|
Trong
lịch sử Việt Nam, nhiều sách trước đây đă cho rằng triều đại
do Triệu Đà lập ra là một triều đại cổ Việt. Tuy nhiên, sử
Trung Hoa cho biết rằng Triệu Đà là tùy tướng của Nhâm Ngao,
và Nhâm Ngao là phiên tướng của nhà Tần.(1) Trước khi từ
trần, Ngao khuyên Triệu Đà nhân cơ hội Hán Sở tranh hùng,
nên dựa vào địa thế xa xôi hiểm trở của quận Nam Hải, thành
lập một nước độc lập với trung ương.(2) Triệu Đà liền chiếm
Nam Hải và tự xưng vương tức Triệu Vũ Vương, đặt quốc hiệu
là Nam Việt, đóng đô ở Phiên Ngung năm 207 TCN (giáp
ngọ).(3) Triệu Đà xua quân chiếm luôn các quận phía nam là
Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam và cử người sang cai trị các
quận nầy năm 198 TCN (quư măo).
Sau đó, tại Trung Hoa, Lưu Bang lật đổ nhà Tần lên cầm quyền
tức Hán Cao Tổ (trị v́ 202-195 TCN), lập ra nhà Hán (202 TCN
- 220). Năm canh ngọ (111 TCN), Hán Vũ Đế (Han Wu Ti, trị v́
140-87 TCN) sai Lộ Bác Đức (tước là Phục Ba tướng quân) đem
quân đánh nhà Triệu, giết vua Triệu lúc bấy giờ là Triệu
Dương Vương và thái phó Lữ Gia, chiếm Nam Việt, rồi đổi Nam
Việt thành Giao Chỉ bộ.
Đáng chú ư là bộ Giao Chỉ là một tên chung để chỉ một vùng
rộng lớn gồm chín quận Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp
Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Châu Nhai, Đạm Nhĩ mà
trong đó, theo Ngô Thời Sỹ, chỉ có ba quận Giao Chỉ, Cửu
Chân,và Nhật Nam mới riêng hẳn là cổ Việt. (4) Phải chăng v́
lầm lẫn giữa bộ Giao Chỉ và quận Giao Chỉ mà nhiều sử thuyết
đă đưa Triệu Đà thành một triều đại của cổ Việt và cho rằng
lănh thổ cổ Việt là khu vực cai trị của Triệu Đà bao gồm cả
vùng Quảng Châu (Trung Hoa) ngày nay?(5)
Sự kiện báo hiệu việc mở đầu công cuộc tranh đấu giành độc
lập của nước cổ Việt thuộc địa bàn khu vực nước ta ngày nay
là cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng năm 40 (canh tư). Trưng
Trắc, người huyện Mê Linh (Phúc Yên ngày nay), cùng em là
Trưng Nhị đánh đuổi thái thú Trung Hoa là Tô Định về nước,
lấy được một số thành tŕ và tự xưng vương, đóng đô ở quê
nhà là Mê Linh. Hai Bà Trưng đă được sử sách ghi lại là
người địa phương Giao Châu đầu tiên lập chiến công chống lại
chính quyền Trung Hoa, nói lên ư chí độc lập của người cổ
Việt nhắm tạo dựng một quốc gia riêng biệt, thoát khỏi ách
thống trị của Trung Hoa.
Năm 41 (tân sửu), Trung Hoa gởi Mă Viện sang Giao Châu. Mă
Viện (14 TCN – 49) là một danh tướng nhà Hán, cũng được
phong tước Phục Ba tướng quân, tiến đánh và dẹp yên cuộc
khởi nghĩa của Hai Bà Trưng năm 43 (quư măo). Nước cổ Việt
tiếp tục nằm dưới sự đô hộ của người Trung Hoa.
Về lịch sử cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, có những vấn đề cần
được xác định lại:
1) Tên chồng bà Trưng Trắc: Theo bộ Đại Việt sử kư toàn thư
(phần “Ngoại kỷ”, quyển 3 tờ 2a), được bộ Việt sử thông giám
cương mục dựa vào đó chép lại (phần “Tiền biên”, quyển 2 tờ
10),(6) chồng bà Trưng tên là Thi Sách. Sau đây là lời của
Toàn thư: “Tên huư là Trắc, họ Trưng. Nguyên là họ Lạc, con
gái của Lạc tướng huyện Mê Linh, Phong Châu, vợ của Thi Sách
ở huyện Châu Diên.(7)
Khi viết tên chồng bà Trưng là Thi Sách, Ngô Sĩ Liên đă dựa
vào tiểu truyện Hai Bà Trưng trong các sách Lĩnh Nam chích
quái (Trích những chuyện quái ở đất Lĩnh Nam, thế kỷ 15),
Việt điện u linh tập (Tập chuyện u linh ở Việt điện, thế kỷ
14) (8) và xa hơn nữa là bộ sử của Trung Hoa do Phạm Việp
viết là Hậu Hán thư (Sách về đời Hậu Hán, viết vào thế kỷ
thứ 5).(9) Ngành viết sử của nước ta chỉ bắt đầu vào thế kỷ
13, nên những đoạn sử trước đó, người xưa đều sử dụng tài
liệu Trung Hoa.
Trong phần chính văn bộ Hậu Hán thư của Phạm Việp, có đoạn
về Hai Bà Trưng như sau: “Hựu Giao Chỉ nữ tử Trưng Trắc, cập
nữ đệ Trưng Nhị phản công đầu kỳ quận. Cửu Chân, Nhật Nam,
Hợp Phố man di giải ứng, khấu lược Lĩnh ngoại lục thập dư
thành, Trắc tự lập vi vương.” (nghĩa là: “Ở Giao Chỉ có
người đàn bà tên là Trưng Trắc và em gái là Trưng Nhị nổi
lên làm loạn, đánh phá trong quận. Người man di ở các quận
Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đến hưởng ứng, cướp phá hơn 60
thành ở Lĩnh ngoại. Trắc tự xưng vương.”) (10)
Vào thế kỷ thứ 6, một tác giả khác tên là Lịch Đạo Nguyên,
đă du lịch sang cổ Việt, đến thăm vùng Mê Linh. Khi trở về
Trung Hoa, ông viết sách Thuỷ kinh chú, trong đó ông có đề
cập đến chuyện Hai Bà Trưng và viết như sau: "...Châu Diên
lạc tướng tử danh Thi sách Mê Linh lạc tướng nữ tử danh
Trưng Trắc vi thê. Trắc vi nhân hữu đảm dũng, tương Thi khởi
tặc; Mă Viện tương binh thảo, Trắc Thi tẩu nhập Cẩm Khê...”
(nghĩa là: ...Con trai của lạc tướng Châu Diên tên là Thi
hỏi [sách] con gái lạc tướng Mê Linh tên là Trưng Trắc làm
vợ...[Bà] Trắc là người can đảm, cùng [ông] Thi nổi dậy làm
giặc; Mă Viện đem quân đánh, [ông bà] Trắc Thi chạy vào Cẩm
Khê...) (11)
Dựa vào tài liệu Thuỷ kinh chú, trong khi chú thích phần
chính văn viết về Hai Bà Trưng của Hậu Hán thư, thái tử Lư
Hiền (12) đời nhà Đường, vào thế kỷ thư 8, đă chú thích
rằng: “Trưng Trắc giả, Mê Linh huyện Lạc tướng chi nữ dă,
giá vi Châu Diên nhân Thi Sách thê, thậm hùng dũng.” (nghĩa
là: “Trưng Trắc là con gái Lạc tướng huyện Mê Linh được gả
làm vợ một người huyện Châu Diên là Thi Sách, bà rất hùng
dũng.”(13)
Cần lưu ư là sách chữ Nho ngày xưa viết không có chấm câu,
nên người đọc có thể không biết câu văn dừng lại ở chỗ nào,
và rất dễ lẫn lộn câu nầy qua câu khác. Trong chú thích cuả
ḿnh, thay v́ viết tên “Thi” như Thuỷ kinh chú, thái tử Hiền
đă viết thành “Thi Sách”.
Cách viết của thái tử Hiền về tên chồng bà Trưng dẫn đến
cách viết của các tác giả Việt, từ Việt điện u linh tập, đến
Việt sử lược,(14) qua Lĩnh Nam chích quái, rồi đến các bộ
chính sử Toàn thư và Cương mục, nghĩa là các sách nầy đều
cho rằng chồng bà Trưng tên là Thi Sách. Sự lầm lẫn nầy
không phải do các tác giả Việt tự ư viết ra, mà do ảnh hưởng
của lời chú thích Hậu Hán thư của thái tử Hiền bên Trung
Hoa.
Người phát hiện ra sự lầm lẫn về tên chồng bà Trưng trong
chú thích của thái tử Hiền là học giả Huệ Đống, vào thế kỷ
thứ 18, dưới đời nhà Thanh (Trung Hoa).(15) Khi so sánh chú
thích của thái tử Hiền trong Hậu Hán thư và câu văn nguyên
thuỷ của Thuỷ kinh chú, Huệ Đống viết như sau: “Cứu Triệu
Nhất Thanh [16] viết “Sách thê” do ngôn thú thê. Phạm sử
tác: “Giá vi Châu Diên nhân Thi Sách thê” mậu hỉ. Án Thuỷ
kinh chú ngôn “tương Thi”, ngôn “Trắc Thi”, minh chỉ danh
Thi.” (nghĩa là: “Xét Triệu Nhất Thanh nói: “sách thê” c̣n
có nghĩa là “cưới vợ”; các sử học Phạm chép “Gả làm vợ người
Châu Diên là Thi Sách” là sai. Xem Thuỷ kinh chú thấy nói
“tương Thi”, rồi nói “Trắc Thi”, chỉ rơ ràng tên ông đó là
Thi.”(17)
Trong Thuỷ kinh chú, Lịch Đạo Nguyên viết: “...Châu Diên lạc
tướng tử danh Thi sách Mê Linh lạc tướng nữ tử danh Trưng
Trắc vi thê. ” (nghĩa là: “Con trai của lạc tướng Châu Diên
tên là Thi, hỏi [sách] con gái lạc tướng Mê Linh tên là
Trưng Trắc làm vợ.”). Trong câu nầy, nếu Thi Sách là họ và
tên th́ vế thứ nh́ của câu nầy thiếu động từ, trở nên tối
nghĩa. Như Huệ Đống đă viết, đọc tiếp đoạn Thuỷ kinh chú về
Hai Bà Trưng, sự cân đối trong cách dùng từ sẽ cho thấy rơ
tên của chồng bà Trưng. "... Trắc vi nhân hữu đảm dũng,
tương Thi khởi tặc; Mă Viện tương binh thảo, Trắc Thi tẩu
nhập Cẩm Khê...” (...[Bà] Trắc là người can đảm, cùng [ông]
Thi nổi dậy làm giặc; Mă Viện đem quân sang đánh, [ông bà]
Trắc Thi chạy vào Cẩm Khê...) Tác giả Lịch Đạo Nguyên dùng
tên Trắc, vậy th́ chữ Thi theo sau đó cũng phải là tên chứ
không thể là họ. Lịch Đạo Nguyên đă đến Mê Linh vào thế kỷ
thứ 6 và phát hiện tên chồng bà Trưng tên là Thi, vậy tốt
nhất nên trở về đúng tên ban đầu của chồng bà Trưng, tức là
ông Thi.
2. Lư do cuộc khởi nghĩa : Theo Toàn thư, thái thú Trung Hoa
là Tô Định cai trị tàn bạo, dùng pháp luật trói buộc, lại
giết chồng Bà Trưng nên Bà khởi nghĩa. Sau đây là lời của
Toàn thư: “ Mùa xuân, tháng Hai [canh tư], vua [Trưng Trắc]
khổ v́ thái thú Tô Định dùng pháp luật trói buộc, lại thù
Định giết chồng ḿnh, mới cùng em gái là Nhị nổi binh đánh
hăm trị sở ở châu...”(18)
Như trên đă trích dẫn, theo Lịch Đạo Nguyên trong sách Thủy
Kinh Chú th́: "... Trắc vi nhân hữu đảm dũng, tương Thi khởi
tặc; Mă Viện tương binh thảo, Trắc Thi tẩu nhập Cẩm Khê...”
(...[Bà] Trắc là người can đảm, cùng [ông] Thi nổi dậy làm
giặc; Mă Viện đem quân sang đánh, [ông bà] Trắc Thi chạy vào
Cẩm Khê...) như vậy có nghĩa là ông Thi c̣n sống khi Bà
Trưng nổi lên. Vậy lư do khởi nghĩa v́ thù chồng mà Toàn thư
viết không đứng vững.
Một tài liệu khác đă giải thích v́ sao chồng Bà Trưng bị
khai tử trong khi ông vẫn c̣n sống và cùng vợ khởi nghĩa. Đó
là quyển The Birth of
Vietnam [Việt Nam khai sinh] của tác giả Keith Weller
Taylor. Trong sách nầy, tác giả Taylor cho rằng do thành
kiến trọng nam, các nhà viết sử người Việt của những thế kỷ
sau thời Hai Bà Trưng không thể chấp nhận chuyện một người
phụ nữ lănh đạo cuộc khởi nghĩa và trở thành vua trong khi
ông chồng vẫn c̣n sống, nên họ đă viết rằng Tô Định đă giết
chồng Bà Trưng. Trong khi đó, cũng theo Taylor, những tài
liệu Trung Hoa cho thấy rơ rằng ông Thi đă theo Bà Trưng
khởi nghĩa.(19)
Về lư do thứ nhất, Bà Trưng khởi nghĩa v́ bị luật pháp ràng
buộc, khi chú thích Hậu Hán thư của Phạm Việp, cũng trong
đoạn viết về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, thái tử Hiền đă
viết vào thế kỷ thứ 8:"...Giao Chỉ thái thú Tô Định dĩ pháp
thằng chi, Trắc oán nộ cố phản...” (...Thái thú Giao Chỉ là
Tô Định dùng luật pháp trói buộc nên [bà] Trắc tức giận làm
phản...). (20)
Chữ "pháp" mà thái tử Hiền dùng không phải chỉ một nghĩa hẹp
là "luật lệ", mà chữ "pháp" ở đây có thể hiểu rộng hơn như
là pháp chế, tổ chức hành chánh, chính trị, cũng như kinh
tế, văn hóa, phong tục. Nói một cách khác, Tô Định đă áp đặt
mạnh mẽ chế độ cai trị của Trung Hoa theo chính sách đồng
hóa của nhà Hán (202 TCN - 220), làm mất tự do của người cổ
Việt, và Trưng Trắc đă nổi lên khởi nghĩa chống lại Tô Định.
Về pháp luật, trong một đoạn nói về việc cai trị của Mă Viện
sau khi dẹp Hai Bà Trưng, Hậu Hán thư (quyển 54, tr. 747)
chép: "Điều tấu Việt luật dữ Hán luật bác giả thập dư sự."
(Luật dân Việt và luật nhà Hán khác nhau đến trên mười
điều).(21) Có lẽ Hậu Hán thư viết nhẹ nhàng là chỉ có mười
điều, nhưng nếu là mười điều căn bản tối quan trọng của tổ
chức xă hội th́ cũng đủ trở thành gông cùm trói buộc những
người cổ Việt đang sống tự do theo phong tục tập quán của
ḿnh.
Như vậy, Hai Bà Trưng đă khởi nghĩa v́ ư chí tự do độc lập
của dân tộc cổ Việt. Lư do nầy rất cao cả, chính đáng, và
mạnh mẽ. Phải chăng khi nghĩ rằng việc bị pháp luật ràng
buộc không đủ mạnh, nên các sử gia chính thống ngày trước
phải thêm chuyện thù chồng để việc nổi dậy thêm phần ư
nghĩa. Nói cho cùng, chuyện thù chồng chỉ là chuyện cá nhân
của mỗi người, chứ không phải là đại nghĩa của đất nước;
huống ǵ ở đây chồng bà Trắc c̣n sống và cả hai cùng nổi
dậy. Cũng chính v́ thêm việc thù chồng, nên các tác giả của
các bộ sử trên đây biên chép kết quả cuộc khởi nghĩa không
rơ ràng.
Cần chú ư, lúc đó Mă Viện đă về hưu trí, nhưng vua nhà Hán
phải mời Mă Viện ra cầm quân trở lại để b́nh định cổ Việt,
đủ thấy sức kháng cự của Hai Bà Trưng rất mạnh mẽ làm cho
nhà Hán phải lo ngại gởi một danh tướng đi đánh dẹp.
3. Kết quả cuộc khởi nghĩa : Theo Hậu Hán thư, khi Mă Viện
được vua Hán cử sang Giao Châu năm 41, th́ vào mùa xuân năm
sau, Mă Viện đụng trận với Hai Bà Trưng tại vùng Lăng Bạc.
(theo Cương mục, Lăng Bạc là vùng hồ Tây, Hà Nội ngày nay)
Bà Trưng cùng chồng thua chạy. Mă Viện đuổi Bà Trưng đến Cẩm
Khê, đánh thắng mấy trận, quân bà Trưng bị tan ră. (theo
Cương mục, Cẩm Khê là vùng Sơn Tây ngày nay). Hậu Hán thư
c̣n viết tiếp Mă Viện chém Trưng Trắc, Trưng Nhị gởi đầu về
Lạc Dương vào tháng giêng năm 43.(22)
Trong Việt sử lược, tác giả khuyết danh đă viết: “Năm thứ 19
[niên hiệu Kiến Vũ nhà Hán tức năm 43] Trưng Trắc càng nguy
khốn, bị Mă Viện giết.”(23) Tác giả Lê Tắc (24) trong An Nam
chí lược cũng viết như thế: “Năm Kiến Vũ thứ 19, Mă Viện
chém yêu tặc là Trưng Nhị và đánh luôn cả dư đảng, bọn Đô
Dương. Đến huyện Cư Phong, bọn nầy đầu hàng.”(25) Lê Tắc gọi
Hai Bà Trưng là “yêu tặc” v́ lúc đó ông đầu hàng quân
Nguyên, nên ông đứng trên quan điểm của người Trung Hoa viết
về vị nữ anh hùng dân tộc Việt.
Tuy nhiên, khi viết chính sử vào thế kỷ thứ 15, Ngô Sĩ Liên
dừng lại ở chỗ Hai Bà Trưng thua chạy, chứ không đề cập đến
cái chết của Hai Bà. Sau đây là lời của Toàn thư: “Vua thấy
thế giặc mạnh lắm, tự nghĩ quân ḿnh ô hợp, sợ không chống
nổi, lui quân về giữ Cẩm Khê. Quân chúng cũng cho vua là đàn
bà, sợ không đánh nổi địch, bèn tan chạy. Quốc thống lại
mất.”(26)
Toàn thư không đề cập đến cái chết của Hai Bà Trưng, nên
trong Việt sử tiêu án, Ngô Thời Sỹ cũng viết: "...Trưng
Vương thấy quân nhà Hán thế mạnh, tự nghĩ quân ḿnh ô hợp sợ
không chống nổi bèn lui về giữ ở Cẩm Khê. Quân lính cũng
nghĩ vương là người con gái, không thể địch với tướng Hán
được, đều tự vỡ chạy...Xét quân Hai Bà Trưng thua chạy đến
núi Hy Sơn, rồi không biết đi đâu...”(27)
Trong sách Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú
viết:"...Được ba năm, nhà Hán sai Mă Viện sang đánh. Vua
[chỉ Trưng Trắc] thấy quân Hán đông, tự xét không thể địch
nổi, mới lui giữ Cẩm Khê. Quân đều tan vỡ. Vua cùng quân Hán
đánh nhau, thế cùng phải chết. Nước bị mất...”(28) Như thế,
Phan Huy Chú đă viết rơ ra rằng Trưng Trắc bị thua, bỏ chạy
vào Cẩm Khê, và từ trần mà tránh nói v́ sao bà từ trần.
Qua đến Cương mục, các tác giả sách nầy cho rằng Hai Bà
“thất trận chết”. Sách Cương mục viết: “Trưng Vương cùng em
gái là Nhị cự chiến với quân Hán; quân vỡ, thế cô, đều bị
thất trận chết.”(29)
Ngang đây, xuất hiện bộ sử thi Đại Nam Quốc sử diễn ca [Sử
nước Đại Nam diễn ra lời ca] dưới thời vua Tự Đức.(30) Các
tác giả sách nầy đă thi vị hóa cái chết của Hai Bà Trưng:
" Cẩm Khê đến lúc hiểm nghèo,
Chị em thất thế cùng liều với sông.”(31)
Trí tưởng tượng của các thi sĩ trên được tác giả Tiên Đàm
Nguyễn Tường Phượng tô điểm thêm trong bài "Thân thế và sự
nghiệp của hai bà Trưng" trên báo Tri Tân, số 38 ra ngày
11-3-1942, trang 219. Nguyễn Tường Phượng viết: "...Chị em
Trưng Vương thất thế phải gieo ḿnh xuống cửa sông Hát giang
mà tự tận...”
H́nh ảnh gieo ḿnh xuống sông Hát có vẻ vừa hào hùng, vừa
lăng mạn dễ trở thành đề tài cho thi ca nhạc kịch, và dễ
được lan truyền trong trí tưởng tượng của quần chúng hơn là
h́nh ảnh thân gái hy sinh nơi chiến trường, bị bắt chặt đầu
một cách rùng rợn rồi gởi về Trung Hoa.
Với tinh thần của một người ngoại cuộc, theo những tài liệu
phát hiện được, tác giả Keith Weller Taylor viết thẳng thừng
rằng: "Mă Viện tiến đến Mê Linh, và vào cuối năm [42] đă bắt
được Trưng Trắc cùng em là Nhị; vào tháng giêng năm sau, đầu
của hai chị em được gởi về triều đ́nh nhà Hán ở Lạc Dương”
(32)
Có thể các sử gia người Việt ngày trước muốn tránh né một sự
thật đau ḷng và không mấy vẻ vang cho dân tộc Việt, nên
tránh né không viết chuyện Mă Viện chém đầu Hai Bà Trưng gởi
về dâng lên triều đ́nh Trung Hoa, rồi đến các văn nhân đă
thi vị hóa bằng cách mô tả Hai Bà đă tuẫn tiết trên ḍng
sông Hát.(33)
Tuy nhiên việc Hai Bà Trưng bị chết một cách thảm thương như
vậy đâu có làm giảm oai linh của người nữ anh hùng dân tộc
chúng ta. Điều đó càng chứng tỏ Hai Bà Trưng đă quyết chiến
đấu đến cùng, và hy sinh tính mạng trên chiến trường v́ nền
độc lập của dân tộc chúng ta. Chẳng những trong lịch sử Việt
Nam, mà cả trong lịch sử thế giới Hai Bà Trưng được ghi nhận
là trường hợp người phụ nữ đầu tiên nổi lên sớm nhất chống
lại quân ngoại xâm giành lại nền độc lập cho dân tộc. Đó là
một sự hy sinh vĩ đại của một bậc nữ lưu mà cổ kim đông tây
không thấy có, và đời đời dân tộc Việt tưởng nhớ ghi ơn.
Khi đọc đoạn sử về Hai Bà Trưng, vua Tự Đức (trị v́
1847-1883) đă ngự phê: " Hai Bà Trưng thuộc phái quần thoa,
thế mà hăng hái quyết tâm khởi nghĩa, làm chấn động cả triều
đ́nh Hán. Dẫu rằng thế lực cô đơn, không gặp thời thế, nhưng
cũng đủ làm phấn khởi ḷng người, lưu danh sử sách. Ḱa
những bọn nam tử râu mày mà chịu khép nép làm tôi tớ người
khác, chẳng những mặt dày thẹn chết lắm dư! "(34)
CHÚ THÍCH :
(1)Quốc Sử Quán triều Nguyễn, Việt sử thông giám cương mục,
dụ chỉ tr. 9, bản dịch ban Nghiên cứu Văn Sử Địa, Hà Nội
1957, tr. 61). (Viết tắt: Cương mục). Các nhân vật nầy c̣n
xuất hiện trong bộ tiểu thuyết dă sử Hán Sở tranh hùng của
Trung Hoa. Việt sử thông giám cương mục do Quốc sử quán
triều Nguyễn soạn dưới triều Tự Đức, xong năm 1881 (tân tỵ),
gồm hai phần: Tiền biên (5 quyển) bắt đầu từ thời Hồng Bàng
đến Thập nhị sứ quân, và Chính biên (47 quyển) từ Đinh Tiên
Hoàng (trị v́ 970-979) đến Lê Chiêu Thống (trị v́
1787-1788).
Cương mục, bản dịch, sđd. tr. 63.
(2)Theo lời "chua" của quốc sử quán triều Nguyễn trong Cương
mục, bản dịch, sđd. tr. 64, Phiên Ngung ngày xưa thuộc quận
Nam Hải, ngày nay là đất Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung
Hoa.
(3)Ngô Thời Sỹ Việt sử tiêu án, bản dịch của Hội Việt Nam
Nghiên Cứu Liên Lạc Văn Hóa Á Châu, Sài G̣n, Văn Sử tái bản,
San Jose 1991, tr. 25, 34. Thật ra, chỉ có Giao Chỉ
và Cửu Nhân là hai quận của cổ Việt, c̣n Nhật Nam lúc đó là
đất Chiêm Thành. Cũng theo Ngô Thời Sỹ v́ Triệu Đà sáp nhập
cổ Việt vào Nam Việt nên khi Nam Việt bị nhà Hán sáp nhập
vào Trung Hoa, nước cổ Việt cũng bị họa lây. Do đó, theo Ngô
Thời Sỹ, Triệu Đà chẳng những không có công ǵ với cổ Việt
mà c̣n thủ họa cho cổ Việt nữa. (sđd. tr.34)
(4)Gần giống như tỉnh bang
Quebec với thành phố
Quebec, nước Mexico với thành phố Mexico.
(5) Tên Giao Chỉ có từ xưa, người Trung Hoa dùng để chỉ vùng
đất về phía tây nam xa ngoài đất Bách Việt (Toàn thư, bản
dịch, sđd. tr. 131.). Đến đời nhà Tần, Giao Chỉ là Tượng
quận (Cương mục, bản dịch, sđd. tr. 59). Đầu đời nhà Hán,
Hán triều tách Tượng Quận làm 3 thành Giao Chỉ, Cửu Chân, và
Nhật Nam (Cương mục, bản dịch, sđd tr. 59). Triệu Đà sáp
nhập ba quận nầy vào nước Nam Việt năm 198 TCN. (Cương mục,
bản dịch, sđd. tr. 64.)
(6)Khi Lộ Bác Đức đem quân đánh Nam Việt năm 111 TCN, chính
quyền họ Triệu ở Phiên Ngung chống lại quân nhà Hán, trong
khi chính quyền ở quận Giao Chỉ đem sổ đinh ra nạp xin hàng.
Do vậy nhà Hán gọi chung đất Nam Việt là Giao Chỉ bộ mặc dầu
trong chín quận kể trên, chỉ có hai quận thuộc cổ Việt, sáu
quận thuộc Quảng Châu (Cương mục, bản dịch, sđd. tr. 79)
(7)Năm 203, nhà Đông Hán đổi Giao Chỉ bộ thành Giao Châu,
ngang hàng với các châu khác bên TrungHoa (Cương mục bản
dịch, sđd. tr. 96). Năm 264, nhà Ngô chia Giao Châu thành
hai: Quảng Châu gồm Nam Hải, Thương Ngô, Út Lâm, đóng châu
lỵ ở Phiên Ngung (Quảng Châu); Giao Châu gồm Giao Chỉ, Cửu
Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, đóng châu lỵ ở Long Biên (Thăng
Long, Hà Nội) (Cương mục, bản dịch sđd. tr. 105)
(8)Về bộ Đại Việt sử kư toàn thư, viết tắt là Toàn thư, và
bộ Việt sử thông giám cương mục, viết tắt là Cương mục, xin
xem bài 1.
(9)Toàn thư, bản dịch của Nxb. Khoa học Xă hội, Hà Nội,
1993, tr. 156.
(10)Về các bộ sách nầy, xin xem bài 1.
Nhà Hán (202 TCN - 220) ở Trung Hoa được chia thành hai giai
đoạn: Tiền Hán hay Tây Hán (202 TCN - 25) và Hậu Hán hay
Đông Hán (25-220). Giữa Tiền Hán và Hậu Hán, từ năm 9 đến
năm 23 là giai đoạn do Vương Măng cầm quyền. Khi Lưu Tú (Hán
Quang Vơ) tái lập được nhà Hậu Hán, ông dời đô về Lạc Dương,
phía bắc tỉnh Hồ Nam.
(11)Phạm Việp, Hậu Hán thư, quyển 54, trong bộ Nhị thập ngũ
sử, tr. 747, cột 3. Nguyễn Phương, Việt Nam thời khai sinh,
Pḥng Nghiên cứu Sử, Viện Đại học Huế, 1965, tr. 174, trích
dẫn, phiên âm và dịch nghĩa.
(12)Lịch Đạo Nguyên, Thuỷ kinh chú, quyển 37, tờ 62a. Nguyễn
Phương trích dẫn, phiên âm, và dịch nghĩa, sđd. tr. 179. Về
tên tác giả Thủy kinh chú, sử gia Nguyễn Phương phiên âm là
Lệ Đào Nguyên, tác giả Đào Duy Anh phiên âm là Lệ Đạo
Nguyên, nay theo phiên thiết của Từ hải xin phiên âm là Lịch
Đạo Nguyên.
(13)Thái tử Lư Hiền, con vua Đường Cao Tông (trị v́
649-683). Sau khi vua Đường Cao Tông từ trần, Lư Lăng Vương
lên ngôi tức Đường Trung Tông (trị v́ 683-710). Ngay từ 683,
bà Vơ hậu chuyên quyền, rồi tự ḿnh lên làm vua tức Vơ Tắc
Thiên (trị v́ 690-705). Vơ hậu đày các hoàng thân nhà Đường
đi xa. Thái tử Hiền nằm trong số nầy. Chính trong thời gian
bị lưu đày, ông đă chú thích bộ Hậu Hán thư.
(13)Nguyễn Phương, trích dẫn, phiên âm và dịch nghĩa, sđd.
tr. 178.
(14)Việt sử lược: về sách nầy, xin xem bài 1. Về phần chồng
bà Trưng, Việt sử lược viết: “Trưng Trắc lấy chồng người
huyện Châu Diên là Thi Sách.”(Việt sử lược, Nguyễn Gia Tường
dịch, Nguyễn Khắc Thuần hiệu đính, Nxb. TpHCM, 1993, tr.
39.) Đặc biệt, sách Việt sử lược hầu như không được nhắc đến
trong nền sử học Việt Nam trước thế kỷ 19, kể cả các sách
của học giả Dương Quảng Hàm cũng không đề cập đến.
(15)Huệ Đống (Hui Dong, 1697-1758): học giả Trung Hoa đời
nhà Thanh, sống qua các đời vua Khang Hy, Ung Chánh, Càn
Long, người huyện Ngô, tỉnh Giang Tô, tự là Định Vũ, hiệu là
Tùng Ngân, con trai thứ của Sĩ Kỳ. Ông chuyên nghiên cứu về
kinh sử, đặc biệt nổi tiếng qua các bộ sách Dịch Hán học
(Học thuật Kinh Dịch đời Hán), Thượng thư khảo (Khảo cứu về
quyển Thượng thư tức Kinh thư), Hậu Hán thư bổ chú (Chú
thích thêm về bộ Hậu Hán thư). [Theo Nguyễn Tiến Văn,
Toronto.]
(16)Triệu Nhất Thanh (Zhao Yiqing, 1709-1764), trẻ hơn Huệ
Đống 12 tuổi, cũng trải qua ba triều vua Khang Hy, Ung
Chánh, Càn Long. Ngoài các văn tập để lại, ông c̣n có các
công tŕnh biên khảo về Tam Quốc, và sông ng̣i Trung Hoa,
nhất là sông ng̣i tỉnh Trực Lệ (Hà Bắc, phía bắc Trung Hoa).
[Theo Trần Huy Bích,
Orange County, điện thư ngày 4-12-2001]
(17)Nguyễn Phương trích dẫn, phiên âm và dịch nghĩa, sđd.
tr. 179. Theo sử gia Nguyễn Phương, ông đọc được lời của Huệ
Đống ở phần “Phụ lục” quyển 54 của Hậu Hán thư trong bản in
của Nghệ Văn Ấn Thư Quán, Hương Cảng, 1952.
(18)Toàn thư, bản dịch sđd. tr. 156.
(19)Keith Weller Taylor, The Birth of
Vietnam [Việt Nam khai sinh], University of
California Press, 1983, tt. 38-39.) Có thể cũng v́ lư do nầy
mà hai anh em Triệu Quốc Đạt và Triệu Thị Trinh cùng khởi
nghĩa năm 248, nhưng v́ Triệu Thị Trinh là phụ nữ lại lănh
đạo cuộc khởi nghĩa, nên Toàn thư cũng như Cương mục hoàn
toàn không viết về Triệu Quốc Đạt, xem như không có nhân vật
nầy.
(20)Nguyễn Phương trích dẫn, sđd. tr. 176.
(21)Nguyễn Phương trích dẫn, sđd. tr. 137.
(22)Hậu Hán thư, quyển 54, tr. 747. Nguyễn Phương trích dẫn,
sđd. tr. 183.
(23)Việt sử lược, bản dịch sđd. tr. 40.
(24)Lê Tắc (hay Lê Trắc ) tự Cảnh Cao, vốn họ Nguyễn, được
người cậu tên Lê Phụng nuôi nên đổi qua họ Lê, người Ái Châu
(Thanh Hóa), làm tham mưu cho Chương Hiến Hầu Trần Kiện.
Trần Kiện là con của Trần Quốc Khang (anh cùng mẹ khác cha
của vua Trần Thái Tông), làm trấn thủ Nghệ An, đă đầu hàng
Toa Đô khi Toa Đô tấn công Nghệ An vào đầu năm 1285. Toa Đô
cho người giải Trần Kiện về Tàu. Khi ngang qua Lạng Sơn, dân
binh đổ ra tấn công, Trần Kiện bị chết, Lê Tắc cướp được xác
chủ, đem an táng, rồi bỏ trốn sang Trung-Hoa. Ở Trung-Hoa,
Lê Tắc viết bộ An Nam chí lược. (Trần
(25)Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Nxb. Tân Việt, in lần thứ
7, Sài G̣n, 1964, tr. 141. Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học
sử yếu, Nxb. Bộ Giáo Dục, Sài G̣n 1960, in lần thứ 7, tr.
241, phần chú thích).
(26)Nguyễn Phương, sđd. tr. 183. Nguyễn Phương trích dẫn,
phiên âm và dịch nghĩa. Nguyên câu do Nguyễn Phương phiên âm
là: “ Thập cửu niên, Mă Viện trảm Trưng Nhị yêu tặc, kích kỳ
dư đảng Đô Dương đằng, chí Cư Phong huyện hàng chi.” [Trong
câu phiên âm nầy, phần thứ nh́: đáng lẽ chữ “nhị” không viết
hoa (“Mă Viện trảm Trưng nhị yêu tặc” ), và dịch là: “Mă
Viện giết Trưng, hai yêu tặc.”]
(27)Toàn thư, bản dịch sđd. tr. 156.
(28)Ngô Thời Sỹ, sđd. 40.
(29)Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, bản dịch
của Nxb Khoa học Xă hội, Hà Nội 1992, tập 1, tr. 187. Phan
Huy Chú (1782-1840) là con của Phan Huy Ích (1750-1822),
cháu của Phan Huy Ôn. Ông học rộng biết nhiều, nhưng rớt hai
khoa thi hương năm 1807, 1819 vào đầu đời nhà Nguyễn và chỉ
được xếp hạng tú tài. Năm 1821, ông được bổ nhiệm làm Hàn
lâm viện biên tu. Cũng trong năm nầy, ông tŕnh bộ Lịch
triều hiến chương loại chí, được xem là bộ bách khoa toàn
thư về văn hóa nước ta. Về sau làm Phủ thừa phủ Thừa Thiên,
hiệp trấn Quảng Nam, đă từng đi sứ sang Trung Hoa năm 1830,
và đi sứ sang Batavia cuối năm 1833. (Dưới đời nhà Nguyễn
(1802-1945), Thừa Thiên là nơi đặt kinh đô, nên tổ chức hành
chánh đặc biệt. Phủ thừa là người đứng đầu phủ Thừa Thiên.)
(30)Cương mục, bản dịch, sđd. tr. 84.
(31)Đại Nam quốc sử diễn ca: Lịch sử Đại Nam được viết bằng
thơ là quyển thơ do một tác giả khuyết danh người Bắc Ninh
khởi thảo và nạp về triều đ́nh nhà Nguyễn năm 1857. Năm
1859, do sự đề cử của Phan Thanh Giản, Lê Ngô Cát sửa lại và
viết thêm đến lúc Lê Chiêu Thống chạy sang Trung Hoa. Phạm
Xuân Quế nhuận sắc lại. Năm 1873, Phạm Đ́nh Toái theo bản
của Lê Ngô Cát viết lại, bốn phần c̣n một; Phan Đ́nh Thực và
các danh sĩ thời đó nhuận sắc, rồi Phạm Đ́nh Toái khắc in ở
Nghệ An.(Dương Quảng Hàm, sđd. tr. 272.) Ngày nay, người ta
xem hai ông Lê Ngô Cát và Phạm Đ́nh Toái là đồng tác giả
quyển thơ nầy.
(32)Lê Ngô Cát và Phạm Đ́nh Toái, Đại Nam Quốc sử diễn ca,
Nxb. Trường Thi, Sài G̣n 1956, tr. 75.
(33)Keith Weller Taylor, sđd. tr. 40.
(34)Sông Hát là chi lưu của sông Đáy, chạy dọc theo tỉnh Hà
Đông. |