|
Ngày Xuân
đọc thơ
Trần Minh
Tông và suy nghĩ
về sự
ân hận của
một Hoàng
đế Phật
tử.
Thích Phước
An
Trong một bài thơ viết về mùa xuân, mặc dù vua Trần Minh
Tông cũng nhắc đến hoa, đến chim chóc và nắng xuân như bao
nhiêu bài thơ xuân khác. Nhưng hoa, chim và cả nắng xuân ở
đây th́ không hề giống như chim, hoa hay nắng xuân ở những
bài thơ xuân mà ta thường bắt gặp:
Hoa liễu lục thành âm
Liêm câu viện vũ thâm
Vô t́nh thiên ngoại nhứ
Bất ngữ thụ đầu lầm
Liễu ra hoa tươi tốt đă trỗ thành bóng râm
Rèm đă cuốn lên rồi mà nhà nhà vẫn sâu kín
Tơ liễu hững hờ bay ngoài trời
Chim chóc im lặng trên cành cây.1
Như vậy là hoa đă nỡ rộ cả rồi nên đă trở thành bóng râm, và
những ngôi nhà vẫn đứng đó trong âm thầm lặng lẽ dù rèm ở
các cửa sổ đă được cuốn lên nhưng nắng mai của mùa xuân vẫn
ngập ngừng không chịu tràn vào bên trong, và ngay cả những
con chim đang đứng trên cành cây, đáng lư phải hót vang lừng
để đón mùa xuân của đất trời, nhưng điều lạ lùng là chim vẫn
không chịu hót mà đứng im ĺm bất động.
Như vậy là Trần Minh Tông đă ghi lại một ngày xuân gần như
hoàn toàn tương phản với hầu hết các thi nhân tự bao đời nay
hễ cứ mỗi lần xuân sang th́ đều không giấu được sự rạo rực
của ḷng ḿnh:
Rộn ràng bước nhịp hương vương gót
Nhựa mạnh tuôn trào tưởng dính chân
(Lửa thiêng)
Như một thi nhân của Việt Nam ở thời hiện đại đă thú nhận
tiếng ḷng của ḿnh như vậy.Với Trần Minh Tông, ta có cảm
giác rơ rệt rằng, mùa xuân không hề gây cho ông bất cứ sự
háo hức hay rạo rực nào. Mọi sự vật chung quanh ông dường
như có một cái ǵ đó lê thê, heo hút lạ thường.
Bây giờ ta tiếp tục đọc bài thơ để xem thử tâm trạng của tác
giả ra sao? Tác giả vui hay buồn khi ngồi giữa một ngày xuân
âm thầm và lặng lẽ như vậy?
Giản dị Tam Hoàng chính
Hi di Ngũ đế tâm
Giản dị thuần phác là chính sự của Tam Hoàng
Nh́n không thấy, nghe không được là ḷng của Ngũ đế.
Thế có nghĩa là Trần Minh Tông đă đạt được điều mà trong
Đạo Đức kinh của Lăo tử gọi là Phục Kỳ phản,
nghĩa là trở về lại với đời sống thuần phác và giản dị
chăng? Và chẳng phải hoa nở, chim hót nắng mai lộng lẫy của
mùa xuân (tức là những cái đẹp ở bên ngoài) chỉ thực sự cần
thiết đối với chúng ta, những người chưa trở về được với cái
thuần phác, cái giản dị? C̣n đối với nhữnh kẻ nào đă trở về
và t́m lại được cái thuần phác và giản dị trong chính họ th́
dù hoa có nỡ hay không, chim chóc có hót vang lừng hay
không, nắng mai có đem ánh sáng vào nhà họ hay không, th́
cũng chẳng hề ǵ, v́ chính họ đă t́m lại được mùa xuân bất
tận trong chính họ rồi?
Đọc hai câu cuối ta mới thấy Trần Minh Tông đă có được niềm
vui chứa chan:
Thế gian nhàn bán nhật
Nhương đắc nhất thiên kim
Ở trần gian mà nhàn nhă được nữa ngày
Th́ cũng quư như đoạt được ngàn vàng
Nhưng tại sao lại nửa ngày mà không là một ngày? Trong khi
bài thơ có nhan đề là Xuân Nhật nhàn tọa (Ngày xuân
ngồi thong thả).
Nửa ngày hay một ngày, một năm hay triệu năm th́ chũng chẳng
có ǵ quan trọng, v́ đối với họ th́ ư niệm về thời gian
không c̣n nữa, một sát na, một khoảnh khắc hay một tỷ năm đi
nữa th́ cũng có ǵ khác nhau. V́ chẳng phải đối với họ th́
thời gian nào cũng đều là thời gian của thiên thu vạn đại đó
sao?
Trong một bài thơ có tên là giới am ngâm (bài ngâm về
cái am cỏ) Trần Minh Tông cũng nhắc lại rằng, dù trăm loài
chim không về, nhưng ông vẫn hưởng được những ngày xuân nhàn
nhă tuyệt đẹp trong cái am cỏ nhỏ bé ấy:
Bách điểu bất lai xuân trú nhàn
(Trăm loài chim chẳng đến, ngàn xuân thong thả).
Và trong cái am cỏ ấy, Trần Minh Tông đă nói lên cái thong
dong tự tại của chính ḿnh:
Cỏ lai băo khiết phạn nhất bát
Thanh thủy măn b́nh khả tiêu khát
Đằng sàng chẩm thượng trác ngọ miên
Chính thị cá trung chân khoái hoạt.
Lúc đói, no nê một bát cơm
Nước trong đầy b́nh đủ giải cơn khát
Trên chiếc gối ớ giường mây, đánh giấc ngủ trưa
Chính là sung sướng thật sự ở trong cái đó.
Đọc bốn câu này khiến ta phải liên tưởng đến bốn câu kết
trong bài phú lừng danh Cư Trần lạc đạo của Trần Nhân
Tông:
Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc xan hề, khốn tắc miên
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền
Cư trần lạc đạo hăy tùy duyên
Hễ đói th́ ăn, mệt nghỉ liền
Châu báu đầy nhà đừng chạy kiếm
Vô tâm đối cảnh, hỏi chi Thiền
(Nguyễn Lang dịch)
Từ hơn 7 thế kỷ qua bài Kệ ấy đă được xem như là “Bản tuyên
ngôn cho đời sống đạo” của Phật tử Việt Nam. Ngày nay, đứng
trước sự tấn công như vũ băo của những giá trị vật chất, nên
những giá trị tinh thần truyền thống có nguy cơ bị phá sản,
đúng như lời báo động của một nhà phật học Việt Nam hiện
nay:
“Sự phá sản tinh thần ấy không chỉ xảy ra trong phạm vi xă
hội mà nó c̣n lan dần đến cả trong sinh hoạt thiền môn;
thanh quy của thiền môn chỉ c̣n là một lớp vỏ, mà lại là lớp
vỏ rách nát không đủ che đậy những dấu hiệu thoái hóa. Tăng
già đang trên chiều hướng tục hóa, có nguy cơ trở thành một
cộng đồng ô hợp tồn tại chỉ v́ quyền lợi vật chất thế
gian”.2 Th́ bài Kệ ấy càng được đọc, được nâng niu trân
trọng nhiều hơn nữa.
Có thể có người đọc v́ thực tâm muốn tự nhắc nhở với chính
ḿnh rằng, hăy tránh xa “những quyền lợi vật chất thế gian”
ấy đi. Nhưng chắc chắn cũng có nhiều người đọc v́ những
“quyền lợi vật chất thế gian” đă làm mờ mắt họ, nên họ đọc
bài Kệ ấy để thanh minh với mọi người và ngụy tín với chính
ḿnh rằng ḿnh chỉ “Tùy duyên” thôi, c̣n lư tưởng của đời
sống đạo th́ chẳng có ǵ thay đổi, nghĩa là vẫn “bất biến”.
Nhưng dù đọc với lư do nào th́ chúng ta cũng phải ư thức
rằng, Trần Nhân Tông chỉ nói ‘Ở đời vui đạo hăy tùy
duyên’ sau khi đă can đảm vứt bỏ ngôi vua, biểu tượng
cho quyền lực cao nhất của thế gian, vứt bỏ luôn những tiện
nghi vật chất tầm thường của thế gian, một ḿnh đối mặt với
nỗi cô độc của chính ḿnh trên đỉnh núi cao Yên Tử. C̣n
chúng ta, những người đang chạy theo quyền lực thế gian,
đang thèm muốn những “quyền lợi vật chất của thế gian” mà cứ
lải nhải ‘Ở đời vui đạo hăy tùy duyên’ th́ đó không
phải là “tùy duyên” đúng nghĩa mà đă xem “tùy duyên” như c̣n
cái cớ để a dua, nghĩa là gió chiều nào th́ cứ xoay theo
chiều đó, “ai chết mặc ai” miễn là có lợi cho ḿnh mà thôi.
Thực ra, sự lạm dụng ngôn ngữ không chỉ xảy ra riêng với
Phật giáo mà gần như bất cứ tư tưởng vĩ đại nào cũng đều bị
những con người “cơ hội” lợi dụng để trục lợi như thế cả.
Phạm Công Thiện, trong bài viết nổi tiếng về thiền từ những
năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ 20, đă gọi đó là một “bi kịch
lớn lao”:
“Bi kịch lớn lao ở đời là mỗi khi một vĩ nhân xuất hiện và
sau khi vĩ nhân ấy đă nói lên một lời nào th́ những kẻ hạ
nhân cũng bắt chước nói lại lời ấy, và mặc dù lời ấy cũng
gồm bấy nhiêu chữ, nhưng những chữ ấy không c̣n là những chữ
của vĩ nhân nữa. Chẳng hạn vĩ nhân nói “sát Phật” th́ hạ
nhân cũng bắt chước mà nói “sát Phật” nhưng đau đớn biết bao
là câu lập lại bỗng trở thành thuốc độc và đưa con người đến
chỗ tự sát”.
Phạm Công thiện c̣n trích một câu của Heidegger đă viết về
Nietzsche triết gia đă từng gây chấn động bởi sấm ngôn
Thượng đế đă chết:
“Trước kia đó là tiếng kêu la của Nietzsche, mà ngày nay
tiếng kêu la ấy đă trở thành câu chuyện ba hoa của thiên
hạ.”
Sự ba hoa này quả là một tai họa, v́ sao? Phạm Công Thiện
viết:
“Chẳng hạn, chúng ta thấy Nietzsche kêu: “Thượng đế đă chết”
Đó là tiếng kêu la thống thiết của Nietzsche để báo tin một
kỷ nguyên mới. Ngày nay, thường khi trong những pḥng cà phê
hay giảng đường đại học, chúng ta cũng thường nghe người ta
say sưa nói: “Thượng đế đă chết”. Họ nói ba hoa như vậy, và
họ vẫn tiếp tục duy tŕ thế giới cũ và cản lối làm chướng
ngại vật không cho kỷ nguyên mới mở mang. Thế là “siêu nhân”
của Nietzsche đă chết theo sau đó, do từ đầu miệng của những
kẻ hạ nhân”.3 Chính v́ thấy trước được tai họa này nên trong
kinh Potthapâda, Đức Phật đă cảnh giác:
“Này Citta, những tiếng ấy chỉ là những danh từ thế gian,
ngôn ngữ thế gian, kư pháp thế gian. Như Lai dùng chúng,
nhưng không chấp trước vào chúng” Vua Trần Minh Tông dường
như cũng thấy được tai họa của việc lạm dụng ngôn ngữ này,
nên trong bài Kệ nhà vua đề tặng Tôn giả Huyền Quang, vị
thiền sư mà nhà vua đă tôn xưng là bậc thầy lớn của núi Côn
Sơn (Côn Sơn đại đạo sư). Trong bài Kệ, ta thấy có đoạn nhà
vua đă nói lên sự phân vân lưỡng lự trong việc nói lên cái
“Sở đắc” của chính ḿnh:
Tương vị hữu sở đắc
Sở đắc hà vật yên?
Tương vị vô sở đắc
Tham học phi đồ nhiên
Sở đắc vô sở đắc
Dục ngữ thù nan ngôn
Ngôn ngữ kư nan đắc
Thủy thụ phục thùy truyền
Cát đằng diệc bất thiểu
Như phọc cánh thiên triền
Chỉ chỉ
Nhiên nhi bất đắc dĩ
Đoăn Kệ phúc tùng tuyên
Nếu bảo có điều sở đắc
Sở đắc là cái ǵ vậy?
Nếu băo là không có sở đắc
Th́ việc tham Thiền chẳng phải là uổng công hay sao?
Sở đắc và không sở đắc
Muốn nói nhưng thật là khó nói
Đă không nói nên lời
Th́ ai học với ai truyền?
Giây leo cũng chẳng ít
Như bị trói lại quấn thêm vào
Thôi! Thôi!
Nhưng mà bất đắc dĩ
Lại phải bày tỏ ra bằng một bài Kệ ngắn này
Và sở dĩ Trần Minh Tông đem vấn đề:
Sở đắc và vô sở đắc
Dục ngữ thù nan ngôn
(Sở đắc và không sở đắc
Muốn nói nhưng thật khó nói)
Để tŕnh bày với Thiền sư Huyền Quang v́ theo Trần Minh
Tông, vị Thiền sư này đă vượt qua được giới hạn ngôn ngữ của
thế gian để:
Bất trước văn tự tướng
Diễn thuyết Như Lai Thiền
Không bám vào văn tự
Mà diễn giải về Như Lai Thiền
Đọc Trần Minh Tông nói riêng và các tác giả Phật giáo đời
Trần nói chung ta có thể dễ dàng nhận ra một điểm tương đồng
với nhau, đó là tất cả tác giả đều cho rằng, sở dĩ con người
đau khổ v́ không nhận ra những giá trị tâm linh trong chính
ḿnh mà lại lăng xăng đi t́m kiếm những giá trị từ bên
ngoài.
Trần Thái Tông đă ví đó là h́nh ảnh của lữ khách bơ vơ không
nhà không cửa trong khi buổi chiều đang đến mà chẳng biết đi
về đâu?
Vĩnh vi lăng đăng phong trần khách
Nhật viễn gia hương vạn lư tŕnh
Lênh đênh làm khách phong trần măi
Ngày hết, quê xa vạn dặm trường
(Nguyễn Lang dịch)
Tuệ Trung Thượng sĩ th́ thúc dục kẻ lữ khách hăy mau trở về
đi, v́ chẳng phải ở quê nhà mùa xuân đă đến và trăm hoa đang
nở rộ khắp các nẻo đường đó sao?
Báo quân hưu ỷ tha môn hộ
Nhất điểm xuân quan xứ xứ hoa
Cửa người anh hăy thôi nương tựa
Một ánh xuân về hoa đó đây
Trần Nhân Tông th́ chỉ thẳng cho người lữ khách biết cái mà
anh đă bỏ công đi t́m kiếm khắp nơi th́ nó đang nằm ở đây
chứ chẳng đâu xa:
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch
Trong nhà sẵn của báu đừng t́m kiếm đâu khác
Và cuối cùng th́ Trần Minh Tông đă cho người lữ khách vừa
mới trở về đó biết thế nào là tự do tại nơi chính quê nhà
của ḿnh:
Cơ lai băo khiết phạn nhất bát
Thanh thủy măn b́nh khả tiêu khát
Đằng sàng chẩm thượng trác ngọ miên
Chính thị cá trung chân khoái hoạt
Kinh dă bất khán Phật bất nghĩ
Y nhăn hà vi kim tiết quí
Khách lai vấn lập bản lai nhân
Nhận khán y tiền hoàn bất thị
Lúc đói no nên một bát cơm
Nước trong đầy b́nh đủ giải cơn khát
Trên chiếc gối ở giường mây, đánh giấc ngủ trưa
Chính là sung sướng thật sự ở trong cái đó
Kinh cũng chẳng xem, Phật cũng chẳng nghĩ tới
Chữa con mắt làm chi v́ bột vàng rất đắt
Khách đến hỏi về con người trước đây
Nhận xét ra vẫn không giống như người thưở trước
Ta có cảm tưởng là vừa đọc xong đoạn trên Trần Minh Tông
thấy người lữ khách đó c̣n boăn khoăn chưa tin lắm nên Trần
Minh Tông phải đọc tiếp:
Hưu hưu ngoại mịch khổ thi công
Phất phất tị khổng cổ kim đồng
Giới am tất cánh vô kỹ vật
Chỉ ma mi hoành tị trực ông
Thôi đi! Cứ cặm cụi t́m ở bên ngoài chỉ thêm vất vả
Lỗ mũi phập phồng thở th́ xưa nay đều giống nhau
Trong am cỏ, rốt cuộc không có vật ǵ lạ
Chỉ có ông mày ngang mũi thẳng này thôi
Chắc chắn Trần Minh Tông là một trong những nhà Phật học lỗi
lạc của thời bây giờ, v́ trong một bài thơ Trần Minh Tông
cho biết rằng ông rất cô đơn v́ không có ai để ông có thể
đàm đạo về Phật pháp. May nhờ duyên lành mà ông đă gặp được
Pháp Loa, người mà ông đă ví như là tay cao diệu Bá Nha (Bá
Nha cao diệu thủ). Từ đó, Trần Minh Tông mới có dịp để đem
cây đàn đă dính đầy bụi bặm của ông ra để nối lại lời nước
non:
B́nh sinh tằng xúc nhất trương cầm
Mai một trần ai tuế nguyệt thâm
Hạnh ngộ Bá nha cao diệu thủ
Cánh giao sơn thủy tự huy âm
Đời ta từng có một cây đàn
Chôn vùi đă lâu ngày trong bụi trần
May gặp được tay Cao diệu Bá Nha
Lại khiến cho tiếng đàn nối lại được lời nước non
(Hạnh ngộ)
Bởi thế, nên khi nghe Pháp Loa viên tịch, Trần Minh Tông đă
không cầm được nước mắt, ông ngậm ngùi nhớ lại những nơi đă
từng in bóng Pháp Loa:
Dạ yểm giảng đường kim cổ nguyệt
Hiểu mê trượng thất hữu vô yên
Tương đầu châm giới ta phi tích
Trác tựu ai chương lệ huyễn nhiên
Vầng trăng kim cổ ban đêm khép kín giảng đường
Làn khói “hữu vô” buổi sáng che mờ trượng thất
Duyên “kim cải” gắn bó, than ôi! Đă khác xưa
Gọt rửa xong bài thơ bi ai th́ nước mắt tuôn dầm d́a
(Vấn Pháp Loa Tôn giả đề Thanh Mai tự)
Bây giờ ta thử xem tư tưởng Phật giáo đă tác động đến Trần
Minh Tông như thế nào? Từ chuyện nhỏ nhặt của đời thường đến
chuyện quốc gia đại sự?
Trước hết là cái chết. Trong Phật giáo làm chủ được cái chết
hay không có lẽ là điều quan trọng nhất để đánh giá quá
tŕnh công phu tụ tập của một con người. Trần Minh Tông có
làm chủ được cái chết của ḿnh hay không? Có hoang mang dao
động khi đối diện với cái chết hay không? Sách Đại Việt
sử kư Toàn thư chép rằng:
“Khi se ḿnh, triều đ́nh muốn lập đàn chay Cầu đảo. Trần
Minh Tông nghe biết chuyện, bèn gọi Hữu tưởng quốc là (Trần)
Phủ vào tận giường hằn để hỏi. Vua (chỉ Trần Dụ Tông) sợ,
lập tức sai Trần Phủ tâu rằng, Phạm Ứng Mộng xướng nghị việc
tự xin lấy ḿnh chết thay Thượng Hoàng. Trần Phủ vừa tâu lên
th́ Thượng Hoàng nói:
Phạm ứng Mộng tự nhận làm địa vị của Chu công th́ cứ lấy
thân ḿnh mà chết thay cho cha hắn. C̣n đàn chay th́ không
được làm.
Bấy giờ, Hiếu từ Thái hậu phóng sanh các giống súc vật để
cầu cho Thượng Hoàng Minh Tông khỏe lại. Minh Tông bảo bà:
Thân ta không thể lấy con heo, con dê mà đổi được. Khi bệnh
đă trầm trọng, bèn cho gọi bọn thầy thuốc là Trâu Canh,
Vương Định, Phạm Thế Thường vào coi mạch. Trâu Canh nói là
mạch phiền muộn. Trần Minh Tông liền ứng khẩu đọc một bài
cho Trâu Canh nghe:
Chẩn mạch hưu luân phiền muộn đa
Trâu Công lương tễ yếu điều ḥa
Nhược ngôn phiền muộn vô hưu yết,
Chỉ khủng tùng chiêu phiền muộn gia.
Coi mạch nói chi những chuyện phiền
Trâu canh nên hăy hốt thuốc tiên
Chuyện buồn nếu kể hoài không dứt
Chẳng hóa rước thêm nỗi muộn phiền
Lúc ấy, bởi Trâu Canh thường ra vào cung cấm, vẫn hay dùng
những chuyện khác đời, những lời quỷ quyệt, cốt để huyễn
hoặc vua Trần Dụ Tông nên Trần Minh Tông ghét lắm, bèn mượn
bài thơ để châm biếm hắn. Khi thuốc dâng lên Minh Tông nói:
Người đời bao nhiêu khổ năo, nay thoát được nỗi khổ nào
này th́ mai lại gặp nỗi khổ năo khác mà thôi.
Nói rồi, không chịu uống thuốc. Lúc bệnh đă quá nguy kịch,
gọi quan hoạn quan là Nguyễn Dân Vọng đem bản thảo tập thơ
ngự chế đốt đi. Dân Vọng c̣n đang do dự th́ Trần Minh Tông
nói:
Vật đáng tiếc hơn c̣n không thể giữ được, giữ chi thứ ấy.
Các hoàng tử đứng hầu cạnh, chờ nghe lời cuối cùng. Minh
Tông liền nói tiếp với họ:
Các con cứ xem việc làm của người xưa, việc hay th́ theo,
việc dở th́ tránh, cần ǵ phải nghe ta nói.
Minh Tông từng nói:
Bậc đế vương dùng người không phải là có t́nh riêng với
người đó mà chỉ v́ đó là người hiền mà thôi. Người đó theo ư
của ta, giữ chức vụ cho ta, làm việc cho ta, chịu nhọc cho
ta, cho nên ta coi là hiền mà dùng họ. Nếu ta cũng đúng là
người hiền th́ những người được ta cũng hiền, khác chi Kiệt,
Trụ dùng Phi Liêm, Ác Lai vậy. Đó là “đồng thanh tương ứng,
đồng khí tương cầu” cùng loại th́ hợp nhau. Kiệt, Trụ đâu
phải có t́nh riêng ǵ với bề trên của hắn. Bảo hắn là ngu
tối th́ được chứ bảo hắn có t́nh riêng th́ không”.4 Đọc
lại lời trối trên của vua Trần Minh Tông bảo Nguyễn Dân Vọng
hăy đốt bản thảo tập thơ, ta lại nhớ đến Frank Kafka, một
văn hào Tây Phương sống trong những thập niên đầu thế kỷ 20,
lúc gần chết cũng căn dặn người bạn thân:
“Di chúc của tôi rất giản dị: tôi xin anh hăy đốt hết cả mọi
sự”.
Nếu chỉ là một nhà văn, thi sĩ hay triết gia khi gần chết di
chúc bảo đốt tất cả những sáng tác của ḿnh th́ chẳng có ǵ
đáng ngạc nhiên cho lắm, v́ nhà văn, nhà thơ hay triết gia
là những kẻ đă quen sống trong cô độc, họ rất ghét đám đông,
nên họ cũng chẳng cần đám đông tôn xưng họ. Nhưng Trần Minh
Tông th́ ngược lại, sau lưng c̣n cả một khối thần dân, ông
cần khối thần dân nầy tôn sùng và ngưỡng mộ ḿnh, không chỉ
là một nhà lănh đạo anh minh thôi, mà trên cương vị ấy, nếu
là một vị vua tầm thường như bao nhiêu vị vua tầm thường
khác, th́ Trần Minh Tông muốn ḿnh phải được thần tượng ở
những lănh vực khác nữa, như là một nhà thơ lớn chẳng hạn,
v́ có quyền lực trong tay th́ muốn ǵ mà chẳng được. Vậy mà
Trần Minh Tông lại từ chối và bảo hăy đem đốt hết đi. Chính
sự từ chối này mà Trần Minh Tông đă tự khẳng định được nhân
cách độc đáo của chính ḿnh trong lịch sử của dân tộc chăng?
Bây giờ ta xem thử có ǵ khác nhau giữa Trần Minh Tông và
Frank Kafka, đến từ hai truyền thống văn hóa khác nhau? Khi
cả hai lại cũng một ước vọng là hăy đốt hết những ǵ mà ḿnh
đă viết trước khi vĩnh viễn ĺa bỏ cuộc đời này?
Chúng ta được biết rằng Frank Kafka: “Là người Do Thái, sinh
trưởng ở Tiệp Khắc, không có quê hương, nói và viết bằng
ngôn ngữ Đức; sống giữa những người Tiệp dưới thời chiếm
đóng của Áo, Hung, Kafka đă bị mất gốc bên ngoài xă hội và
bên trong tâm hồn” “Không tổ tiên, không gia đ́nh, không
gịng giống, với ḷng thèm khát mănh liệt muốn có tổ tiên,
gia đ́nh gịng giống (Nhật kư Kafka).
Và lúc nào Kafka cũng thấy ḿnh là kẻ bị đày, Kafka kêu lên
một cách thống thiết:
“Lại bị đày, lại bị đày rất xa, đày rất xa. Núi, sa mạc,
những xứ sở mênh mông…” Như vậy là Kafka muốn đốt sạch tất
cả những ǵ ḿnh viết là v́ với Kafka mọi sự đều vô nghĩa,
đều phi lư, mọi sự đều trống không. Có người đă nói rằng:
“Hư vô đă tàn phá Kafka, ăn ṃn Kafka từng giờ từng phút.
Kafka đă chạy trốn hư vô. Nơi nào?”5 Trong khi đó Trần Minh
Tông là người Đông Phương. Khi Trần Minh Tông nói với Nguyễn
Dân Vọng rằng:
“ Vật đáng tiếc hơn c̣n không thể giữ được, giữ chi thứ ấy.”
Có nghĩa là Trần Minh Công cũng biết cuộc đời là phi lư, vô
nghĩa, v́ mọi sự đều dẫn đến tàn phá và hủy diệt.
Nhưng đă là một người Phương Đông, mà lại c̣n là một nhà
Phật học thông thái, chắc chắn Trần Minh Tông không chạy
trốn hư vô như Kafka đă chạy trốn. V́ sao?
V́ chẳng phải Phật giáo Đại Thừa đă khuyến cáo những hành
giả đang nuôi dưỡng lư tưởng Bồ Tát rằng, càng thấy cuộc đời
tối tăm, phi lư và vô nghĩa bao nhiêu th́ lại càng phải lao
vào để ôm lấy cuộc đời đau khổ và phi lư ấy vào ḷng bấy
nhiêu đó sao? “Thưa thánh giả, tôi t́m thấy niềm vui tuyệt
vời khi dập tắt ngọn lửa của phiền năo thiêu đốt chúng
sinh.”
“Bồ tát phải khởi hành từ một tấm ḷng thương cảm xót xa, vô
cùng xót xa, v́ trái tim rung động trước vô vàn thống khổ
của chúng sinh.”
“Thưa thánh giả, v́ tất cả chúng sinh đang bị nhận ch́m
trong biển đời với vô lượng thống khổ, nên khi Bồ Tát dấy
lên mối thương cảm, phát khởi đại nguyện muốn ôm trọn cả thế
giới vào ḷng”.
Như những lời của Thiện Tài Đồng tử đă thưa với vị Thiện
thần ở hội trường Bồ Tát, trước khi Thiện Tài bước xuống với
cuộc đời đau khổ này.6 Như vậy, Frank Kafka muốn đốt tất cả
v́ Kafka xem cuộc đời là phi lư, vô nghĩa kể cả những ǵ mà
Kafka đă bất đắc dĩ phải lên tiếng v́ sự lên tiếng ấy cuối
cùng th́ cũng chẳng làm cho cuộc đời này tốt đẹp và có ư
nghĩa hơn. Bởi vậy Kafka đă muốn đốt tất cả chăng?
C̣n với Trần Minh Tông, có lẽ cũng giống như bất cứ một thi
sĩ trầm lặng của Phương Đông nào. Sau khi đă hoàn tất công
việc của ḿnh đối với cuộc đời vô vàn thống khổ này th́ cũng
đều lặng lẽ ra đi như bóng con nhạn bay qua bầu trời (nhạn
quá trường không) mà không hề có ư định lưu lại bất cứ dấu
tích nào chăng?
Dù vứt bỏ theo ư nghĩa nào đi nữa, th́ sự vứt bỏ để ra đi
một ḿnh mà không cần hành trang ấy cũng phải được xem là
một hành động đầy can đảm và có thể nói là vĩ đại nữa. V́
chẳng phải tất cả chúng ta vẫn đang sống trong một thế giới
mà tất cả đều không ngừng ra sức để tích trữ càng nhiều của
cải, không chỉ là của cải vật chất thôi mà cả về tinh thần
nữa với mong ước rằng, có thể để lại một chút tiếng thơm nào
đó, để những thế hệ mai sau vẫn nhắc nhở đến tên tuổi của
ḿnh hay sao? Trần Minh Tông là vị vua thứ 5 của đời Trần,
dù không có những đóng góp to lớn về văn trị cũng như vơ trị
cho đất nước như Trần Thái Tông hay Trần Nhân Tông, v́ khi
lên ngôi vào năm 1314 th́ ba cuộc chiến tranh vệ quốc chống
quân Nguyên Mông xâm lược đă lùi xa vào quá khứ, đất nước
đang vui hưởng thái b́nh. Nhưng sử gia Phan Phu Tiên có lời
nhận xét mà sách toàn thư (quyển 7) đă trích nguyên
văn như sau:
“Trần Minh Tông có tư chất nhân hậu, nối nghiệp thái b́nh,
không thay đổi phép tắc của ông cha lập nên (…) triều thần
là Lê Quát và Phạm Sư Mạnh đều muốn thay đổi chế độ (theo
nhà Tống bên Tàu). Vua nói: “nước nhà đă có nề nếp rồi, nếu
nghe mưu kế của bọn thư sinh muốn cho lời ḿnh được ứng dụng
th́ sẽ sinh ra rối loạn đấy.”
Theo tôi, bản lĩnh ấy không chỉ thể hiện qua việc bác bỏ
những ư kiến của các nhà nho đầy quyền thế như Lê Quát và
Phạm Sư Mạnh muốn nhà vua phải cải cách theo chính sách của
nhà Tống bên Tàu, mà bản lănh ấy c̣n được Trần Minh Tông thể
hiện qua việc dám can đảm công khai về những sai lầm tai hại
của chính ḿnh.
Sách Khâm định việt sử thông giám cương mục cho biết:
“Trước đây, thượng hoàng (chỉ Trần Anh Tông) vẫn trông mong
nhiều vào Trần Quốc Chẩn, muốn phó thác nhà vua (chỉ Trần
Minh Tông) cho ông. Đến lúc Thượng hoàng bị bệnh, mỗi khi
nhà vua vào thăm, Thượng hoàng bắt phải đi cùng với Trần
Quốc Chẩn để khỏi sinh ḷng hiềm nghi. Đến đây nhà vua tuổi
đă nhiều mà chưa quyết định được ngôi Thái tử. Trần Quốc
Chẩn tự nhận ḿnh có mệnh đại thần, lại là bố đẻ của hoàng
hậu, nên cố chấp là đợi khi nào hoàng hậu sinh con trai
trưởng sẽ lập làm Thái tử. Văn Hiếu Hầu (con của Trần Nhật
Duật, không rơ tên) muốn đánh đổ hoàng hậu để lập hoàng tử
tên là Vượng, bèn lấy 100 lạng vàng đút lót cho gia thần của
Quốc Chẩn là Trần Phẫu, xúi Trần Phẫu vu cáo Quốc Chẩn âm
mưu làm phản. Nhà vua tin lời Trần Phẫu, rồi đem việc ấy hỏi
thiếu băo Trần Khắc Chung. Khắc Chung vốn cùng bè đảng với
Văn Hiếu Hầu, lại là người cùng làng với mẹ đẻ của Vượng (Bà
Minh Từ Thái Phi, người họ Lê, quê ở Giáp Sơn), hơn nữa Khắc
Chung từng giữ chức sư phó để dạy Vượng, v́ thế Trần Khắc
Chung liền tâu ngay bằng câu thành ngữ tróc hổ dị, phóng
hổ nan (bắt hổ dễ, thả hổ nguy). Nhà vua bèn cấm tuyệt
không cho Quốc Chẩn ăn uống, bắt phải tự tử. Hoàng hậu phải
thấm nước vào áo đưa đến cho uống. Quốc Chẩn uống xong th́
mất. Những người bị bắt lây lên đến hơn hai trăm, khi tra
hỏi ai cũng kêu gào là oan. Về sau vợ cả, vợ lẽ của Trần
Phẩu ghen nhau đem việc Văn Hiếu Hầu đút lót vàng ra tố cáo.
Nhà vua giao việc này cho quan giữ việc h́nh ngục là Lê Duy
xét hỏi. Lê Duy là người cương trực, lập tức tra xét ngay.
Trần Phẫu phải tội lăng tŕ, c̣n Văn Hiếu Hầu tuy được tha
tội chết nhưng giáng xuống làm thứ dân, tước bỏ tên họ trong
ḍng tộc.7 Hơn 30 năm sau, vào một đêm mùa thu ngồi nghe
những giọt mưa ră rích rơi trên tàu lá chuối bên cửa sổ th́
vết thương lại nhức nhối hơn nữa:
Thu khí ḥa đăng thất thụ minh
Bích tiêu song ngoại đệ tàn canh
Tự tri tam thập niên tiền thác
Khẳng bá nhân sầu đối vũ thanh
Hơi thu và ánh đèn mờ đi trước ánh ban mai
Giọt mưa trên tàu chuối xanh ngoài cửa sổ tiễn canh tàn
Tự biết sai lầm của ta trước đây ba mươi năm
Đành ôm hận ngồi nghe mưa rơi
(Dạ Vũ - Mưa đêm)
Trần Minh Tông c̣n để lại khoảng hơn 10 bài thơ, vậy mà đă
có đến ba bài nói về nỗi ân hận do chính ḿnh gây ra đó Một
lần khác, trên chiếc thuyền đậu ở hồ Vịnh sơn, ngồi lặng bên
bếp ḷ, Trần Minh Tông cứ tưởng là biến cố đau ḷng ấy chỉ
mới đây thôi, có ai ngờ đă hơn 30 năm?
Nguyệt lạc tiểu song thuyền
Nham hoa lănh bất miên
Thự phân sơn thất ảnh
Dương phục thuỷ sinh yên
Văng sự tu du tế
Thành nhân tam thập niên
Bất ngôn hoảng nhược tỉnh
Tọa đối nhất lô tiều
Trăng lặng ngoài cửa sổ nhỏ trên thuyền
Hoa núi lạnh chẳng ngủ được
Tản sáng, bóng núi mờ hẳn đi
Khi mặt trời chưa có, mặt nước như bốc khói
Việc đă qua chỉ như trong chốc lát
Thành người được th́ đă 30 năm
Bâng khuâng như tỉnh lại, chẳng nói năng ǵ
Ngồi lặng lẽ trước bếp ḷ
(Thập nhật nguyệt quá bạc vịnh sơn hiểu trú)
Khi đọc những câu:
Việc đă qua chỉ như trong chốc lát
Thành người được th́ đă 30 năm
Bâng khuâng như tỉnh lại, chẳng nói năng ǵ
Ngồi lặng lẽ trước bếp ḷ
th́ ta có thể tưởng tượng nỗi đau ấy đă hành hạ và dày ṿ
Trần Minh Tông đến mức nào.
C̣n đây là bài thơ Trần Minh Tông đă tặng cho Phạm Tông Mại:
Đài ô cửa hỷ cấm vô thanh
Chỉnh đốn triều cương sự phỉ khinh
Điện thượng ngang tàng ưng hổ khí
Nam nhi đáo thử thị công danh
Chốn ô đài, lâu rồi sao cứ im lặng
Chỉnh đốn kỷ cương triều chính đâu phải việc dễ dàng
Trên điện chầu phải ngang tàng như chim cắt, như hổ.
Làm trai đến thế mới gọi là công danh
(Ban cho Phạm Tông Mại)
Phạm Tông Mại là ai? V́ sao nhà vua phải có thơ khen tặng?
Sử chép rằng, Phạm Tông Mại là vị quan nổi tiếng thanh liêm,
chính trực hay nói thẳng, chính những đức tính này đă nhiều
lần khiến ông phải bị giáng chức. Đối với vụ án Trần Quốc
Chẩn cũng thế, Phạm Tông Mại đă nhiều lần khẳng định với
Trần Minh Tông rằng Trần Quốc Chẩn bị oan. Nhưng nhà vua
không nghe và cứ làm theo ư ḿnh. Từ đó Phạm Tông Mại im
lặng, không bao giờ hở môi nói về nỗi oan khiên của Trần
Quốc Chẩn nữa. Nhưng khi nỗi oan của Trần Quốc Chẩn được làm
sáng tỏ th́ Trần Minh Tông mới hiểu được tấm ḷng của Phạm
Tông Mại, nên mới có bài thơ khen ngợi như một lời tạ lỗi
của nhà vua vậy.
Thật là khó tưởng tượng nổi vào thời điểm đó (thế kỷ 13) một
vị hoàng đế nắm trong tay quyền sinh sát tuyệt đối, vậy mà
phải sợ sự im lặng của một bề tôi dưới quyền ḿnh, chỉ v́
người đó dám nói lên sự thật:
Cửa hỷ cấm vô thanh
Lâu rồi sao cứ lặng tiếng
Không nghi ngờ ǵ nữa, chỉ có những triều đại dưới sự tác
động mănh liệt của tư tưởng Phật giáo như triều đại nhà Trần
của Việt Nam chẳng hạn, th́ mới tạo ra những nhà lănh đạo
đầy bản lănh dám lắng nghe tiếng kêu oan của những người dân
vô tội như vậy.
Trong Đại việt sử kư toàn thư, Ngô Sĩ Liên đă bàn về
vụ án Trần Quốc Chẩn như thế này: “Kinh dịch có câu: xem xét
chỗ sáng tỏ thông suốt mà thi hành điển lễ. Quốc Chẩn có lẽ
chưa từng nghe bao giờ, nhưng nỗi oan khuất của ông th́ phải
làm cho rơ. C̣n như Trần Khắc Chung cũng là nhân vật của một
thời, vua trao cho hắn chức vụ Sư bảo (chức Thiếu Bảo, lo
dạy Hoàng Tử) và đem việc hỏi hắn, đáng lẽ phải hết ḷng
trung khuyên can để vua trở thành Nghiêu, Thuấn mới phải,
đằng này lại hùa với kẻ quyền quư, vu hăm người ngay thẳng,
đi theo bọn gian tà, đẩy người lành tới chỗ oan khiên, hăm
vua vào việc làm tội lỗi, việc ấy mà c̣n nhẫn tâm làm được,
th́ có việc ǵ mà hắn không nhẫn tâm làm được nữa”.8 Đúng là
như vậy, chúng ta chỉ tiếc là Trần Minh Tông đă không phán
đoán đúng sự việc thôi, c̣n việc bức tử Trần Quốc Chẩn th́
nếu ta xét vào thời điểm đó (thế kỷ 13) tức thời kỳ cực
thịnh của các chế độ phong kiến, th́ Trần Minh Tông bắt buộc
phải chọn lựa hoặc là cha vợ hoặc là giữ vững ngai vàng cho
nhà Trần. Tất nhiên Trần Minh Tông phải giữ vững ngai vàng
cho vương triều Trần rồi.
Nhưng những lời nhận lỗi tha thiết và thành khẩn của kẻ đă
gây ra đau khổ có thể không làm lành hẳn vết thương nhưng có
thể xoa dịu phần nào để vết thương không c̣n rỉ máu thêm
nữa. Có lẽ chỉ những người mà trái tim biết rung động trước
những thống khổ của con người, th́ họ mới đủ can đảm để nói
lên những sai lầm mà chính họ đă gây ra đối với người khác
chăng?
Trần Minh Tông chính là con người ấy. Sử c̣n chép lại rằng
vào năm Giáp Tuất (1334) nhà vua đi tuần thủ Nghệ An, thấy
đời sống nhân dân quá lầm than cơ cực, vậy mà những người
trị dân ở đây vẫn cứ tiến hành xây dựng Cung Nghệ An, khiến
đời sống của người dân vốn đă cơ cực lại càng cơ cực hơn.
Trần Minh Tông xót xa vô cùng, và nhà vua đă ghi lại niềm
xót xa đó qua 4 câu thơ:
Sinh dân nhất thị ngă đồng bào
Tứ hải hà tâm sử khốn cùng
Tiêu tướng bất tri Cao Tổ Ư
Vị ương hư phí nhuận thành hồng
Hết thủy sinh dân đều là người ruột thịt của ta
Nỡ ḷng nào để cho bốn bể khốn cùng
Tướng quốc họ Tiêu, không hiểu ư của Cao Tổ
Tô điểm đỏ xanh cung vị ương chỉ là tiêu phí vô ích
(Nghệ An hành điện)
Có đọc bài thơ trên của vua Trần Minh Tông, ta mới hiểu tại
sao triều Lư cũng như triều Trần đă để lại cho lịch sử dân
tộc một tài sản tinh thần vô giá không chỉ trên phương diện
dựng nước và giữ nước mà c̣n cả một nền văn học đồ sộ nữa,
và chính nền văn học đó đă nuôi dưỡng sức sống và ḷng tự
hào dân tộc cho đến tận ngày hôm nay, thế mà chẳng có vị vua
nào trong hai triều đại trên đă để lại lăng tẩm của ḿnh đồ
sộ tương xứng như sự nghiệp mà họ đă để lại cho dân tộc. V́
sao vậy?
Sinh dân nhất thị ngă bào đồng
Tứ hải hà tâm sử khốn cùng
Hết thảy sinh dân đều là người ruột thịt của ta
Nỡ ḷng nào để cho bốn bể khốn cùng
Hai câu thơ trên của Trần Minh Tông khiến ta phải nhớ đến
câu nói bất hủ của nhà vua Lư Thánh Tông đời Lư mà lịch sử
của dân tộc ta đă trân trọng ghi lại. Mùa đông năm Ất Mùi
(1055), trời rét căm căm, nhà vua lại chạnh ḷng nhớ đến
những tù nhân đang bị giam giữ trong ngục, bèn nói với các
quan: “Ta ở trong cung kín, sưởi ḷ than, khoát áo lông mà
c̣n rét như thế này. Ta nghĩ đến tù nhân bị nhốt trong tù,
chịu trói buộc khổ sở, mà chưa
biết phải trái ra sao. Ăn không đầy bụng, mặc chẳng che thân
v́ gió rét, nên có kẻ chết không nơi nương tựa. Ta thật lấy
làm thương”. Rồi vua sai phát chăn chiếu cho tù, và cấp cho
một ngày hai bữa cơm”. Rồi nhà vua chỉ con gái ḿnh là Công
chúa Động Thiên mà nói với các quan lo việc kiện tụng rằng:
“Ta yêu con ta, như ta là cha mẹ yêu dân vậy, v́ dân không
hiểu luật lệ, nên mắc tội. Ta lấy làm thương vậy từ rày về
sau, không kể tội nặng hay nhẹ, các người phải xử một cách
khoan hồng cả”.9 Thế có nghĩa là vua Trần Minh Tông nói
riêng và các vua Lư Trần nói chung đều là những Phật tử, mà
nhất là những Phật tử đang điều hành quốc gia nữa, th́ họ
phải ư thức rằng họ đang “ôm lấy sự thống khổ” của muôn dân
như sự đau khổ của chính ḿnh. Vậy th́ lâu đài, cung điện,
lăng tẩm nguy nga, tráng lệ để làm ǵ, khi mà ngoài kia muôn
dân c̣n đang quằn quại trong đau khổ.
Khi vua Trần Minh Tông viết rằng :
Tiêu tướng bất tri Cao Tổ Ư
Vị ương hư phí nhuận thành hồng
Tướng quốc họ Tiêu không hiểu ư của Cao Tổ
Tô điểm đỏ xanh cung vị ương chỉ là tiêu phí vô ích
Th́ Trần Minh Tông đă ư thức được bài học của lịch sử rằng,
chính sự xây dựng lăng tẩm, đền đài, thành quách chẳng những
đă xài phí một cách vô ích mà c̣n là mối nguy sẽ kéo theo sự
sụp đổ của các chế độ phong kiến xưa nay nữa.
Trong lịch sử nhân loại tất nhiên không chỉ có vạn lư trường
thành của Trung Quốc thôi mà c̣n nhiều nữa, như các Kim Tự
Tháp ở Ai Cập chẳng hạn:
“Trong chính sách đối nội, các Pharaông thuộc vương triều
III và IV ra sức củng cố chính quyền trung ương tập quyền.
Một trong những biểu hiện sức mạnh và quyền lực vô hạn của
chính quyền Pharaông của hai vương triều này đều xây dựng
cho ḿnh một Kim tự tháp với kích thước lớn nhỏ khác nhau.
Pharaông đầu tiên của vương triều III là Giêse xây Kim tự
tháp của ḿnh ở Xackara. Đó là một ngôi tháp 6 tầng, cao
60m. Lớn nhất là hai ngọn Kim tự tháp ở Daksura (cao 99m) và
Kim tự tháp Kuphu (Kêốp) cao tới 146m. Đây cũng là những Kim
tự tháp hùng vĩ nhất trong số các Kim tự tháp c̣n lại đến
nay trên đất Ai Cập. Hàng vạn người đă bị bắt làm khổ sai
trong những công tŕnh “thế kỷ” này và nhiều người trong số
họ đă phải vùi thây trong cát bỏng của sa mạc. Chỉ có một
chính quyền chuyên chế hùng mạnh mới có thể lay động nỗi
ngần ấy sức người, sức của để phục vụ cho chiến tranh và các
công tŕnh xây dựng, đồng thời mới đủ sức trấn áp nổi sự
phản kháng của nô lệ và dân nghèo”.10 Cao điểm của cuộc phản
kháng quyết liệt là vào cuối thời kỳ của Vương triều IV, dân
chúng đă nổi dậy và “ném xác của các Pharaông ra khỏi Kim tự
tháp”.
Và sức mạnh của bất cứ quyền lực phi chính nghĩa nào rồi
cũng đến hồi phải kết thúc. Lịch sử cổ đại Ai Cập chép rằng:
“Nhờ dựa vào lực lượng quân sự hùng mạnh, các Pharaông đă
đàn áp nhân dân và bắt họ phải phục tùng. Đến khi lực lượng
quân đội ngày càng bị tiêu hao đi trong chiến tranh, chính
quyền chuyên chế trung ương suy yếu dần, th́ thế lực của bọn
quư tộc địa phương lại càng ngày càng lớn mạnh. Chúng ra sức
củng cố thế lực của ḿnh ở các địa phương bằng cách tập
trung trong tay quyền thu thuế, quyền xét xử, quyền chỉ huy
quân đội… đến Vương triều VI các quư tộc không xây lăng mộ
của ḿnh dưới bóng các Kim tự tháp như xưa nữa mà xây ở các
Châu quận của ḿnh. Các văn bản của các Châu quận cũng không
dùng ngày tháng theo niên hiệu của vua nữa mà để theo ngày
tháng tính từ
khi bọn quư tộc địa phương lên cầm quyền. Chúa của các Châu
quận cũng có tổ chức quân đội độc lập của ḿnh. Trong t́nh
h́nh đó, các Pharaông trên thực tế cũng chỉ thống trị trên
một vùng đất đai nhất định, giống như một chúa của các Châu
quận khác mà thôi. Đồng thời, nội bộ cung đ́nh luôn luôn
diễn ra những vụ tranh chấp, thoán đoạt lẫn nhau. Tuy bảng
phổ hệ của ḿnh, đến vương triều VII, Manêtôn chỉ có thể
thống trị v́ trong 70 ngày”. Các Pharaông của vương triều
VII và VIII hầu như không nắm được quyền hành ǵ cả. Chính
quyền của các Châu quận đă thay thế chính quyền trung ương.
Nhà nước thống nhất Ai Cập đă bị chia xẻ thành nhiều Châu
độc lập”.11 Không chỉ có Kim tự tháp của Ai Cập hay cung vị
- ương và Vạn lư trường thành của Trung Quốc thôi, mà triều
Nguyễn của Việt Nam cũng xảy ra biến cố đau ḷng như vậy:
“Năm Bính Dần (1866) là năm Tự Đức thứ 19, nhà vua đang xây
Vạn niên cơ tức Khiêm lăng bây giờ, quân sĩ phải làm lụng
khổ sở, có nhiều người oán giận. Bấy giờ ở Kinh có Đoàn
Trưng cùng với em là Đoàn Hữu Ái, Đoàn Tư Trực, và bọn
Trương Trọng Ḥa, Phạm Lương, kết làm “Sơn thi trừu hội” để
mưu lập Đinh Đạo lên làm vua. Bọn tên Trưng mới chiêu dụ
những lính làm ở Vạn niên cơ và cùng với quan hữu quân Tôn
Thất Cúc làm nội ứng, định ngày khởi nghĩa.
Đến đêm mùng 8 tháng 8, bọn tên Trưng đem quân vào cửa tả
Dịch, chực xông vào điện giết vua Dực Tông. May nhờ có quan
Chưởng vệ là Hồ Oai đóng được cửa điện lại, hô quân bắt được
tên Trưng, tên Trực và đồng đảng”.12 Và ngày nay ta vẫn c̣n
nghe được nỗi uất hận của những người bị bắt đi làm lao công
để xây dựng cái gọi là Khiêm lăng ấy:
Vạn niên là vạn niên nào
Thành xây xương lính, hào đào máu dân
Thế có nghĩa là đúng như câu nói nổi tiếng của một triết gia
ở thế kỷ 19: “Nơi nào có áp bức th́ nơi có đấu tranh”.
Người ta nói rằng, mặc dầu toàn bộ sự nghiệp trí thức của
triết gia này đă nằm im ĺm với bụi bặm của thời gian ở các
thư viện, ở trên thế giới nhưng câu nói này th́ vẫn được
những người dân bị áp bức khắp nơi tŕ tụng mỗi ngày như
kinh nhật tụng vậy. Nhưng chúng ta, những người được nuôi
dưỡng bởi ḷng từ bi của Đạo Phật vẫn mong ước rằng, làm sao
con người trên khắp thế giới hiện tại và cả mai sau nữa sẽ
không c̣n bỏ phí thời giờ để đấu tranh chống lại một thiếu
số người mà lúc nào cũng muốn tước đoạt sự sống của kẻ khác
để thỏa măn ḷng tham cũng như vị kỷ của ḿnh trên sự đau
khổ của kẻ khác, mà con ngườio chỉ nên để dành hết thời giờ
cho một cuộc đấu tranh khác quan trọng hơn, đó là đấu tranh
chống lại sự ngu xuẩn, tham lam và ích kỷ trong chính mỗi
người?
Và phải chăng điều đó chỉ có thể thực hiện được nếu tất cả
những nhà cai trị trên khắp thế giới hiện nay và mai sau đều
nghĩ được như vua Trần Minh Tông đă nghĩ cách đây đă 7 thế
kỷ?
Sinh dân nhất thị ngă đồng bào
Tứ hải hà tâm sử khốn cùng
Hết thảy sinh dân đều là ruột thịt của ta
Nỡ ḷng nào để cho bốn bễ khốn cùng
Nhưng ta nên xem đó là những lời nói chân thật thốt lên tự
đáy ḷng hay chỉ là khẩu hiệu chính trị? Điều mà dường như
những người dân thấp cổ bé miệng ở bất cứ thời nào cũng đều
hoài nghi đối với những người đang cai trị họ?
Chính sử gia Hoàng Xuân Hăn khi trích câu ‘ta yêu con ta,
như ta là cha mẹ dân yêu dân” cũng băn khoăn đặt câu hỏi như
vậy.
Nhưng sau đó Hoàng Xuân Hăn đă bác bỏ băn khoăn này mà khẳng
định rằng: “Ḷng thương người như vậy của vua Lư Thánh Tông
không phải là một sự giả dối của nhà chính trị mà chính là
phần biểu diễn của ḷng từ bi, do Phật giáo gây nên”. Riêng
với Trần Minh Tông cũng như vậy chứ không thể khác được.
Điều này có thể thấy qua một bài thơ mà nhà vua đă ghi lại
cảm nghĩ của ḿnh khi đi thị sát ở vùng biên giới Hoa -
Việt. Dù trong bài thơ ta không biết được là nhà vua đă đến
quan sát là buổi sáng hay buổi trưa, nhưng đọc bài thơ, ta
có thể tưởng tượng đó là một buổi chiều âm u ở vùng biên
giới cheo leo heo hút:
Nguyệt sinh giao thất lănh
Nhật lạc ngạc đàm không
Mặt trăng mọc khiến cho nhà giao long lạnh lẽo
Mặt trời lặn làm cho đầm cá sấu rỗng không
Từ bên này biên giới vua Trần Minh Tông nh́n qua bên kia là
Châu Tứ Minh của Trung Quốc. Vua Trần Minh Tông băn khoăn tự
hỏi, bên này hay bên kia th́ đâu có ǵ khác nhau, nếu có
khác nhau th́ chỉ là khác ở bề ngoài, như áo mũ chẳng hạn?
Thế mà tại sao tự nhận ḿnh là văn minh (Hoa Hạ) c̣n kẻ ở
biên giới khác với ḿnh th́ gọi là đồ man di?
Từ những suy nghĩ đó, nhà vua đă xúc cảm làm ra bài thơ với
mơ ước rằng, mọi người (bên này và bên kia) đừng kỳ thị và
phân biệt với nhau nữa, mà hăy cùng nhau sống dài lâu với
nhau trong ḥa b́nh và thân thiện:
Tư Minh tương tiếp giới
Chỉ cách mă ngưu phong
Ngôn ngữ vô đa biệt
Y quan bất khả đồng
Nguyệt binh giao thất lănh
Nhật lạc ngạc đàm không
Khẳng hạn Hoa di ngoại
Tề đăng thọ vực Trung
(Việt giới)
Châu Tứ Minh tiếp giáp biên giới nước ta
Cách biệt nhau chả đáng là bao
Tiếng nói không khác nhau nhiều lắm
Áo mũ th́ không giống nhau
Mặt trăng mọc khiến cho nhà Giao long lạnh lẽo
Mặt trời lặng làm cho đầm cá sấu rỗng không
Đâu có sự ngăn cách giữa Hoa và di
Đều nên cùng nhau bước lên cơi thọ
Đọc bài thơ trên của vua Trần Minh Tông, ta không thể không
liên tưởng đến điều 14 trong tác phẩm Lư hoặc Luận
của Mâu tử, một tác phẩm được viết tại nước ta vào thế kỷ
thứ 2 (Tây). Lư hoặc Luận có cả 37 điều, nhưng Mâu tử
đă dành trọn điều 14 để có thể nói là đánh một đ̣n chí tử
vào ḷng tự cao tự đại của người Trung Quốc lúc bấy giờ. Đối
với họ, chỉ có Trung Quốc mới là trung tâm của trời đất, c̣n
tất cả đều là man di mọi rợ. Trong điều 14, sau khi đă bác
bỏ những luận điệu như Trung Quốc là trung tâm của đất trời,
là văn minh, là đỉnh cao trí tuệ, c̣n các dân tộc khác là
man di mọi rợ v.v.. th́ Mâu Tử mới kết luận như thế này:
“Phật kinh sở thuyết, thượng hạ chu cực hàm huyết chi loại
vật giai thuộc Phật yên. Thị dĩ ngô phục tôn nhi học chi. Hà
vị đương xả Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng chi đạo? Kim ngọc bất
tương thương. Tùy bích bất tương phùng. Vị nhân vi hoặc thời
trị hoặc hồ? - Kinh Phật giảng dạy, trên dưới trùm khắp,
loài vật hàm huyết đều thuộc về Phật cả. Cho nên ta tôn kính
mà học lấy, sao bảo là phải bỏ cái đạo của Nghiêu, Thuấn,
Châu, Khổng. Vàng ngọc không tổn thương lẫn nhau;
châu tùy và ngọc bích không hại lẫn nhau. Bảo người ta lầm
khi chính tự ḿnh lầm vậy”.13
Với cái kết luận như vậy, th́ rơ ràng Mâu Tử đă dồn những
người tự nhận ḿnh là trung tâm của đất trời bỗng dưng thành
ra kẻ đang ở nơi vùng biên địa hạ tiện, tự cho ḿnh là văn
minh, là đỉnh cao trí tuệ lại trở thành những con ếch đang
ngồi dưới đáy giếng chẳng biết thế nào là trời cao đất rộng
cả.
Vua Trần Minh Tông chẳng những là một nhà Phật học mà c̣n là
một nhà lănh đạo của triều đại nhà Trần oanh liệt, triều đại
đă xem giáo pháp của Đức Phật như ư thức hệ chỉ đường cho
quốc gia Đại Việt, tất nhiên phải được hun đúc bởi truyền
thống mà Mâu Tử đă đúc kết một cách hàm súc giáo lư từ bi
của Đức Phật qua câu: “Kinh Phật giảng dạy, trên dưới trùm
khắp, loài vật hàm huyết đều thuộc về Phật”. Chính v́ được
hun đúc bởi truyền thống ấy cho nên khi đứng nh́n qua bên
kia biên giới của Trung Quốc, nước đă khinh bỉ gọi dân tộc
của ḿnh là man di (di địch), thế mà nhà vua vẫn không oán
thù mà c̣n cầu mong rằng:
Khẳng hạn Hoa Di ngoại
Tề đăng thọ việc trung
Di, Hạ đừng phân biệt
Cùng nhau sống dài lâu
Th́ việc vua Trần Minh Tông đă xem “hết thảy sinh dân đều là
người ruột thịt của ta, nỡ ḷng nào để cho bốn bể khốn cùng”
chắc chắn không phải là khẩu hiệu chính trị, mà phải được
xem như là thể hiện ḷng từ bi của một nhà lănh đạo Phật tử,
như cố giáo sư Hoàng Xuân Hăn đă nhận xét về một câu nói “ta
yêu dân như yêu con ta” của vua Lư Thánh Tông ở triều đại
nhà Lư vậy. Cái truyền thống cao quư ấy của tổ tiên, Trần
Minh Tông luôn luôn nhắc nhở giáo dục những người đi sau
cùng phải tôn trọng như chính ông đă tôn trọng. Sách Khâm
địch việt sử thông giám cương mục ghi lại:
“Một hôm, Thượng hoàng (chỉ Trần Minh Tông) mời Huệ Túc
vương vào Đại Niên tẩm điện (nơi ăn và nghỉ của vua), bảo
ngồi chơi. Thượng hoàng đang ăn cơm chay, Huệ Túc vương vốn
tính hay bài bác Đạo Phật và Đạo Lăo, nhân đó mới nói rằng:
Thần không biết ăn chay có ích ǵ không?
Thượng hoàng Trần Minh Tông đáp: Ông cha chúng ta ngày trước
ăn chay nên ta cũng bắt chước mà ăn, c̣n như hỏi rằng ăn
chay có ích ǵ hay không ta không biết.
Huệ Túc vương lặng lẽ lui ra”.14
Ngoài tấm ḷng “Coi hết thảy sinh dân là ruột thịt”, Trần
Minh Tông c̣n có một nét vô cùng độc đáo nữa, đó là ông
không bao giờ đánh giá con người nơi h́nh thức bề ngoài, mà
ông có thể nh́n thấu suốt bên trong (tốt hay xấu) của người
ấy. Đây có lẽ là một trong những đức tính vô cùng cần thiết
đối với những người đang ngồi ở cương vị lănh đạo chăng?
Bài thơ tặng cho Trần Bang Cẩn sau đây, sẽ cho thấy cặp mắt
tinh đời của Trần Minh Tông:
H́nh dung cốt cách nại đông hàn
Tướng mạo đ́nh đ́nh diệc khả quan
Phong lưu nhất đoạn hồn miêu tân
Tâm lư nan miêu cảnh cảnh đan
H́nh dung cốt cách chịu đựng được giá lạnh mùa đông
Tướng mạo đường đường cũng đáng xem
Mọi vẻ phong lưu đều vẽ được hết
Chỉ khó vẽ tấm ḷng son chói sáng mà thôi
Chính v́ chỉ thích “tấm ḷng son chói sáng” bên trong hơn là
thích vẻ phong lưu bên ngoài, nên Trần Minh Tông rất đáng
ghét thứ quan lại chỉ biết dua nịnh, lúc nào cũng muốn được
vừa ḷng hết mọi người, lúc nào cũng muốn “dĩ ḥa vi quư” để
mong được yên thân, đừng ai động đến chỗ ngồi của ḿnh cả.
Sách Đại Việt sử kư toàn thư có chép lại hai chuyện Trần
Minh Tông dạy viên quan có tên là Hiệu Khả, một tên quan lại
bất tài chỉ biết nịnh hót.
“Chuyện thứ nhất kể rằng, một lần, vua Trần Minh Tông muốn
thử ḷng dạ Hiệu Khả, liền lấy ra hai cái tráp đựng quần áo,
sai Hiệu Khả xếp loại tốt, xấu. Hiệu Khả chưa làm th́ vua đă
hỏi:
Một cái th́ do chính tay ta làm, một cái do Nội nhân Lê Kế
làm.
Ta thấy cả hai đều tinh xảo, theo ư người cái nào khéo hơn?
Hiệu khả xem đi xem lại một lúc lâu rồi nói giọng úp mở theo
kiểu nước đôi rằng:
Chúa thượng có cái khéo của Chúa thượng, bề tôi có cái khéo
của bề tôi.
Vua Trần Minh Tông nghe xong không nói ǵ, chỉ biết ph́
cười. Chuyện thứ hai kể rằng, có lần Hiệu Khả ca tụng vua
Trần Minh Tông là giỏi hơn vua cha Trần Anh Tông (1293 -
1314) vua biết Hiệu Khả là kẻ bất hiếu, đối đăi với cha mẹ
chẳng ra ǵ, muốn cho Hiệu Khả một bài học, bèn nghiêm sắc
mặt, ngăn không cho Hiệu Khả nói tiếp, rồi phán rằng:
“Ai mà khen người khác giỏi hơn cha mẹ họ th́ người ấy hẳn
là kẻ bất hiếu với cha mẹ ḿnh”.15 Nhưng có lẽ cuộc đối
thoại sau đây giữa Trần Minh Tông và Uy Túc vương Văn Bích
mới là đ́ều đáng cho chúng ta, những người đang sống ở đầu
thế kỷ 21 phải suy nghĩ:
“B́nh sinh Thượng hoàng Trần Minh Tông thường hay lấy gương
tốt, xấu của bề tôi các đời vua trước và lấy ngay nếp sống
thanh đạm của ḿnh để dạy các Hoàng tử, sách Khâm Định
việt sử thông giám cương mục (chính biện, quyển 9, tờ 27
và 28) chép rằng:
“Sau khi đă nhường ngôi, Thượng hoàng lui về phủ Thiên
Trường, mỗi khi các Hoàng tử vào chầu, Thượng hoàng thường
b́nh luận đến các nhân vật bản triều. Uy Túc vương văn Bích
nói:
Phàm b́nh luận nhân vật để dạy các Hoàng tử, chỉ nên nói đến
việc của người hay, c̣n việc người dở, hăy gạt bỏ đi, không
nói để cho người khác nghe bắt chước.
Thượng hoàng Trần Minh Tông nói:
Việc làm của kẻ hay, người dở đều nên bàn đến cả, không thể
gác bỏ thiên lệch được. Nếu con ta quả là người hiền th́
nghe việc hay tất nghe mà bắt chước, nghe việc dở tất ghét
mà tránh đi. Thế th́, kẻ hay người dở đều có thể làm gương
cả. Nếu con ta quả không hiền th́ cứ ǵ phải thấy việc dở
rồi sau mới bắt chước. Cứ xem như Thái Khang (vua thất đức
của nhà Hạ, sau bị Hậu Nghệ đuổi đi) là kẻ hôn quân, th́ có
phải v́ ông vua đời trước chơi bời luông tuồng mà Thái Khang
bắt chước đâu? Dưỡng Đế nhà Tùy, miệng nói việc của Nghiêu,
Thuấn, mà làm th́ bạo ngược hơn Kiệt, Trụ, th́ có phải thấy
người hay mà bắt chước được đâu?
Uy Túc vương nghe nói, cúi đầu tạ tội”.16
Từ xưa đến nay, những người viết sử đều cho rằng, sở dĩ đời
nhà Trần làm cho đất nước hùng mạnh không chỉ việc chống
ngoại xâm mà c̣n nhiều lănh vực khác nữa, là v́ nhà Trần
biết lắng nghe ư kiến của quần chúng nhân dân, mà đỉnh cao
là hội nghị B́nh Than (1282) rồi tiếp đến hội nghị mở rộng
Diên Hồng (1285). Nhưng nay qua câu nói:
“Việc làm của kẻ hay, người dở đều nên bàn tới cả, không thể
gác bỏ thiên lệch được” của vua Trần Minh Tông th́ ta có thể
biết được một lư do nữa là nhà Trần không chủ trương bưng
bít, che đậy, mà chủ trương công khai hóa, minh bạch hóa về
chính sách cũng như đời sống riêng tư của những người đang ở
trên cương vị lănh đạo.
Nói theo cách nói ngày nay, th́ nhà Trần đă bác bỏ lối thông
tin một chiều, và chủ trương thông tin đa chiều chăng?
Đó là một lư do nữa khiến nhà Trần có thể câu kết được ḷng
dân và đă trở thành một nhà nước hùng mạnh nhất ở vùng Đông
Nam Á ở thế kỷ thứ 13 chăng?
Cho nên chẳng có ǵ ngạc nhiên vào những thập niên đầu của
thế kỷ 20, khi đất nước bị quân ngoại xâm chiếm đóng, quyền
sống của người dân bị tước đoạt, th́ những nhà tri thức tiến
bộ nhất của dân tộc đều hô hào phục hưng lại tinh thần Phật
giáo, v́ Phật giáo có hưng thịnh th́ dân tộc và đất nước mới
hùng mạnh được, như hai triều đại Lư và đặc biệt là Trần mà
lịch sử đă chứng minh một cách hùng hồn. Xin được trích ra
đây lời phát biểu của hai nhà tri thức tiêu biểu nhất để kết
thúc bài này:
Trong báo Tiếng chuông sớm (1935) Phan Khôi viết:
“Ở nước ta cũng vậy; vào thời nhà Lư, nhà Trần, đạo Phật
tràn ngập cả nước, chùa chiền khắp nơi, thầy tu làm dân
tráng, nhưng nước nhà chưa hề có cái vẻ tích nhược như hồi
Lê Trung Hưng hay Nguyễn Thống nhất là cái thời đại Nho học
thịnh hành. Trái lại nhà Lư, nhà Trần mạnh lắm, dân khí c̣n
hăng lắm: mấy phen giặc Tàu sang chúng ta đuổi đi như đuổi
vịt. Lịch sử là cái bằng chứng mạnh lắm, không ai chối cải
được. Nó đă làm bằng chứng cho Phật giáo, không phải là một
thứ thuốc phiện làm mềm yếu con người”.
Và quan trọng nhất là Chí sĩ Phan Chu Trinh, một trong những
nhà cách mạng lỗi lạc của dân tộc Việt ở đầu thế kỷ 20:
“Trong số những nhà chí sĩ lănh đạo Đông Du và Đông kinh
nghĩa thục, ta có thể nói rằng Phan Chu Trinh là người tin
tưởng nhất về sự đóng góp của một nền Phật giáo phục hưng,
ông thường hô hào việc chấn hưng Đạo Phật để hỗ trợ cho cách
mạng. Có lần trong một buổi họp, giữa các đồng chí, sau khi
mới rung chuông, ông liền lên tiếng: “Nước Đại Nam chúng ta
ngày nay sở dĩ yếu hèn là v́ thiếu tinh thần tôn giáo. Chúng
ta không biết cương cường xă thân v́ nghĩa, chỉ bo bo giữ
cái lối riêng của ḿnh. Nay bà con thử xét, đời Trần sao dân
tộc ta hùng mạnh đến như vậy: quân Nguyên thắng cả Á cả Âu,
nuốt trọn Trung Hoa mà qua đến nước ta th́ bại tẩu, nào bị
cướp giáo ở Chương Dương Độ, nào bị bắt trói ở Bạch Đằng,
như vậy chẳng phải là nhờ Đạo Phật thời đó rất thịnh ư? Nhờ
tinh thần tôn giáo của ta ư?”17
T.P.A.
Nha trang, mùa Đông 2006
CHÚ THÍCH:
1
Tất cả
thơ của Trần Minh Tông trong bài này đều được trích từ
Thơ văn Lư Trần, quyển thượng, tập 2, NXB KHXH, Hà Nội
1988.
2
Tự ngôn của Thích Nguyên Chứng, lời mở đầu cho bản dịch Luật
Tứ Phần của H.T. Thích Đồng Minh, Thích Nguyên Chứng và
Thích Đức Thắng hiệu đính và chú thích, Viện NCPHVN xuất bản
2006.
3
Ư thức mới trong văn nghệ và triết học, trang 172-173, NXB
Đại Nam tái bản 1987 tại Mỹ.
4
Việt sử giai thoại tập 3, soạn giả Nguyễn Khắc Thuần, trang
65 - 66, NXB Giáo dục, Tp. HCM 2006.
5 Phạm
Công Thiện, sđd
trích răi rác các trang 492 – 493.
6
Thắng
Man Giảng
Luận
của
Tuệ Sỹ,
trang 74 -75.
7
Việt
sử
giai thoại
(đời
Trần)
sđd,
trang 55.
8
Việt
sử
giai thoại
(đời
Trần) trang
56.
9
Lư Thường
Kiệt,
của
Hoàng Xuân Hăn, tr. 364 – 365, NXB Quân
đội
nhân dân, Hà Nội
2003.
10
Lịch sử
Thế giới Cổ đại,
tr. 38,
nhiều tác giả, NXB Giáo dục 2005.
11
Sđd,
trang 43.
12
Việt
Nam sử lược
của
Trần Trọng Kim, NXB Tổng hợp TP. HCM 2005. 13 Nghiên cứu
về Mâu Tử, của Lê Mạnh Thát, Tu thư Vạn Hạnh 1982 14
Việt sử giai thoại tập 3 (đời Trần) Sđd, trang 58.
15
Sđd
trang 58 – 59.
16
Sđd
trang 57.
17
Việt Nam Phật giáo sử luận tập 3, của Nguyễn Lang, NXB văn
học Hà Nội 1994.
|