn Độ
thỉnh kinh do Đức Thích Ca thuyết hồi đời nhà Châu (nghĩa là
hơn một ngàn năm trước nhà Đường).
Xem truyện Phong Thần chúng ta
nên suy gẫm về chỗ này. Cũng thời tu Tiên mà có người thuộc
phe Xiễn Giáo, có người thuộc phe Triệt Giáo. V́ duyên
nghiệp, căn cơ khác nhau nên mỗi vị có một định mạng khác
nhau: Khương Tử Nha mặc dù ở non tu luyện hơn 40 năm trường
nhưng cũng phải xuống thế làm quan; Đổng Toàn mặc dù tài
phép tinh thông mà không làm y theo lời Thầy
(8), nên phải đứng bảng Phong
Thần; Pháp Giái mặc dù bại trận, sắp bị mạng vong nhưng có
Phật Chuẩn Đề rước về tây Phương Cực Lạc v́ hạnh đức cao
dày; Dương Tiễn, Vi Hộ, Lôi Chấn Tử và bốn cha con Lư Tịnh
mặc dù dày công hăn mă và có đủ điều kiện để hưởng lộc triều
đ́nh nhưng vẫn quyết định cáo từ về non tu luyện, sau bảy vị
đều được nhục thân thành thánh...
Tích xưa như thế, chuyện nay
khác ǵ!
Xin đóng dấu ngoặc lại.
Để kết luận đoạn này, chúng
tôi xin quả quyết rằng hoa địa (9)
Thất Sơn và trọng địa Cà Mau, Đồng Tháp thật là những vùng
cực kỳ quan trọng về mặt tinh hoa dân tộc, kinh tế quốc gia
và chiến lược quốc pḥng.
vậy trong cuộc tranh đấu hiện
giờ, nếu vị nào nắm giữ được hoa địa và trọng địa nói trên,
chắc chắn vị ấy sẽ "kiến thiết được một hồi sinh căn cứ
địa là nơi thủ hiểm trường kỳ, đào tạo cán bộ, huấn
luyện chủ lực quân, để thời cơ đến th́ tiến ra phản công như
vũ bảo", nắm địa vị bá chủ trong tay.
Chú Thích:
(1)
BỬU là quư báu,
SƠN là núi; Bửu Sơn là núi qúy báu.
(2)
Chỉ Thất Sơn.
(3)
Chỉ núi Kỳ Vân ở Bà Rịa (sẽ nói rơ ở đọan sau).
(4)
CHÚ Ư: Trong
những thi, bài của Đức Huỳnh Giáo Chủ, sanh trưởng tại thôn
Hoà Hảo (Châu Đốc), -trên Cù lao Kết- chúng ta thấy có bài
thơ tứ cú sau đây:
Hoà thôn Hảo cảnh xứ
chi ta
Tạm dắt nhơn sanh khỏi ái hà
Tạo xác Huỳnh danh thanh sắc trẻ
Chờ thời thiên định thiết hùng ca.
(5) "Đa khuyển phệ" là chó sủa
nhiều.
LƯU Ư: Trong điều răn cấm thứ năm, Đức Huỳnh Giáo Chủ có
khuyên bổn đạo đừng ăn thịt trâu, chó, ḅ. Chó không bị ăn
thịt nữa tự nhiên sanh sản rất đông và sủa rất nhiều. Ai có
lại vùng H. H. sẽ thấy rơ điều này.
Phải chăng câu này nghĩa là: Vị Thánh nhơn đó đă từng là
người giữ trâu cày ruộng và khuyến nông?
(6) Đây là lời
dịch của ông Hoàng Xuân Hăn.
(7)
Ám chỉ ba tạng kinh Phật là: Kinh, Luật, Luận.
(8)
Thầy của Đổng Toàn có viết trên cửa động Bích Du hai câu như
vầy:
Đóng cửa tụng Huỳnh đ́nh,
thiệt bực số thành ngôi chánh quả.
Tách ḿnh qua Tây Thổ, là
người tên đứng bảng Phong Thần.
(10)
Theo một nhà
khảo sử th́, đứng về phương diện khoa học quốc pḥng, một
quốc gia luôn luôn có hai vùng: 1. HOA ĐỊA là nơi tập trung
tinh hoa của đất nước (Hoa Địa của nước ta thuở xưa là núi
Thới Sơn. Ngày nay Hoa Địa của ta là Thất Sơn, nơi xuất hiện
phái Bửu Sơn Kỳ Hương, tinh hoa của đất nước. 2. TRỌNG ĐỊA
(khu trọng yếu cho cuộc quốc pḥng), là nơi có đủ điều kiện
kinh tế, văn hoá, nhân sự để khi nước nhà gặp cơn binh lửa
th́ ta có thể tiến, thoái, công, thủ.
(C̣n Tiếp) |