Khi Trung Quốc là Nhà
Máy
Khổng
Lồ của Thế
Giới
Lâm Văn Bé
Từ
sau cuộc cách mạng kinh tế do Đặng Tiểu B́nh phát động vào
tháng 12 năm 1978, Trung Quốc đă được mang nhiều nhăn
hiệu, từ mầu nhiệm (miracle) đến ảo tưởng (illusion), từ
gánh nặng (fardeau) đến hiểm họa (menace). Ba mươi năm
phát triển kinh tế, Trung Quốc đă thay đổi diện mạo quốc
gia của họ và của thế giới trong lănh vực kinh tế và địa
chính trị, và từ đầu thế kỷ nầy, Trung Quốc được mệnh danh
là nhà máy toàn cầu (usine mondiale), danh xưng đă lần
lượt chiếm giữ bởi Anh Quốc, Hoa Kỳ và Nhựt trong hai thế
kỷ 19 và 20.
Từ một quốc gia nông nghiệp, chậm tiến
và cô lập, Trung Quốc đă trở nên một quốc gia kỹ nghệ và
được xếp vào hàng quốc gia phát triển kinh tế thứ tư trên
thế giới sau Hoa Kỳ, Đức, Nhựt và thứ hai thế giới về dự
trữ ngoại tệ sau Hoa Kỳ.
Trung Quốc đang khai thác thế giới,
đứng đầu số sản xuất hàng chục sản phẩm kỹ nghệ.
Trong năm 2005, Trung Quốc đă cung cấp
cho thị trường thế giới 90% DVD, 85% đồ chơi, 85% máy cày,
85% đồng hồ, 70% máy in, 65% dụng cụ thể thao, 69% xe đạp,
58% điện thoại, 55% máy ảnh, 55% máy điện toán cầm tay,
50% quạt máy, 40% ḷ vi ba (four micro-ondes), 36% TV, 30%
máy lạnh, 25% máy giặt, máy sấy, 20% tủ lạnh…
(L’éveil du dragon, p.267)
Tuy sản lượng kỹ nghệ của Trung Quốc
khổng lồ, dự trử ngoại tệ của Trung Quốc lên đến 1000 tỷ
mỹ kim, Trung Quốc có thực sự là một cường quốc kinh tế
hay chỉ là một nhà máy khổng lồ chỉ biết sản xuất theo
phiếu đặt hàng của các quốc gia kỹ nghệ.
Tuy lợi tức quốc gia PIB (Produit
intérieur brut) nhảy vọt từ 147 tỉ mỹ kim năm 1978 đến
8800 tỉ năm 2005, và lợi tức trung b́nh đồng niên của
người dân tăng từ 340 mỹ kim đến hơn 1000 mỹ kim cùng
trong thời gian ấy, Trung Quốc có thực sự là một quốc gia
phát triển bền vững và phú cường hay tiềm ẩn những tàn
phá thiên nhiên và bất b́nh đẳng xă hội mà trước hay sau
Trung Quốc phải trả giá.
Đối với thế giới, nếu chánh sách sản
xuất đại qui mô và giá hạ của Trung Quốc đă làm giảm lạm
phát và gia tăng sức tiêu thụ, Trung Quốc đă, đang và sẽ
mang lại những hậu quả khốc liệt nào trong vấn đề sử dụng
các nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân lực của Trung
Quốc và thế giới cũng như tạo nên những thay đổi nào trong
lănh vực địa chánh trị, mầm móng của cuộc chiến tranh lạnh
hay nóng.
Bài viết nầy, tổng hợp từ các tài liệu
mới nhất của các nhà nghiên cứu am tường vấn đề, nhằm
tŕnh bày diện mạo của nền kinh tế Trung Quốc và những hậu
quả của bước nhảy vọt kinh tế nầy đối với Trung Quốc và
thế giới, đặc biệt mối bang giao giữa Trung Quốc với Hoa
Kỳ và các quốc gia lân bang.
Sức mạnh kinh tế của Trung Quốc
Câu hỏi tiên quyết cần đặt ra, Trung
Quốc là cường quốc kinh tế hay chỉ là một quốc gia kỹ nghệ
và vị trí của Trung Quốc trong hàng ngũ các quốc gia nầy.
Câu trả lời tùy theo cách tính và tùy theo mục tiêu sử
dụng.
Nếu tính theo hối suất chính thức, lợi
tức quốc gia của Trung Quốc chỉ bằng một quốc gia Tây Âu,
chỉ chiếm 3,4% PIB của thế giới, đứng hàng thứ sáu, hơn Ư
nhưng thua xa Hoa Kỳ (22%) và Nhựt (10%).
Nhưng thực sự, sức mạnh kinh tế của
Trung Quốc quan trọng hơn rất nhiều nếu tính theo phương
pháp chuẩn hóa tiền tệ. Từ năm 1994, Trung quốc thả nổi
đồng nhân dân tệ (yuan) với một hối suất chính thức rất
thấp (1 mỹ kim = 8,28 yuans) để giữ giá hàng rẻ, xuất cảng
nhiều, dù Hoa Kỳ đă nhiều lần làm áp lực để Trung Quốc
phải tăng giá đồng yuan ( năm 2006, 1 mỹ kim = 8,06 yuan ;
năm 2007, 1 mỹ kim = 7,52 yuans).
Do đó, để tính sản lượng của Trung
Quốc (và các quốc gia khác) một cách chính xác và thống
nhất, Ngân hàng Thế giới (Banque mondiale) đă tính theo
một hối suất tiêu chuẩn gọi là PPA (parité pouvoir
d’achat, tiếng Anh gọi là PPP = purchasing power parity)
bằng cách định giá cùng một giỏ hàng và dịch vụ tính bằng
tiền địa phương và mỹ kim. Thí dụ một giỏ hàng trị giá 100
mỹ kim ở Mỹ và cùng giỏ hàng nầy trị giá 450 yuans ở Trung
Quốc, hối suất PPA như vậy là 1 mỹ kim bằng 4,5 yuans
trong khi hối suất chính thức ở ngân hàng Thượng Hải là
7,52 yuans. Nếu tính theo phương pháp nầy, Trung Quốc có
một PIB là 8 800 tỉ mỹ kim (11% của thế giới), đứng hàng
thứ hai sau Hoa Kỳ, vượt qua cả Nhựt.
Bảng 1 : Lợi tức của các quốc gia tính
theo hối suất PPA (năm 2005)
|
Quốc gia |
PIB
quốc gia |
PIB
người dân |
|
|
|
|
|
Hoa
Kỳ |
12
066 tỉ MK |
40 500 MK |
|
T.Quốc |
8
800 |
6
300 |
|
Nhựt |
3
820 |
29
500 |
|
Ân
Độ |
3
500 |
3
250 |
|
Đúc |
2
380 |
28
700 |
|
Pháp |
1
750 |
29
000 |
Source : Chine-USA, la guerre
programmée, p. 87
Và cũng theo phương pháp nầy, lợi tức
trung b́nh đồng niên của người Trung Hoa năm 2003 là 5 015
mỹ kim, đứng hàng 109 trong số 203 quốc gia trong bảng xếp
hạng, nhưng nếu tính theo hối đoái chính thức, PIB của
người dân chỉ có 1131 mỹ kim.
Sức mạnh kinh tế thực sự của Trung Quốc
có lẽ nằm giữa hai con số trên !!
Bảng 2 : Lợi tức thô (PIB brut)
của người dân Trung
Quốc (mỹ kim)
|
|
1980 |
1996 |
2000 |
2003 |
|
PIB |
300 |
543 |
692 |
1
131 |
|
PIB-PPA |
464 |
3
330 |
3
976 |
5
015 |
Bản chất sự phát triển kinh tế của
Trung Quốc
1- Ưu
thế trong các hàng hóa gia dụng
Mặc dù Trung Quốc được xếp hàng thứ tư
trong lănh vực sản phẩm kỹ nghệ, Trung Quốc chỉ có ưu thế
trong các loại hàng gia dụng và tiêu thụ, nhưng kém ưu thế
về kỹ nghệ nặng và kỹ nghệ trang bị máy móc. Và ngay trong
ưu thế, Trung Quốc chỉ là một nhà máy khổng lồ lắp ráp các
bộ phận chế biến từ các xứ kỹ nghệ hay sản xuất theo các
mẫu thiết kế sẵn bởi các xí nghiệp Âu Mỹ rồi xuất cảng trở
lại. Phương pháp sản xuất nầy trông có vẻ mầu nhiệm với số
sản xuất và xuất cảng khổng lồ, nhưng thực ra số lợi nhuận
rất khiêm tốn bởi lẽ nếu 55% số hàng hóa xuất cảng là hàng
lắp ráp th́ Trung Quốc phải nhập cảng vào 50% nguyên liệu
hay các bộ phận rời.
Bảng 3 : Nhập cảng và xuất cảng của
Trung Quốc (tỉ mỹ kim)
|
Năm |
Xuất cảng |
Nhập cảng |
|
2000 |
249 |
214 |
|
2001 |
266 |
232 |
|
2002 |
325 |
281 |
|
2003 |
438 |
394 |
|
2004 |
593 |
561 |
Source : David Burton et Anthony Boote.
Staff Report for the 2004,
Article IV Consultation, FMI, Washington.
Bảng thống kê trên cho chúng ta một
nhận định rơ rệt về kinh tế Trung Quốc, và nhiều nhà kinh
tế đă kết luận rằng cái nhiệm mầu thực sự chỉ là ảo
tưởng.
Chính v́ sở trường sản xuất các vật gia
dụng, rẻ tiền và một số máy móc nhẹ theo phương thức lắp
ráp, Trung Quốc xuất cảng ít hơn các loại máy móc và dụng
cụ hạng nặng là các sản phẩm có giá trị thặng dư (plus
value), sức mạnh kinh tế của Trung Quốc do đó thực sự chỉ
có bề mặt mà ít có bề sâu, và v́ vậy sự trao đổi hàng hóa
với các quốc gia kỹ nghệ rất bất lợi cho Trung Quốc. Thử
tưởng tượng muốn mua một chiếc Airbus 380, Trung Quốc phải
xuất cảng 800 triệu chiếc áo chemises, th́ với lợi nhuận
trung b́nh độ 50 tỉ mỹ kim mỗi năm, phải lâu lắm Trung
Quốc mới ngồi chung cùng hàng ngũ với các quốc gia thực sự
kỹ nghệ.
2- Ưu thế nhờ nhân công rẻ và đầu tư
ngoại quốc
Lợi khí siêu việt của Trung Quốc mà thế
giới sẽ không bao giờ cạnh tranh nổi là khối nhân công rẻ,
kỷ luật và chuyên cần. Cuộc cách mạng kinh tế của Đặng
Tiểu B́nh thực ra là giải tỏa nông nghiệp, phát triển công
nghiệp và kỹ nghệ để tạo công ăn việc làm cho một tỉ dân
Trung Quốc đói khổ trong thời đóng cửa của Mao. Với khối
nhân công đang khao khát việc làm, những đặc khu kinh tế
đă mở cửa để đón nhận đầu tư ngoại quốc là những yếu tố
thuận lợi cho cuộc bùng nổ kinh tế của Trung Quốc.
Bảng 4 : Đầu tư ngoại quốc
|
Năm |
Sản lượng
kỹ nghệ
(t́ yuans) |
Vốn ngoại
quốcđầu tư
(tỉ yuans) |
%
vốn
ngoại quốc
|
|
1990 |
1
970 |
50 |
2,3% |
|
1995 |
9
196 |
1
315 |
14,3% |
|
2000 |
7
396 |
2
315 |
22,5% |
|
2001 |
9
475 |
2
650 |
28% |
|
2002 |
10
120 |
3
377 |
33,4% |
Source : Ministère du
Commerce de Chine, citée dans L’éveil du dragon, p. 270
Hiện nay, theo thống kê của Trung Quốc
có 500 000 công ty có vốn đầu tư của ngoại quốc cung ứng
33,4% sản phẩm kỹ nghệ Trung Quốc và 55 % hàng xuất cảng.
Số vốn đầu tư của ngoại quốc tại Trung Quốc càng lúc càng
gia tăng như bảng thống kê trên xác nhận.
Bắt đầu năm 1991 với 5 tỉ mỹ kim, số
vốn đầu tư của các công ty ngoại quốc trên đất Trung Quốc
lên đến 60 tỉ mỹ kim năm 2005. Trong tổng số 500 tỉ mỹ
kim vốn của ngoại quốc cho đến nay, điều ngạc nhiên là
50% đến từ các quốc gia Á châu và Hong Kong, 9% của Mỹ, 8%
của Nhựt và 8% của khối Liên Hiệp Âu châu (Union
européenne).
Trong công cuộc hợp tác kinh tế giữa
Trung Quốc và ngoại quốc, tuy Trung Quốc đă phát triển
quốc gia trong nhiều lănh vực, biến Trung Quốc thành một
quốc gia kỹ nghệ chỉ trong hai thập niên, nhưng các quốc
gia đầu tư cũng lợi dụng thị trường Trung quốc và thế giới
để trục lợi theo các nguyên tắc của tư bản : tiền của tư
bản đi vào nhà máy, tiền của tư bản đi ra bằng hàng hóa.
Cái hào nhoáng khổng lồ, cái huyền thoại hư thực về một đe
dọa thế giới của Trung Quốc thực ra che dấu những hi sinh
cùng cực của đám nhân công làm việc trong những điều kiện
nô lệ và những tàn phá thiên nhiên mà các nhà lănh đạo
Cộng Sản và tư bản đỏ, v́ nhu cầu giai đoạn của đất nước
và quyền lợi cá nhân, phe nhóm đă cố t́nh lờ đi những con
số thiệt hại c̣n khổng lồ hơn số mỹ kim mà họ đang hồ hỡi
bỏ túi.
Một trong số các khách hàng và đồng
minh của Trung Quốc trong cách làm ăn chèn ép, khích động
người dân tiêu thụ nhiều nhưng là loại hàng rẻ tiền, phẩm
chất kém không ai khác hơn là Wal-Mart và các công ty khế
ước với Wal-Mart.
Năm 2005, Wal-Mart nhập cảng của Trung
Quốc 22 tỉ mỹ kim (10% tổng số nhập cảng của Hoa Kỳ) và số
nầy có thể lên đến 30 tỉ mỹ kim nếu phải kể thêm những
nhà sản xuất Hoa Kỳ nhưng đặt hàng ở Trung Quốc, từ cái
máy khoan tay Black & Decker đến các poupée Barbie. Nói
rơ hơn, 80% nhà cung cấp cho Wal-Mart xuất phát từ Trung
Quốc v́ ngoài Wal-Mart, các công ty khác trên xứ Mỹ cũng
đặt hàng ở Trung Quốc để bán cho Wal-Mart.
Lối làm ăn chèn ép của Wal-Mart lại
thích hợp với lối sản xuất của Trung Quốc bởi lẽ không
một quốc gia nào trên thế giới có thể cung cấp một khối
hàng khổng lồ trong một thời gian kỷ lục với một giá rẻ kỷ
lục. Hàng triệu công nhân Trung Quốc, kỷ luật, cần việc
làm, chấp nhận mọi điều kiện làm việc ngày đêm với một
đồng lương ít hơn 30 lần so với công nhân nước Mỹ đă đáp
ứng với công thức giá rẻ của Wal-Mart.
Để được giá rẻ, chánh phủ Cộng Sản và
tư bản đỏ đă bốc lột nhân công Trung Quốc một cách vô nhân
đạo.
Tại Quảng Đông, thành phố kỹ nghệ quan
trọng nhất của Trung Quốc, tiền lương của công nhân từ 15
năm qua, chẳng những không tăng mà c̣n giảm (năm 1992 :
chỉ số 100, năm 2004 : chỉ số 85) (theo L.Vallée.
Présentation du 11 mars 2005, Caisse de dépôt et placement
du Québec).
Cũng tại Quảng Đông, theo China Labor
Watch Dec. 21, 2005, công nhân trong các nhà máy sản xuất
đồ chơi phải đạt được chỉ tiêu là sơn 8900 đơn vị trong 8
giờ làm việc mới được trả $3,45 mỹ kim một ngày. Không
đạt được chỉ tiêu nầy, lương một ngày chỉ c̣n $1,23.
Lại một trường hợp khác trong muôn một,
công ty Chun Si Enterprise Handbag Factory ở Trung Sơn
(Zhongshan) gần Thượng Hải, 900 công nhân bị nhốt trong
ṭa nhà chật chội, làm việc 12 giờ chỉ được nghỉ 60 phút
để ăn, được trả 22 mỹ kim mỗi tháng nhưng phải hoàn lại
cho công ty 15 mỹ kim tiền ăn ở. Làm nô lệ một tháng để có
7 mỹ kim gởi về cho vợ con húp cháo cầm hơi. (theo The
Bully of Bentonville, p.189)
Đối với các xí nghiệp làm ăn với
Wal-Mart hay nói chung với đầu tư ngoại quốc, t́nh trạng
cũng chẳng có ǵ vẻ vang. Chánh sách mua ép giá của
Wal-Mart làm nhiều nhà sản xuất ít vốn điêu đứng. Ban đầu,
Wal-Mart tài trợ cho một số nhà sản xuất để trang bị nhà
máy rồi mua hàng. Sau vài năm, Wal-Mart dùng chiến thuật
chèn ép, khiến các nhà sản xuất địa phương cạnh tranh nhau
để hiến giá rẻ như Wal-Mart mong muốn. Để khỏi phải đóng
cửa, vỡ nợ, các công ty sản xuất phải bán phá giá, chế tạo
cẩu thả, rồi đằng nào cũng dẹp tiệm, ảnh hưởng đến nhân
công vốn đă đói rách.
Mức lời của xí nghiệp Trung Quốc càng
lúc càng thấp, chỉ từ 3 đến 5% (L’éveil du dragon, p.
276).
Về phương diện hợp tác kỹ thuật với các
công ty ngoại quốc, Trung Quốc thường chỉ đảm nhiệm giai
đoạn cuối cùng là thực hiện, lắp ráp theo mô h́nh, kiểu
mẫu do ngoại quốc ấn định. Giống như người thợ may chỉ
biết cắt, may để hoàn thành chiếc áo, Trung quốc không
tham dự các giai đoạn lư thú và quan trọng như nghiên cứu
thị trường, đặt kế họach, vẽ mô h́nh, khuyến măi. Nói
khác đi, vai tṛ của Trung quốc là người công nhân sản
xuất mà người Tây phương gọi văn vẻ là « người cổ xanh »
(col bleu). Liệu Trung Quốc có măi măi chấp nhận vai
tṛ khiêm tốn nầy với ḷng tự hào của một dân tộc phát
xuất từ cái nôi của nền văn minh cổ thế giới, của một
khối nhân lực thông minh hơn 1 tỉ người khi mà một poupée
Barbie sản xuất ở Trung Quốc với giá 2 mỹ kim được bán ở
Mỹ với giá 16 MK
Đó là mặt trái của sự lừa dối hào
nhoáng. Và nếu người Cộng Sản thường dùng câu nói bất hủ
của Lénine để đề cao sự khôn ngoan ưu việt của người Cộng
Sản : Tư bản bán cho chúng ta sợi dây để chúng ta treo
cổ chúng (Les capitalistes nous vendront la corde qui nous
servira à les pendre) th́ trước hiện tượng Cộng Sản bị
Tư Bản khai thác hay bốc lột, Trung Quốc nên tự hỏi ai
treo cổ ai ?
3 - Made in China và Made by China
Đó là một cách nói ví von để mô tả hai
thực trạng phát triển kinh tế của Trung Quốc.
Made in China
là Trung Quốc của những hàng hóa rẻ tiền, phẩm chất kém mà
chúng ta thường t́m gặp ở Dollarama, Wal-Mart, của các nhà
máy Trung Quốc phát triển với vai tṛ« cổ xanh » để đầu tư
ngoại quốc chia lợi nhuận với Trung Quốc trong công cuộc
khai thác thị trường Trung Quốc và thế giới.
Made in China đả
tạo nên nhiều xáo trộn xă hội và kinh tế tại nhiều quốc
gia kỹ nghệ, kể cả các quốc gia đang phát triển (thí dụ
Mexique trong 5 năm gần đây có 230 000 nhân công bị mất
việc) bởi nhiều xí nghiệp phải đóng cửa, gia tăng thêm
thất nghiệp, v́ không cạnh tranh nổi với nhân công Trung
Quốc. Riêng với Hoa kỳ, số thất nghiệp v́ Made in China
thật đáng ngại : năm 2003, Forester Research phỏng định
số người mất việc năm 2005 là 830 000 người và năm 2015 là
3,3 triệu. Golman Sachs lại c̣n bi quan hơn với con số 6
triệu vào năm 2014, trong khi Đại học Californie à
Berkeley ước lượng đến 10 triệu. Chuyện đáng tin v́ là
nghiên cứu của các cơ quan nghiêm túc.(theo University of
California Haas School of Business, press release. « UC
Berkeley study assesses potential impacts of second wave
of outsourcing jobs from US », 29, oct. 2003,
www.haas.berkeley.edu/news/20031029_outsourcing.)
Nhưng thực sự, sức mạnh của nền kinh tế
Trung Quốc « kinh khủng » hơn nhiều,
bởi ngoài 500 000 xí nghiệp có vốn ngoại quốc làm ăn theo
kiểu chụp giưt, Trung Quốc c̣n có 300 000 xí nghiệp trong
đó có 12 000 đại xí nghiệp quốc doanh hay tư nhân với hơn
nửa tỉ công nhân cần mẫn và một đội ngũ chuyên viên thông
minh và trách nhiệm (trong số 2,5 triệu sinh viên tốt
nghiệp đại học mỗi năm có 1,35 triệu kỹ sư !!) đă đem sức
cần lao và khối óc để canh tân Trung quốc với một vận tốc
và số lượng công tŕnh vĩ đại cũng như có mặt đẩu tư ở
khắp năm châu.
Made by China
chính là sức mạnh của con rồng trỗi dậy, là mối đe dọa của
thế giới mà các nhà kinh tế đă nhận định « thế kỷ 21 là
thế kỷ của Trung Quốc »
( rất nhiều sách báo gần đây khi nói về
Trung Quốc hay dùng danh từ The Chinese Century).
Mc Kinsey trong một nghiên cứu cho
Liên Minh Âu châu năm 2004 đă kết luận là trong nhiều
ngành sản xuất, Trung Quốc đă vượt qua năng suất của các
quốc gia phát triển và cả Âu châu. Tài liệu cho biết muốn
hoàn thành một chiếc chemise, người thợ Trung Quốc chỉ cần
12 phút trong khi người Ấn Độ cần 22 phút và người
Mexicain cần 30 phút. (L’éveil du dragon, p. 275)
Để nói lên sự phi thường của Trung Quốc
trong công tŕnh xây dựng cơ cấu hạ tầng, chỉ cần đan kể
vài thí dụ.
- Chỉ trong một năm 2004, Thượng Hải
xây một số nhà chọc trời bằng cả New York gộp lại.
- Chỉ trong 2 năm 2003-2004, Trung Quốc
thiết lập 192 000km xa lộ, trong khi suốt nửa thế kỷ trước
(1949-2002) họ chỉ xây được có 170 000km.
- Năm 2005, Trung Quốc có thêm 13 000
km đường hỏa xa, đặc biệt đường nối liền từ Tần Hải
(Qinghai) đến Lhassa(Tây Tạng) dài 1400km xuyên qua đèo
Tangula ở cao độ 5000m, một kỷ lục thế giới.
- Và một trong những công tŕnh vĩ đại
mà người Trung Quốc sắp hoàn thành là đập thủy điện Tam
Hiệp (Trois-Gorges). Sau Vạn Lư Trường Thành, Tam Hiệp là
đập thủy điện lớn nhất thế giới mà Trung Quốc tự hào là
một Vạn Lư Trường Thành của thế kỷ 21 v́ người ta có thể
nh́n thấy nó từ mặt trăng. Trung Quốc đầu tư 200 tỉ mỹ kim
để phát triển Thành Đô (Chongqing), thủ đô của Tứ Xuyên,
nằm bên cạnh đập Tam Hiệp, hiện nay dân số đă lên đến 30
triệu.
- Và chiếc cầu dài 36km, bắt ngang qua
sông Dương Tử sẽ là chiếc cầu dài nhất thế giới.
Nói chung, với tất cả những công tŕnh
và dự án trong nước, chỉ trong năm 2003, chánh phủ Trung
Quốc và đầu tư ngoại quốc đă tài trợ 200 tỉ mỹ kim, tương
đương với 10% sản lượng của Trung quốc hay ngân sách y tế
của Hoa Kỳ.(theo Joseph Kaln, New York Times, 19/20
Janvier, 2003)
Với gần một 1,5 tỉ nguời dân, Trung
Quốc là một thị trường lư tưởng không những của Trung Quốc
mà của thế giới. Trung Quốc hiện nay có 2,5 triệu nhăn
hiệu cầu chứng, cung cấp 80% nhu cầu tiêu thụ trong xứ.
Tuy Trung Quốc đă có những nhăn hiệu nổi tiếng như
Panda, Amoy, Lenovo, TCL…, nhưng việc quảng bá những
hiệu nầy để trở nên nổi tiếng như Sony. Toshiba, Microsoft
đ̣i hỏi nhiều kiên tŕ. Tuy nhiên, từ ngày Trung Quốc gia
nhập vào Tổ chức Thương Mại Quốc Tế (WTO), Trung Quốc đă
sử dụng cơ quan nầy vừa để bành trướng thị trường, vừa để
bảo vệ quyền lợi mà các quốc gia phát triển, trước sự đe
dọa của Trung Quốc, có khuynh hướng liên kết để chèn ép
Trung Quốc.
Mối đe dọa mà Trung Quốc thường úp mở
dùng làm lợi khí để làm ăn với khối tư bản là quyền làm
chủ các định chuẩn (normes, standards). Thử tưởng tượng
nếu ngày mai, 1 tỉ người tiêu thụ Trung Quốc quyết định
chọn lựa một máy xem DVD hay môt máy điện toán theo các
định chuẩn của Trung Quốc, định chuẩn nầy, bởi số lượng
người tiêu thụ, đương nhiên sẽ là định chuẩn của thế giới.
Những nạn nhân đầu tiên của định chuẩn mới nầy sẽ là kỹ
nghệ truyền thông, tin học, giải trí, hiện chế tạo theo
các định chuẩn đo lường cùa Anh Pháp, và các ông vua
Microsoft, Sony, Toshiba… phải thương thuyết với Chú Ba
nếu không muốn khánh tận. Và thử tưởng tượng hệ thống
truyền tin thế giới, các bộ quốc pḥng, các sinh hoạt lớn
nhỏ của con người sẽ bị ảnh hưởng liên lụy đến mức nào.
Trung Quốc đang áp dụng thái độ ôn hỏa (low profile) hầu
có th́ giờ cải thiện mức sống của ngươi dân để gia tăng
người tiêu thụ, khai thác thị trường thế giới để tích lũy
ngoại tệ, một thứ vũ khí cũng nguy hiểm như súng đạn, để
một ngày nào, xa hay gần, trực diện với Mỹ trên một chiến
trường do một trong hai nước khởi xướng.
Trung Quốc đi chinh phục thế giới
Với nhu cầu kỹ nghệ, Trung Quốc sử dụng
một phần lớn tài nguyên thiên nhiên của thế giới.
Năm 2005, Trung Quốc tiêu thụ 55%
ciment, 30% than đá, 35% thép, 25% nickel, 14% nhôm, 14%
đồng của thế giới.
Mối bận tâm lớn nhất của Trung Quốc là
dầu hỏa và chiến tranh lạnh hay nóng với Hoa Kỳ sẽ là vấn
đề nầy. Tuy số tiêu thụ dầu của người Trung Quốc chỉ bằng
1/12 dân Mỹ, nhưng v́ số dự trữ dầu của Trung Quốc cạn
dần, trong khi nhu cầu của một dân số đông và một nền kỹ
nghệ đang bùng nổ, do đó kể từ năm 1993, Trung Quốc đă
ngưng xuất cảng dầu và phải nhập cảng.
Hiện nay, Trung Quốc tiêu thụ mỗi ngày
từ 7 đến 8 triệu barils (1 baril =158,98 litres) đứng hạng
thứ hai sau Hoa Kỳ (20 triệu). V́ lẽ Trung Quốc chỉ sản
xuất được khoảng 3,5 triệu barils mỗi ngày, Trung Quốc
phải nhập cảng 60% từ Arabie Séoudite, Oman, Iran, Soudan,
Angola, Indonésie và Nga Sô.
Và trong nỗ lực t́m nguồn tiếp liệu dầu
hỏa, đồng thời bành trướng thế lực kinh tế, chánh trị,
Trung Quốc đă đầu tư và hợp tác với nhiều quốc gia Phi
Chậu và Trung Nam Mỹ. Trong công cuộc làm ăn nầy, Trung
Quốc đă đụng độ với Mỹ tại những vùng ảnh hưởng của Mỹ hay
với những quốc gia mà Mỹ kết án là quốc gia hung đồ (états
voyous) .
Thế giới gần đây đă nhỏ lệ v́ gần nửa
triệu sinh mạng đă chết đói ở Darfour, một vùng đất khô
cằn ờ phía Nam Soudan. Darfour là băi chiến trường giữa
chính phủ và quân giài phóng dân tộc Soudan (Mouvement
populaire de libération du Soudan MPLS) dưới sự điều khiển
của John Garang đă được huấn luyện trong lực lượng đặc
biệt của Mỹ ở Georgie cùng với sự trợ giúp của Tchad và
một số quốc gia lân bang của Soudan nhận vũ khí của Mỹ
Tháng giêng năm 2006, nhân danh chống
lại cuộc chiến tranh diệt chủng, Hoa Kỳ yêu cầu Liên Minh
Đại Tây Dương đem quân chiếm Darfour, dĩ nhiên Hoa Kỳ gánh
chịu phần lớn chi phí trong cuộc « viễn chinh » nầy.
Darfour chỉ là mặt trái của cuộc tranh
giành dầu hỏa. Darfour ở sát
nách Tchad là một quốc gia chư hầu của Mỹ, điều khiển bởi
Idriss Deby, vị tổng thống thối nát và là bạn hữu nghị với
Chevron, đại công ty dầu hỏa của Hoa Kỳ (Condolezza Rice
nguyên là cộng sự viên của Chevron). Chevron và Exxon
Mobil đă hoàn thành một đường dẫn dầu trị giá 3,7 tỉ mỹ
kim để đưa 160 000 barils mỗi ngày từ những giếng dầu ở
Doba, trung tâm của Tchad và gần với Darfour đến Kribi,
một thương cảng của Cameroun, để từ đó chở về các xưởng
lọc dầu ở Mỹ. Nhưng v́ chia chác không đồng đều lợi nhuận,
Deby phản đối. Paul Wolfowitz (tân giám đốc Ngân Hàng thế
giới, nguyên cố vấn của Bush, người đă chủ trương chiếm
Irak) cúp viện trợ cho Tchad. Để trả đủa, tháng 8 năm
2006, Deby trục xuất Chevron và Petronas, một công ty của
Mă Lai và Đài Loan, với lư do trốn thuế. Chính trong thời
điểm ấy, Trung Quốc tái lập bang giao với Tchad sau khi
đoạn giao với Tchad từ 1997, và tài trợ cho Tchad.
Tháng 11, 2006, Bắc Kinh trải thảm đỏ
để đón tiếp 40 lănh tụ các quốc gia Phi Châu, xác nhận
chánh sách hợp tác hữu nghị với các quốc gia trên một lục
địa gồm 53 quốc gia với 800 triệu dân mà từ nhiều thế kỷ
qua đă bị xâm chiếm, khai thác bởi các quốc gia da trắng.
Trái với chánh sách hống hách và thuộc
địa của Hoa Kỳ, và một số quốc gia Tây Âu, Trung Quốc khéo
léo áp dụng chánh sách cho vay không lời, hay không bảo
hiểm trong những dự án phát triển hạ tầng cơ sở, điện khí
hóa, huấn luyện kỹ thuật. Chỉ trong năm 2006, Trung Quốc
đầu tư hay tài trợ 10 tỉ mỹ kim cho Nigeria, Angola,
Mozambique và Ghana.

Hiện nay, Trung Quốc nhập cảng 30% số
dầu tiêu thụ từ Châu Phi. Công ty quốc doanh CNPC (China
National Petroleum Corporation) hợp tác với Nigeria và Nam
Phi để nhập cảng độ 175 000 barils dầu thô mỗi ngày. Tại
Soudan, CNPC khai thác gần nửa triệu barils mỗi ngày,
thiết lập một pipeline dài 1500km, dẫn dầu đến Port-Soudan
trên Hồng Hải để từ đó chuyển về Trung Quốc. Sự có mặt của
Trung Quốc trong biển nầy làm Hoa Kỳ và Do Thái ái ngại.
Ngoài ra, Trung Quốc c̣n có nhiều dự án khoan dầu tại
Guinée, Congo, Sao Tome & Principe, Mali.
Ngoài dầu hỏa, Trung Quốc c̣n nhắm vào
các quặng mỏ cần thiết cho kỹ nghệ : quặng đồng ở Zambie,
than đá ờ Nam Phi. Trong ṿng một thập niên, « sự có mặt
của Trung Quốc tại Châu Phi đă bùng nổ trông thấy », đó là
lời tuyên bố của Walter Kansteiner, thứ trưởng Mỹ đặc
trách các vấn đề Phi Châu.
Ngoài những chạm trán với Anh và Mỹ
trên lục địa đen, Trung Quốc c̣n đi thẳng vào Mỹ Châu La
Tinh mà dân biểu Dan Burton
đă tuyên bố là « sự xâm nhập của bạo quyền trong khu
vực ». Mỹ Châu La Tinh đang cần xây dựng hạ tầng cơ sở, và
nhiều quốc gia trong vùng chán ghét Mỹ nên sự có mặt
chuyên viên, tài trợ và chánh sách bang giao khôn khéo của
Trung Quốc đă khiến Trung Quốc cũng « đổ bộ » được vào
ṿng đai của Mỹ Quốc.
Năm 2005, Ba Tây, Argentine, Chili,
Pérou, Vénézuéla đă trải thảm đỏ đón tiếp chủ tịch Hồ Cẩm
Đào khi ông nầy tuyên bố sẽ đầu tư vào khu vực nầy 100 tỉ
mỹ kim trong ṿng 10 năm sắp đến.
Nhiều đại công tác hay dự án hợp tác
đă bắt đầu.
- Ba Tây cung cấp cho Trung Quốc 12
triệu barils dầu và Trung Quốc giúp Ba Tây xây đường sắt,
hải cảng. Công ty thép Trung Quốc Bao Steel đầu tư 1 tỉ mỹ
kim để khai thác các quặng mỏ.
- Tại Argentine, Trung Quốc khai thác
khí đốt, dầu hỏa và hợp tác các dự án về viễn thông, đường
sắt với số đầu tư trong ṿng 10 năm là 20 tỉ