Edel Maex
Nhất nguyên trong đa
dạng – Phật giáo như một tôn giáo
(Tiểu luận
số 5 về Phật giáo)
Nguyễn Thanh Hùng dịch
Khi những giáo sĩ Ḍng Tên (Jezuïten) đến Trung Hoa năm
1549 và khám phá ra Phật giáo, phản ứng của họ là “Ma
quỷ đă đến đây trước chúng ta”. Đối với họ, ma quỷ đă
phỗng tay trên, đă đặt để ở Trung Hoa một cái ǵ đó có
h́nh dáng bề ngoài rất giống tôn giáo, nhưng nếu quan
sát lại cho kỹ th́ không phải như vậy.
Không phải các vị giáo sĩ hoàn toàn vô lư. Những ǵ họ
bắt gặp là chùa chiền, là bàn thờ, h́nh tượng, nhang
đèn, tu sĩ, nghi lễ, kinh điển và lễ nhạc… Nói tóm lại,
tất cả những ǵ khiến ta nghĩ ngay đến một tôn giáo.
Nhưng đúng như thế, sự giống nhau chỉ tới đó rồi thôi.
Chiêm nghiệm kỹ lưỡng hơn, ta lại thấy thiếu vắng gần
như tất cả những ǵ gọi là trọng yếu của tôn giáo, thí
dụ như [niềm tin có] một Thiên Chúa.
Jan van Bragt, một linh mục Công giáo sống ở Nhật và là
giáo sư đại học, kể có lần ông ngủ đêm trong một thiền
viện và nghe các vị tu sĩ tụng kinh. Buổi sáng hôm sau,
ông hỏi vị thiền chủ: “Nếu quư vị không tin có Thiên
Chúa, thế th́ quư vị tụng kinh cho ai vậy?”. Vị thiền
chủ trả lời rằng: “Không có ai để cho chúng tôi tụng
kinh cả, nhưng cũng chẳng có ai đă tụng kinh cả”. Cho
người Tây phương, đây là một thí dụ điển h́nh về tính
cách nghịch lư (paradoxale) và sắc sảo của Thiền tông.
Thế nhưng đối với vị thiền chủ, có lẽ chẳng có ǵ đáng
để gọi là nghịch lư và sắc sảo trong câu trả lời của ông
cả. Ông chỉ t́m cách diễn tả điều mà ông cho là đương
nhiên: cái bối cảnh của thực tại tối hậu trước khi ư
niệm về cái ta [ngă] và người khác [tha nhân] xuất hiện.
Đối với tín đồ Cơ Đốc, mối liên hệ giữa tôi và người
khác lại chính là trọng tâm của vấn đề. Sự ngộ nhận [ở
đây] trở nên trọn vẹn, và hố phân cách đă quá lớn để có
thể vượt qua được.
Tôn giáo là ǵ? Những tôn giáo lớn trên thế giới [tới
nay] vẫn chưa thống nhất được với nhau về một định nghĩa
chung. Nếu chúng ta muốn hiểu Phật giáo như là một tôn
giáo, th́ chúng ta sẽ phải buông bỏ một số quan niệm ẩn
tàng vẫn thường có về thế nào là một tôn giáo.
Những khác biệt cơ bản
Một bác sĩ hỏi tôi: “Các Phật tử có được phép ghép nội
tạng (orgaantransplantatie) không?” Sự phi lư của câu
hỏi đă khiến tôi suy nghĩ. Đứng từ kinh nghiệm của anh
ta mà xét, th́ câu hỏi có vẻ hợp lư. Là một bác sĩ, anh
thường xuyên phải đương đầu với những trường hợp bệnh
nhân từ chối những chữa trị thiết yếu để bảo vệ sinh
mệnh v́ những lư do thuộc về nhân sinh quan
(levensbeschouwelijk). Đối với anh ta, Phật giáo cũng là
một trong những nhân sinh quan [như các tôn giáo khác].
Câu hỏi, đối với tôi là phi lư, bởi v́ Phật giáo hoàn
toàn không dính dáng ǵ đến chuyện [từ chối ghép nội
tạng] đó. Ngay cả danh từ Phật tử nghe cũng đă có vẻ xa
lạ. Cho dù tôi vẫn xem ḿnh là một người thực tập
(beoefenaar) đạo Phật, tôi sẽ rất ngại ngùng khi tự nhận
ḿnh là Phật tử.
Khi suy tư về câu hỏi của vị bác sĩ, tôi nhận thức rằng
Phật giáo khác biệt với những tôn giáo độc thần
(monotheïsche religies) và phái Nhân bản tự do
(Vrijzinnig humanisme) nhiều hơn so với sự khác biệt
giữa các tôn giáo độc thần và phái Nhân bản tự do với
nhau. Đứng từ quan điểm của Phật giáo mà xét, th́ tín
ngưỡng và tự do chỉ là những dạng biến thiên quanh một
số luận đề giống nhau, [mà] những luận đề như vậy không
nhất thiết phải có mặt trong Phật giáo. Hăy cho phép tôi
đóng vai một người bàng quan chất phác và nh́n ngắm
khung cảnh nhân sinh quan Tây phương. Bốn luận đề hiện
ra trước mắt:
1. Một thẩm quyền tối thượng
(een ultieme autoriteit)
Đối với những tôn giáo độc thần, đây là Thiên Chúa (chữ
hoa) [hoặc những tên gọi khác]. Cách thừa nhận và minh
họa cho khái niệm này tuy thay đổi mạnh mẽ giữa các tôn
giáo khác nhau, nhưng nguyên tắc th́ vẫn vậy. Ở chủ
nghĩa Nhân bản (humanisme), [tiến tŕnh] thế tục hóa
(secularisatie) và trừu tượng hóa (abstrahering) cho
khái niệm này đă được đẩy đi xa nhất, [ở đó, khái niệm
này] tiến hóa thành ra lư trí phê phán (kritische
rationaliteit) như một thẩm quyền tối thượng.
2. Ư thức về sự đồng nhất
(identiteit) như sở hữu tối cao (de hoogste goed)
Các nhân sinh quan Tây phương có một quan hệ nào đó với
ư thức đồng nhất. Ư thức đồng nhất là sở hữu tối cao.
Trong truyền thống kinh thánh, ư thức đồng nhất này này
được lồng trong dân tộc. Thiên Chúa là Thiên Chúa của
người dân Israël, của dân tộc Do Thái. Vào thời Trung
Cổ, mối quan hệ giữa cá thể và Thiên Chúa bắt đầu xuất
hiện. Thời nay, [người ta] đặt ra vấn đề linh hồn cá thể
(individuele ziel). Một đời sống đời đời là một lư tưởng
cần đạt được, c̣n tử vong chính thực là cái ác. Trong
chủ nghĩa Nhân bản, cá thể và cái tức khắc (het
onmiddelijke) c̣n được đặt nặng nhiều hơn nữa. Chủ quyền
cá thể (individuele autonomie) trở thành sở hữu tối cao.
3. Tính mệnh lệnh (imperatief) trên b́nh diện nhân sinh
quan và đạo đức
Sự khái niệm hóa (conceptualisering) của thẩm quyền tối
thượng và của sở hữu tối cao có thể c̣n đang tiến hóa,
[nhưng] tính mệnh lệnh dựa trên đó th́ không thay đổi.
Cho dù một lời răn dạy đạo đức (ethisch gebod) có dựa
trên ư muốn của Chúa hay dựa trên lư trí [nói khác đi:
duy thần hay duy lư] th́ cái sức mạnh áp đặt của nó vẫn
không khác đi. Niềm tin vào khoa học như là nền tảng của
nhân sinh quan của chúng ta [hiện nay] cũng không thua
kém ǵ niềm tin vào sự mặc khải (openbaring) của Thiên
chúa.
4. Sự xung đột giữa đạo đức và hạnh phúc
Nền đạo đức Tây phương bị khắc chế bởi sự xung đột giữa
ta (zelf) và người khác (de ander). Điều đó muốn nói:
hoặc chỉ để tâm vào hạnh phúc riêng [của ta] hoặc là chỉ
lưu tâm đến hạnh phúc của kẻ khác. Ư niệm cũ kỹ về đức
hạnh là gạt hạnh phúc riêng sang một bên, nhường chỗ cho
hạnh phúc của người khác. Lư tưởng hiện đại là t́m cho
ra thế quân b́nh giữa hai thái cực kể trên.
Cho những ai không biết Phật giáo từ bên trong, điều này
nghe có vẻ xa lạ bởi v́ những luận đề này, đối với các
nhân sinh quan Tây phương cổ điển, là những luận đề rất
đương nhiên. Thế th́ Phật giáo là ǵ, nếu [Phật giáo]
không hoàn toàn dính dáng ǵ tới những luận đề như vậy?
Phật giáo bàn về khổ đau. Phật giáo không cố gắng giải
thích, cũng không cho đó một ư nghĩa. Từ một xác nhận
đơn giản, Phật giáo tự đặt cho ḿnh câu hỏi: khổ đau là
một sự kiện, cách tốt nhất mà chúng ta phải ứng xử [với
khổ đau] là thế nào? Nếu dựa trên quan điểm của Phật
giáo, th́ câu hỏi về vấn đề ghép nội tạng của vị bác sĩ
sẽ như thế này: bạn có nghĩ rằng, với cách chữa trị này
[ghép nội tạng], th́ nỗi đau của bệnh nhân có thể thuyên
giảm không? Nếu có thể thuyên giảm, th́ tại sao lại
không thực hiện ngay đi?
Những luận đề, mà chúng ta cho là đặc thù của các tôn
giáo độc thần và Nhân bản tự do, vừa được nêu trên, sẽ
được Phật giáo nh́n nhận như thế nào?
a. Phật giáo không biết đến một thẩm quyền tối
thượng. Phật, Boeddha, là một vị thầy. Là một con người,
như tất cả chúng ta, người cũng đă phải đối chọi với khổ
đau và đă đi t́m một câu trả lời. Quan hệ giữa một người
thực tập với Phật cũng giống như quan hệ giữa người học
tṛ và một vị thầy giỏi. Từ đấy, một cách tự nhiên, sự
kính trọng và ḷng biết ơn sẽ nảy sinh. Những ảnh tượng
của Phật, kể cả sự thánh tướng hóa phức tạp (complexe
iconografie) xuất hiện về sau này, tốt nhất nên được
hiểu như là những sáng tạo [bắt nguồn] từ những trạng
thái tinh thần và những thái độ, phát sinh [từ sự kính
trọng và ḷng biết ơn] qua việc tu tập.
b. Nỗi ám ảnh về một ư thức đồng nhất được Phật
giáo xem như là một nguồn khổ đau lớn. Chúng ta không
cần nh́n đâu xa cũng đủ thấy rằng phần lớn những tranh
chấp chung quanh ta đều bắt đầu với ư thức đồng nhất như
là một lư do. “Là” một Phật tử [như một mệnh đề] đă hàm
chứa trong nó một sự mâu thuẫn. Tốt hơn ta nên thay vào
đó danh từ người thực tập đạo Phật.
c. “Bắt buộc, áp chế” không được đề cập đến trong
Phật giáo. Phật giáo cống hiến một con đường cho tất cả
ai muốn đi theo nhưng sẽ không bắt buộc bất kỳ ai phải
đi theo con đường đó cả. Trong Phật giáo không có cái để
tôn sùng, chỉ có cái để thực tập. Phật giáo v́ thế không
thể được gọi là một nhân sinh quan hay một niềm tin
tưởng được. Từ bản chất, Phật giáo đă luôn có thái độ
phê phán với tất cả mọi h́nh thức của nhân sinh quan,
đừng nói ǵ tới sự tin tưởng. Ngay cả sự đạo đức, một
trong những trụ cột của Phật giáo, cũng không phải là
vấn đề của sự bắt buộc. Không có một thẩm quyền nào chế
tác ra những luật lệ. Đạo đức trong Phật giáo luôn luôn
liên quan trực tiếp với khổ đau. Không có ǵ tự nó là
tốt hoặc xấu. Đạo đức trong Phật giáo không có tính quy
định (prescriptief) nhưng có tính miêu tả (descriptief).
Mọi giới luật trong Phật giáo luôn mang trong nó cấu
trúc là ‘Nếu ta không muốn tạo ra khổ đau cho ta và cho
người khác th́ ta …’.
d. Trong đạo Phật, ư tưởng rằng hạnh phúc [của
ta] được trả giá bằng hạnh phúc của người khác là một
mâu thuẫn nội tại (contradictio in terminis). Những đức
hạnh như t́nh yêu và từ bi đă hiển nhiên bao hàm trong
nó [t́nh yêu và từ bi cho] tự thân và tha nhân. Sự phân
chia một cách nguyên tắc giữa ta và người khác được xem
như là nguồn gốc của khổ đau (đương nhiên cho chính ta
và cho người khác). Như đă được giải thích ở phần trên
[cuối bài một], cả hai ư nghĩa của tốt đẹp, [đó là] đạo
đức và hạnh phúc, đă ḥa nhập lại với nhau thành một.
Phải thú nhận rằng, những phần trên đă được viết từ một
quan điểm chất phác và có tính chất tổng quát. Câu
chuyện của chúng ta c̣n có một khía cạnh khác. Có một
người đàn ông, nguyên là hội viên tích cực của một nhà
thờ Tin Lành (Protestantse kerk), hàng năm vẫn tham dự
một cuộc tĩnh tu trong một tu viện Phật giáo. Càng lúc
ông càng thấy khó xử hơn với tín ngưỡng [Tin Lành] của
ḿnh. Ông kể với vị thiền sư trong tu viện Phật giáo
rằng ông gần như không thể đọc trôi một câu [kinh] như
thế này: “ …và người lên ngự bên tay phải của Chúa Cha”.
Vị thiền sư hỏi ông: “Thế ông muốn người ngự bên tay nào
của Chúa Cha?”. Người đàn ông chợt tỉnh ngộ rằng ông
không nhất thiết phải hiểu câu kinh theo cách thông
thường, cụ thể, và ư nghĩa của việc Thiên Chúa xuống thế
làm người (menswording) có thể được thông hiểu và cảm
nhận bằng một cách rất khác.
Nhiều người Tây phương, tín đồ của các tôn giáo độc thần
và phái Nhân bản tự do, đang thực tập đạo Phật bằng h́nh
thức này hay h́nh thức khác, nghiệm ra rằng sự thực tập
này chính là một sự đào sâu hơn vào tôn giáo hoặc nhân
sinh quan của họ. Với tính chất đặc thù, Phật giáo không
tự đặt ḿnh vào vị trí cạnh tranh. Do đó, đă có những
linh mục Công giáo chính thức được nh́n nhận là thiền
sư, và điều này đă không được coi là một mâu thuẫn.
Những tương đồng cơ bản
Jack Kornfield kể chuyện người bạn ông, vị tu sĩ Phật
giáo Mahagosananda, đă dựng một ngôi chùa trong một trại
tị nạn Khmer Đỏ như thế nào [1] . Trước đó, những người
cộng sản Khmer đă tàn phá tất cả các chùa chiền Phật
giáo và dùng án tử h́nh để đe dọa, họ đă cải tạo mọi
người trở thành những người cộng sản. Họ [ngựi Khmer
Đỏ] đe dọa sẽ tàn sát tất cả mọi người nếu có ai dám đặt
chân vào ngôi chùa mới. Dù vậy, vào ngày khai mạc ngôi
chùa mới, cả ngàn người đă đổ đến tham dự. Jack
Kornfield tự hỏi rằng vị tu sĩ Mahagosananda có ǵ để
dâng tặng những con người đă đau khổ đến tận cùng này.
Cuộc nội chiến đă để lại dấu ấn quá đậm nét trên từng
thân phận. Làng xóm của họ bị thiêu hủy, nhiều người
trong gia đ́nh họ đă bị giết hại. Có những đứa bé thiếu
cha mẹ, cũng như những người cha người mẹ mất con.
[Trong buổi lễ,] sau khi mọi người đă hát chung những ca
khúc cổ truyền đă bao đời tô điểm cho đời sống thôn
làng, tu sĩ Mahagosananda bắt đầu xướng tụng một trong
những bài kinh nổi tiếng nhất của Phật giáo:
oán báo oán, oán ấy chập chùng (haat houdt nooit op door
haat)
từ bi báo oán, oán ấy tiêu tan ( maar wordt alleen
genezen door liefde)
đây là quy luật cũ xưa, muôn đời (dit is een oude en
eeuwige wet) [2]
Câu chuyện này minh họa chức năng mà Phật giáo đă đảm
trách trong những vùng đất mà Phật giáo đă phát triển và
nở rộ. Ở đây không đề cập đến tính cách dũng cảm của một
biến cố đặc biệt, nhưng là nội dung của sự kiện. Phật
giáo cho rằng một đời sống tốt đẹp không thể được dựa
trên ảo tưởng và sự ích kỷ. Rộng hơn nữa, kể cả xă hội
cũng không thể phát triển được nếu chỉ dựa trên ảo tưởng
và sự ích kỷ. Hạnh phúc không đơn thuần là vấn đề cá
nhân mà là điều cần được chia sẻ. Đối với xă hội, Phật
giáo có nhiệm vụ nhắc nhở và nuôi dưỡng tính thiện của
con người, điều này bao hàm ḷng từ bi và trí tuệ. Tuệ
giác này vốn dĩ đă gắn chặt với sự thực tập trong đạo
Phật và đă được các trường phái Phật giáo khác nhau biểu
đạt cụ thể. Thực tập đạo Phật, thật sự có nghĩa là hành
xử với tuệ giác và tâm từ bi trong đời sống thường nhật,
trong công việc và trong sự dấn thân vào xă hội. Tất cả
các h́nh thức, nghi lễ và những biểu hiện khác trong
Phật giáo chỉ có thể được hiểu rơ trong ánh sáng này.
Đây chính là một trong số ít những điểm tương đồng mà
các tôn giáo lớn và các truyền thống nhân sinh quan trên
thế giới có thể chia sẻ với nhau. Trong một thế giới
được biểu hiện một cách đặc trưng bằng tham muốn, căm
thù và si mê, tôn giáo có khả năng ǵn giữ và nuôi dưỡng
tính thiện của con người và làm cho [tính thiện] đơm
hoa. Ở điểm này, các tôn giáo lớn trên thế giới nh́n
nhận nhau như là những đồng minh, chứ không phải là
những đối thủ cạnh tranh. [Thế nhưng] mỗi tôn giáo có
một phong cách riêng để cụ thể hóa và lư thuyết hóa
nhiệm vụ này.
Lịch sử dạy cho chúng ta biết rằng tôn giáo thường hay
thất bại trong việc đảm nhận trách vụ này. May mắn là
Phật giáo không có một quá khứ với dấu tích của các cuộc
thánh chiến, Ṭa án dị giáo thời Trung cổ (Inquisitie)
và khủng bố. Có thể trong phương cách thực tập của ḿnh,
Phật giáo đă chứa trong nó sự đoạn tuyệt với bạo lực và
cuồng tín. Nhưng chúng ta cũng không nên lư tưởng hóa
Phật giáo. Chẳng hạn, chúng ta đều biết rằng Thiền tông
đă đóng một vai tṛ hoàn toàn không đẹp đẽ một chút nào
ở Nhật Bản [với chủ nghĩa] quốc gia (nationalistisch)
trong thời kỳ Thế chiến thứ hai. Phật giáo là một tổ
chức của con người, và đă là con người th́ đều có ưu và
khuyết điểm.
Nhất nguyên trong đa dạng
Chỉ bắt đầu từ thế kỷ thứ 19, khi Eugène Burnouf so sánh
những kinh văn chưa từng được dịch trước đó, ông khám
phá ra rằng một số đoạn kinh có quan hệ rất mật thiết
với nhau. Trong cuốn sách Lịch sử Phật giáo Ấn Độ
(Histoire du Bouddhisme Indien), xuất bản năm 1844, ông
đă đặt tên cho những đoạn kinh văn và truyền thống này
là “Phật giáo”. Ông chứng minh rằng Phật (Boeddha) không
phải là một trong nhiều vị thần từ cơi cung điện của
thần linh Ấn Độ (Indiase pantheon) mà là một nhân vật
lịch sử, đă sinh sống vào khoảng 500 năm trước Tây lịch
tại miền Bắc Ấn Độ. [Với quyển sách này] ông đă tạo ra
từ ngữ “Phật giáo” (het Boeddhisme)’, điều chưa từng có
mặt trước đó, dựa trên những chứng cứ của ngành ngữ văn
(filologische argumenten). Danh từ “Phật tử” (boeddhist)
không có mặt trong các ngôn ngữ Á Đông [3] .
Phật là bậc thầy chỉ dạy. Cái mà chúng ta gọi là Phật
giáo thật ra là kết quả của sự trao truyền giáo pháp của
nhiều thế hệ thày tṛ. Phật nổi tiếng là một vị thầy
tuyệt giỏi. Người biết đối thoại với mọi người bằng ngôn
ngữ của riêng họ. Người cũng được biết đến như một vị
thầy sẵn sàng chỉ dạy cho tất cả mọi người, không chừa
bỏ một ai, không ép cuộc bất cứ ai, và cũng không dấu
diếm bất cứ điều ǵ.
Cũng với một cách thức như thế, giáo pháp (dharma) đă tự
thích hợp với ngôn ngữ của con người qua các thời đại và
các nền văn hóa. Phật giáo không giáo điều mà thực tiễn
và mang tính giải đáp. V́ thế giáo pháp trở nên muôn màu
muôn vẻ, để từ đó h́nh thành một giải gấm vóc của nhiều
truyền thống Phật giáo. Câu hỏi Phật giáo là một tôn
giáo hay là một nhóm giáo phái thực ra không mấy hệ
trọng. Do hoàn cảnh địa lư, nhiều truyền thống Phật giáo
dị biệt đă không biết đến sự hiện hữu của nhau. Chỉ ở
Tây phương, các truyền thống mới có dịp gặp gỡ nhau.
Cuộc trùng phùng giữa các truyền thống đôi khi rất khác
nhau này, vui sao, lại làm hiển lộ ra nhận thức về các
tương đồng huynh đệ lớn lao.
Trong lịch sử Phật giáo, chúng ta nghiệm thấy có một mô
h́nh tuần hoàn (terugkerende patroon) của sự suy thoái
và phục hưng. Nhiều nhận thức sai lạc xuất hiện và lại
được cải thiện. [Có] những truyền thống trở nên xơ cứng
và được thay đổi bằng những truyền thống mới. Những kinh
điển xưa cũ dần dà không c̣n được dùng tới và những kinh
điển mới lại được chế tác. Có vẻ như Phật giáo biết cách
tự làm cho ḿnh trẻ lại.
Làm thế nào để có thể ǵn giữ một sự hợp nhất, không
thông qua một thẩm quyền trung ương, với một tập hợp
kinh điển nhiều thay đổi và phức tạp? Chính bởi v́ Phật
giáo là một sự thực tập và không là một tín ngưỡng, do
đó những hoa trái của sự thực tập đă liên tục đưa Phật
giáo trở về bản chất của ḿnh. Giáo pháp cần được liên
tục xét nghiệm qua thực tế và hiệu quả giáo pháp mang
lại cần được liên tục đánh giá. Chỉ với cách thức ấy mà
Phật giáo có thể giữ ḿnh tồn tại, và giữ được tính thời
đại.
Ở đây, sự đa dạng của Phật giáo cống hiến một cơ hội để
tự bảo vệ. Các truyền thống dị biệt (không chỉ bên trong
mà cả bên ngoài Phật giáo) có thể che chở cho nhau khỏi
những ngộ nhận. Có khi sự phê phán liên tôn giáo
(interreligieuze) quan trọng hơn là sự đối thoại liên
tôn giáo. Phật giáo trong sự đa dạng của ḿnh đă từng
biết đến truyền thống thảo luận và trao đổi với nhau, mà
không cần thông qua một thẩm quyền trung ương nào.
Truyền thống
Philippe Kapleau ghi lại trong nhật kư cuộc viếng thăm
lần đầu một Thiền viện ở Nhật Bản [4] . Ông kể rằng ông
đă giật ḿnh như thế nào khi thấy vị thiền sư trú tŕ
cung kính đảnh lễ trước một pho tượng. Ông phát biểu lớn
tiếng: “Các vị thiền sư Trung Hoa khi xưa đă nhổ nước
bọt vào các pho tượng, c̣n ông tại sao lại quỳ xuống
đảnh lễ?”. Vị sư trú tŕ trả lời, b́nh tĩnh nhưng cương
quyết: “Nếu anh thích nhổ nước bọt th́ cứ việc làm,
riêng tôi th́ thích quỳ xuống lạy hơn”.
Trong không ít những giai thoại về Thiền tông, ta được
biết chuyện các vị Phật đă bị báng bổ, các pho tượng
biến thành củi đốt và kinh điển bị xé bỏ. [Cung cách]
biện luận đầy h́nh tượng (iconoclastische retoriek)
trong Thiền tông kích thích óc tưởng tượng. Nhiều người,
v́ muốn thoát ra khỏi những truyền thống xơ cứng và
những nghi lễ trống rỗng đă t́m thấy [ở Thiền tông] một
nơi chốn để phóng chiếu vào đó những tư duy lăng mạn của
ḿnh. Kapleau, sau này trở thành một thiền sư, đă phải
cần một thời gian dài để hiểu được rằng cách lư luận của
Thiền tông cũng chỉ có thể được hiểu trong khung cảnh
toàn bộ của Phật giáo.
Genpo Roshi so sánh truyền thống như những bao b́: chúng
ǵn giữ và che dấu. Nếu không có những tổ chức nhân văn
cụ thể với những lệ luật, thứ bậc và nghi lễ, th́ Phật
giáo chắc đă không được ǵn giữ. V́ thế, trong toàn bộ
Phật giáo, chúng ta nhận ra một thái độ rất mực kính
trọng và biết ơn đối với truyền thống. Nhưng tổ chức có
thể bị nhầm lẫn với giáo pháp, điều này là một nguy cơ.
Ngón tay chỉ mặt trăng không thể được xem như là mặt
trăng. Bởi thế ta thấy trong tất cả các truyền thống
Phật giáo, không nhất thiết chỉ trong Thiền tông, không
nhiều th́ ít có khuynh hướng hạ bệ thần tượng
(iconoclasme). Truyền thống quả thật là quan trọng nhưng
phải luôn luôn được đặt đúng vị trí của chúng.
Nghi lễ giữ một vai tṛ chủ chốt trong các truyền thống
khác nhau. Càng học hỏi sâu sắc về sự thực tập bao
nhiêu, ta lại càng khám phá ra sự diễn đạt đầy ư nghĩa
của nghi lễ bấy nhiêu. Nhiều người đă biết tán thưởng
nghi lễ như một ḥa quyện chặt chẽ giữa ư nghĩa
(betekenis), hiệu quả (efficientie) và cái đẹp
(esthethiek). Trong những kinh điển xưa cũ nhất, [Phật
giáo] đă cảnh giác chúng ta về sự lư giải sai lạc cho
nghi lễ. Sự bám víu vào nghi lễ và giới luật thậm chí
c̣n được coi như là những trở ngại cần được khắc phục
đầu tiên trên con đường dẫn tới tuệ giác và giải thoát.
Phật giáo không cho rằng luật lệ và nghi lễ là sai lạc,
mà [sai lạc] là ư tưởng cho rằng chỉ cần thực thi những
nghi lễ và giới luật theo lối thi triển thần thông
(magische manier) là một cách có thể góp phần đưa tới
giải thoát. Nghi lễ chỉ có ư nghĩa như một phương tiện
để diễn tả và phụ trợ cho sự thực tập.
Các truyền thống dị biệt đă mang tới những h́nh thức
nghi lễ khác nhau. Một nghi lễ mà bạn có thể nhận thấy
trong tất cả các truyền thống, trong nhiều h́nh thức và
màu sắc khác biệt, là sự quay về nương tựa ba viên ngọc
quư (tam bảo). Đây là một tuyên bố với quyết tâm
(intentie-verklaring) của một người dám dấn thân đi theo
con đường của đạo Phật. Ba viên ngọc quư đó là Phật,
Pháp và Tăng.
Quay về nương tựa Phật có nghĩa là xem Phật như là một
gương sáng để noi theo. Điều đó muốn nói, bạn không c̣n
trông mong t́m cầu hạnh phúc ở những sự t́nh cờ, nơi các
vị thần linh hay trong những hoàn cảnh có thể xoay xở
được, nhưng là biết nhận lấy trách nhiệm cho các hành
động và đời sống của ḿnh.
Pháp là giáo pháp. Ở Tây phương, khi đề cập tới Phật
giáo, thường là chúng ta nói tới giáo pháp. Chúng ta đă
trao đổi với nhau rất kỹ rằng giáo pháp không phải là
một lư thuyết mà là một sự thực tập. Quay về nương tựa
Pháp là sự biểu lộ quyết tâm dấn thân thi hành sự thực
tập này. Bạn không thực tập giáo pháp trong cô độc. Con
người sống trong môi trường tập thể. V́ thế mới có Tăng,
Sangha, một trong tam bảo. Trong kinh tạng Pali, có một
đoạn kinh rất cảm động, khi ngài Ananda hỏi Phật: “Có
phải t́nh huynh đệ là phân nửa của sự tu tập của chúng
ta?”. Phật trả lời: “Ananda đừng nói thế, t́nh huynh đệ
là tất cả sự tu tập của chúng ta.” [5]
Ở nghi lễ qui y tam bảo, có kèm theo cách rất tự nhiên,
phần tuyên hứa tŕ giới (sila) như một sự thực tập. Tŕ
giới là tâm điểm của tu tập Phật giáo. Đó là lời tuyên
hứa xin sống có trách nhiệm. Sự tuyên hứa trong Phật
giáo không phải là một dấn thân dựa trên một kết quả nào
đó, nhưng là dựa trên quyết tâm để hành xử [đúng theo
tinh thần của giáo pháp].
Giáo hóa
Giáo hóa đứng ở vị thế trung tâm của Phật giáo. Đó là lư
do tồn tại của các truyền thống khác nhau. Nhiệm vụ của
chúng là quảng bá giáo pháp, theo cách thức riêng của
Phật giáo. Điều đó muốn nói: sẵn sàng chỉ dạy cho tất cả
mọi người, không chừa bỏ một ai, không ép buộc bất cứ
ai, và cũng không giấu diếm bất cứ điều ǵ.
Kinh điển Pali thuật lại Phật nh́n một vị thầy tu
Bà-la-môn trẻ tuổi cử hành một nghi lễ xưa cũ, khi vị
thầy tu này cúi đầu lạy về sáu hướng. Phật hỏi người tu
sĩ trẻ v́ sao anh ta lại làm như thế. Vị tu sĩ trả lời
rằng anh ta làm như thế là v́ đă hứa với bố anh ta lúc
lâm chung bên giường bệnh. Phật không hài ḷng với câu
trả lời này và v́ thế người tu sĩ trẻ mới hỏi ngài lư
do. Phật dạy anh ta rằng: “Khi thầy cúi đầu lạy về hướng
đông, là thầy cúi đầu lạy cha mẹ… hướng nam cho các vị
thầy … hướng tây cho người vợ … hướng bắc cho bè bạn và
đồng nghiệp … hướng xuống đất cho công nhân và người
dưới quyền … hướng lên trời là cho các đấng Phạm thiên
(brahmanen) và các vị tu khổ hạnh (asceten)”.
Đoạn kinh này tiêu biểu cho cách giáo hóa trong đạo
Phật. Phật đă không yêu cầu người tu sĩ trẻ chấm dứt
những nghi lễ Vệ đàn (vedisch ritueel) và cử hành một
nghi lễ khác nào đó của Phật giáo. Trái lại, người trao
một ư nghĩa cho nghi lễ đó bằng cách đặt nó trở lại vào
khung cảnh xă hội của nó. Trong kinh điển Pali, ta thấy
có cả hàng trăm nhân vật. Sigalo là người duy nhất mà
Phật đă chỉ dạy điều này. Về mặt nội dung, đoạn kinh này
gắn liền với những phần c̣n lại của kinh điển. Giáo hóa
trong Phật giáo luôn luôn là một trao đổi năng động giữa
thầy, tṛ, và giáo pháp. Giáo lư đúng đắn chưa đủ, người
thầy chỉ dạy cũng phải có khả năng chỉ dạy cho người
nghe, tùy theo vị trí và tŕnh độ của người học tṛ đó.
Jack Kornfield kể, có lần ông đă bực bội trách móc thầy
của ông là Achaahn Chaa đă không nhất quán và phát ngôn
mâu thuẫn, cứ mỗi học tṛ lại chỉ dạy một cách khác nhau
[6] . Achaahn Chaa cười và so sánh sự giáo hoá với việc
chỉ dẫn người khác đi một con đường mà ḿnh biết rơ.
“Với người này, tôi sẽ nói đi sang phía trái, nếu không
sẽ lọt xuống hố, c̣n với người kia, tôi sẽ nói đi sang
phía phải, v́ nếu không sẽ đụng một bụi gai…”. Giáo hóa
không phải là việc trao truyền một khẩu hiệu, giáo hóa
cũng không dựa trên giáo điều và những sắc lệnh của vị
Giáo chủ. Khi nhà tu khổ hạnh Vacchagotta đến gặp Phật
và đặt câu hỏi triết lư về sự có mặt hay không của một
cái ngă (een zelf), Phật đă từ chối không trả lời. Thầy
Ananda đă ngạc nhiên hỏi Phật, tại sao Ngài lại không
chỉ dạy về giáo pháp vô ngă như Ngài vẫn thường chỉ dạy.
Đáp lại câu hỏi của thầy Ananda, Phật nói rằng một câu
trả lời thuần túy triết lư, trên thực tế sẽ không giúp
Vacchagotta đi thêm được một bước nào [7] .
Điều mà một vị thầy t́m cách trao truyền là một sự thực
tập đă được trải nghiệm bằng chính đời sống của ḿnh.
Trong cương vị này, người thầy không sử dụng chỉ hai tay
không, nhưng có trên tay là cả một gia tài quư giá bao
gồm kinh điển, nghi lễ, các phương thức thiền tập và một
truyền thống khẩu truyền từ các thế hệ tổ sư. C̣n phần
ḿnh, người học đạo cuối cùng sẽ chịu trách nhiệm về sự
chọn lựa vị thầy của ḿnh, đồng thời về những ǵ ḿnh sẽ
làm với pháp môn đă được nhận lănh.
Mục đích của giáo hóa không phải để làm mọi người trở
nên Phật tử. Sự giáo hóa chỉ muốn đóng góp làm sao để
cho một vị bác sĩ trở nên một vị bác sĩ giỏi hơn, một
công nhân trở thành một công nhân tốt hơn, một người mẹ
thành một người mẹ tốt hơn … Nếu giáo hóa có thể giúp
con người có thêm được nhiều tuệ giác, an lạc và từ bi
hơn, th́ giáo hóa mới thật sự có ư nghĩa.
Tùy theo tâm tính mỗi người mà mức độ yêu thích giáo hóa
có thể khác biệt rất lớn. Một số người chỉ cần nghe qua
một đoạn kinh ngắn đă thấy cảm khái và thấy được nâng
đỡ. Những người khác th́ đọc sách hoặc đi nghe giảng và
t́m thấy ở đấy sự nuôi dưỡng. C̣n những người khác th́
thiền tập một cách miên mật và học hỏi với một vị thầy.
Phật giáo sử dụng tất cả những phương tiện đó.
Điều đó có nghĩa là mức độ thiết tha với Phật giáo có
rất nhiều h́nh thức, bắt đầu từ một đồng cảm mơ hồ cho
tới việc trở thành một tu sĩ (monnik). Danh từ tu sĩ là
một trong nhiều từ ngữ tây phương mà chúng ta bắt đầu
dùng để chỉ một thành tố tương đương trong Phật giáo,
nhưng ư nghĩa của cả hai thật sự không giống nhau. Định
nghĩa về sự trở thành một tu sĩ trong truyền thống Phật
giáo là: rời khỏi nhà và chọn một đời sống vô gia cư.
Điều này vừa có thể được xem như là một ẩn dụ, vừa được
thực thi thật sự như thế. Ẩn dụ v́ có sự buông bỏ sự bám
víu chịu giam ḿnh trong thực tại qui ước. Thực thi thực
sự là bỏ lại phía sau tất cả những cam kết khác và dành
tất cả đời sống cho giáo pháp.
Đây là một con đường theo truyền thống đă chào đón tất
cả mọi người, không phân biệt giai cấp và địa vị trong
xă hội. Ở những nơi mà Phật giáo phát triển rực rỡ, ở đó
luôn luôn có một nhóm nhỏ những người cống hiến trọn cả
cuộc đời cho giáo pháp. Ở Tây phương, con đường vô gia
cư này c̣n đang được nhiều người đóng góp để định h́nh.
Trong những nền văn hóa Phật giáo truyền thống ở Á châu,
ta thấy một sự tùy thuộc hỗ tương (wederzijdse
afhankelijkheid) giữa hai giới tu sĩ và cư sĩ. Các vị tu
sĩ tu học chuyên cần, nghiêm mật và để ư đến việc tiếp
nối truyền thống và trao truyền giáo hóa. Các vị cư sĩ
đến tham vấn các vị tu sĩ, học hỏi và luân phiên nhau bố
thí tiền bạc, phẩm vật để nuôi dưỡng cộng đồng tu sĩ.
Giới tu sĩ cần giới cư sĩ và ngược lại. Trong quan hệ
đó, cả hai đều có giá trị như nhau. Khi đọc trong lịch
sử Phật giáo, nếu ta thấy có sự xuất hiện của khuynh
hướng tôn vinh giới tu sĩ hơn giới tại gia, th́ ta cũng
lập tức thấy ngay một phản ứng ngược lại. Một thí dụ
điển h́nh cho trường hợp này được t́m thấy trong Duy Ma
Cật (Vimalakirti Sutra), một kinh điển xuất hiện về sau
này, trong đó tường thuật vị cư sĩ Duy Ma Cật, nằm trên
giường bệnh, đă lôi từng vị tu sĩ cao cấp ra phê b́nh về
tuệ giác kém cỏi của họ và sau đó đă thuyết pháp chỉ dạy
cho từng vị tu sĩ một.
Tóm lại
Vậy th́ Phật giáo chỉ dạy ta điều ǵ? Chắc chắn không
phải là để trở thành một “Phật tử”. Điều duy nhất mà
Phật giáo mời gọi ta nên lưu tâm là một đời sống tốt
đẹp. Điều đó được tóm gọn trong hai lời khuyên thế này:
đừng bám vào những ảo tưởng
chia sẻ những điều tốt đẹp đang có
Những điều này nghe có vẻ dễ hơn là làm, đúng thế, nhưng
bạn vẫn thiết tha muốn biết thêm và đi tiếp. Vậy th́
Phật giáo sẽ hiến tặng bạn thật nhiều cơ hội để học hỏi,
thiền tập và thực hành. Điều quan trọng nhất là bạn t́m
được một nơi chốn mà bạn thấy gần gũi như ở trong nhà
của ḿnh, nơi đó bạn có cơ hội để thực tập với nhịp độ
và h́nh thức mà bạn thấy thích hợp với ḿnh nhất.
Bản tiếng Việt © 2006 talawas
[1]Jack Kornfield, Een licht voor jezelf (Một tia sáng
cho chính bạn), Servire, 1997
[2]Pháp Cú (Dhammapada) 5
[3]Philip Kapleau, The three Pillars of Zen (Ba trụ
Thiền), Anchor, 1989
[4]Stephen Batchelor: the awakening of the West: the
encounter of Buddhism and Western culture (Sự thức tỉnh
của phương Tây: cuộc gặp gỡ giữa Phật giáo và nền văn
hóa Tây phương), Parallax 1994
[5]Tương Ưng Bộ kinh (Samyutta Nikaya) XLV.2
[6]Jack Kornfield, Living Dharma (Giáo pháp hiện sinh),
Shambala 1996
[7]Tương Ưng Bộ kinh (Samyutta Nikaya) XLIV.10
Nguồn: Nguyệt san Triết học năm thứ 13, số 6, tháng
Chạp/Giêng (Filosofie, jrg. 13, nr. 6,
december/januari). Xuất bản bằng Ḥa ngữ, phổ biến trong
vùng Benelux.