Khi Trung Quốc là NMáy

Khổng Lồ của Thế Giới

Lâm Văn Bé

 

Từ sau cuộc cách mạng kinh tế do Đặng Tiểu B́nh phát động vào tháng 12 năm 1978, Trung Quốc đă được mang nhiều nhăn hiệu, từ mầu nhiệm (miracle) đến ảo tưởng (illusion), từ gánh nặng (fardeau) đến hiểm họa (menace). Ba mươi năm phát triển kinh tế, Trung Quốc đă thay đổi diện mạo quốc gia của họ và của thế giới trong lănh vực kinh tế và địa chính trị, và từ đầu thế kỷ nầy, Trung Quốc được mệnh danh là nhà máy toàn cầu (usine mondiale), danh xưng đă lần lượt chiếm giữ bởi Anh Quốc, Hoa Kỳ và Nhựt trong hai thế kỷ 19 và 20.

Từ một quốc gia nông nghiệp, chậm tiến và cô lập, Trung Quốc đă trở nên một quốc gia kỹ nghệ và được xếp vào hàng quốc gia phát triển kinh tế thứ tư trên thế giới sau Hoa Kỳ, Đức, Nhựt và thứ hai thế giới về dự trữ ngoại tệ sau Hoa Kỳ.

Trung Quốc đang khai thác thế giới, đứng đầu số sản xuất hàng chục sản phẩm  kỹ nghệ.

 

Trong năm 2005, Trung Quốc đă cung cấp cho thị trường thế giới 90% DVD, 85% đồ chơi, 85% máy cày, 85% đồng hồ, 70% máy in, 65% dụng cụ thể thao, 69% xe đạp, 58% điện thoại, 55% máy ảnh, 55% máy điện toán cầm tay, 50% quạt máy, 40% ḷ vi ba (four micro-ondes), 36% TV, 30% máy lạnh, 25% máy giặt, máy sấy, 20% tủ lạnh… (L’éveil du dragon, p.267)

 

Tuy sản lượng kỹ nghệ của Trung Quốc khổng lồ, dự trử ngoại tệ của Trung Quốc lên đến 1000 tỷ mỹ kim, Trung Quốc có thực sự là một cường quốc kinh tế hay chỉ là một nhà máy khổng lồ chỉ biết sản xuất theo phiếu đặt hàng của các quốc gia kỹ nghệ.

Tuy lợi tức quốc gia PIB (Produit intérieur brut) nhảy vọt từ 147 tỉ mỹ kim năm 1978 đến 8800 tỉ năm 2005, và lợi tức trung b́nh đồng niên của người dân tăng từ 340 mỹ kim đến hơn 1000 mỹ kim cùng trong thời gian ấy, Trung Quốc có thực sự là một quốc gia phát triển bền vững và phú cường hay tiềm ẩn những  tàn phá thiên nhiên và bất b́nh đẳng xă hội mà trước hay sau Trung Quốc phải trả giá.

 

Đối với thế giới, nếu chánh sách sản xuất đại qui mô và giá hạ của Trung Quốc đă làm giảm lạm phát và gia tăng sức tiêu thụ, Trung Quốc đă, đang và sẽ mang lại những hậu quả khốc liệt nào trong vấn đề sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân lực của Trung Quốc và thế giới cũng như tạo nên những thay đổi nào trong lănh vực địa chánh trị, mầm móng của cuộc chiến tranh lạnh hay nóng.

 

Bài viết nầy, tổng hợp từ các tài liệu mới nhất của các nhà nghiên cứu am tường vấn đề, nhằm tŕnh bày diện mạo của nền kinh tế Trung Quốc và những hậu quả của bước nhảy vọt kinh tế nầy đối với Trung Quốc và thế giới, đặc biệt mối bang giao giữa Trung Quốc với Hoa Kỳ và các quốc gia lân bang.

 

Sức mạnh kinh tế của Trung Quốc

Câu hỏi tiên quyết cần đặt ra, Trung Quốc là cường quốc kinh tế hay chỉ là một quốc gia kỹ nghệ và vị trí của Trung Quốc trong hàng ngũ các quốc gia nầy. Câu trả lời tùy theo cách tính và tùy theo mục tiêu sử dụng.

Nếu tính theo hối suất chính thức, lợi tức quốc gia  của Trung Quốc chỉ bằng một quốc gia Tây Âu, chỉ chiếm 3,4% PIB của thế giới, đứng hàng thứ sáu, hơn Ư nhưng thua xa Hoa Kỳ (22%) và Nhựt (10%).

Nhưng thực sự, sức mạnh kinh tế của Trung Quốc quan trọng hơn rất nhiều nếu tính theo phương pháp chuẩn hóa tiền tệ. Từ năm 1994, Trung quốc thả nổi đồng nhân dân tệ (yuan) với một hối suất chính thức rất thấp (1 mỹ kim = 8,28 yuans) để giữ giá hàng rẻ, xuất cảng nhiều, dù Hoa Kỳ đă  nhiều lần làm áp lực để Trung Quốc phải tăng giá đồng yuan ( năm 2006, 1 mỹ kim = 8,06 yuan ; năm 2007, 1 mỹ kim = 7,52 yuans).

Do đó, để tính sản lượng của  Trung Quốc (và các quốc gia khác) một cách chính xác và thống nhất, Ngân hàng Thế giới (Banque mondiale) đă tính theo một hối suất tiêu chuẩn  gọi là  PPA (parité pouvoir d’achat, tiếng Anh gọi là PPP = purchasing power parity) bằng cách định giá cùng một giỏ hàng và dịch vụ tính bằng tiền địa phương và mỹ kim. Thí dụ một giỏ hàng trị giá 100 mỹ kim ở Mỹ và cùng giỏ hàng nầy trị giá 450 yuans ở Trung Quốc, hối suất PPA như vậy là 1 mỹ kim bằng 4,5 yuans trong khi hối suất chính thức ở ngân hàng Thượng Hải là 7,52 yuans. Nếu tính theo phương pháp nầy, Trung Quốc có một PIB là 8 800 tỉ mỹ kim (11% của thế giới), đứng hàng thứ hai sau Hoa Kỳ, vượt qua cả Nhựt.

   

 Bảng 1 : Lợi tức của các quốc gia tính theo hối  suất PPA (năm 2005)

           

Quốc gia

PIB

quốc gia

PIB

người dân

 

 

 

Hoa Kỳ

12 066 tỉ MK

40 500 MK

T.Quốc

  8 800

  6 300

Nhựt

  3 820

29 500

Ân Độ

  3 500

 3 250

Đúc

  2 380

28 700

Pháp

  1 750

29 000

   Source : Chine-USA, la guerre programmée, p. 87

 

Và cũng theo phương pháp nầy, lợi tức trung b́nh đồng niên của người Trung Hoa năm 2003 là 5 015 mỹ kim, đứng hàng 109 trong số 203 quốc gia trong bảng xếp hạng, nhưng nếu tính theo hối đoái chính thức, PIB của người dân chỉ có 1131 mỹ kim.

Sức mạnh kinh tế thực sự của Trung Quốc có lẽ nằm giữa hai con số trên !!

 

   Bảng 2 : Lợi tức thô (PIB brut)  của  người  dân Trung Quốc (mỹ kim)

 

 

1980

1996

2000

2003

PIB

300

543

692

1 131

PIB-PPA

464

3 330

3 976

5 015

 

Bản chất sự phát  triển kinh tế của Trung Quốc

 

1- Ưu thế trong các hàng hóa gia dụng

Mặc dù Trung Quốc được xếp hàng thứ tư trong lănh vực sản phẩm kỹ nghệ, Trung Quốc chỉ có ưu thế trong các loại hàng gia dụng và tiêu thụ, nhưng kém ưu thế về kỹ nghệ nặng và kỹ nghệ trang bị máy móc. Và ngay trong ưu thế, Trung Quốc chỉ là một nhà máy khổng lồ lắp ráp các bộ phận chế biến từ các xứ kỹ nghệ hay sản xuất theo các mẫu thiết kế sẵn bởi các xí nghiệp Âu Mỹ rồi xuất cảng trở lại. Phương pháp sản xuất nầy trông có vẻ mầu nhiệm với số sản xuất và xuất cảng khổng lồ, nhưng thực ra số lợi nhuận rất khiêm tốn bởi lẽ nếu 55% số hàng hóa xuất cảng là hàng lắp ráp th́ Trung Quốc phải nhập cảng vào 50% nguyên liệu hay các bộ phận rời.

 

Bảng 3 : Nhập cảng và xuất cảng của Trung Quốc (tỉ mỹ kim)

 

Năm

Xuất cảng

Nhập cảng

2000

249

214

2001

266

232

2002

325

281

2003

438

394

2004

593

561

Source : David Burton et Anthony Boote. Staff Report for the 2004, Article IV Consultation, FMI, Washington.

Bảng thống kê trên cho chúng ta một nhận định rơ rệt về kinh tế Trung Quốc, và nhiều nhà kinh tế đă kết luận rằng cái nhiệm mầu thực sự  chỉ là ảo tưởng.

Chính v́ sở trường sản xuất các vật gia dụng, rẻ tiền và một số máy móc nhẹ theo phương thức lắp ráp, Trung Quốc xuất cảng ít hơn các loại máy móc và dụng cụ hạng nặng là các sản phẩm có giá trị thặng dư (plus value), sức mạnh kinh tế của Trung Quốc do đó thực sự chỉ có bề mặt mà ít có bề sâu, và v́ vậy sự trao đổi hàng hóa với các quốc gia kỹ nghệ rất bất lợi cho Trung Quốc. Thử tưởng tượng muốn mua một chiếc Airbus 380, Trung Quốc phải xuất cảng 800 triệu  chiếc áo chemises, th́ với lợi nhuận trung b́nh độ 50 tỉ  mỹ kim mỗi năm, phải lâu lắm Trung Quốc mới ngồi chung cùng hàng ngũ với các quốc gia thực sự kỹ nghệ.

 

2- Ưu thế nhờ nhân công rẻ và đầu tư ngoại quốc

Lợi khí siêu việt của Trung Quốc mà thế giới sẽ không bao giờ cạnh tranh nổi là khối nhân công rẻ, kỷ luật và chuyên cần. Cuộc cách mạng kinh tế của Đặng Tiểu B́nh thực ra là giải tỏa nông nghiệp, phát triển công nghiệp và kỹ nghệ để tạo công ăn việc làm cho một tỉ dân Trung Quốc đói khổ trong thời đóng cửa của Mao. Với khối nhân công đang khao khát việc làm, những đặc khu kinh tế đă  mở cửa để đón nhận đầu tư ngoại quốc là những yếu tố thuận lợi cho cuộc bùng nổ kinh tế của Trung Quốc.

           

                                   Bảng 4 : Đầu tư ngoại quốc

Năm

Sản lượng

kỹ nghệ

(t́ yuans)

Vốn ngoại

quốcđầu tư

(tỉ yuans)

% vốn

ngoại quốc

 

1990

1 970

     50

  2,3%

1995

9 196

1 315

14,3%

2000

7 396

2 315

22,5%

2001

9 475

2 650

28%

2002

10 120

3 377

33,4%

            Source : Ministère du Commerce de Chine, citée dans L’éveil du dragon, p. 270

 

Hiện nay, theo thống  kê của Trung Quốc có 500 000 công ty có vốn đầu tư của ngoại quốc cung ứng 33,4% sản phẩm kỹ nghệ Trung Quốc và 55 % hàng xuất cảng. Số vốn đầu tư  của ngoại quốc tại Trung Quốc càng lúc càng gia tăng như bảng thống kê trên xác nhận.

 

Bắt đầu năm 1991 với 5 tỉ mỹ kim, số vốn đầu tư của các công ty ngoại quốc trên đất Trung Quốc lên đến 60 tỉ mỹ kim năm 2005. Trong  tổng  số 500 tỉ mỹ kim  vốn của ngoại quốc cho đến nay, điều ngạc nhiên là 50% đến từ các quốc gia Á châu và Hong Kong, 9% của Mỹ, 8% của Nhựt và 8% của khối Liên Hiệp Âu châu (Union européenne).

 

Trong công cuộc hợp tác kinh tế giữa Trung Quốc và ngoại quốc, tuy Trung Quốc đă phát triển quốc gia trong nhiều lănh vực, biến Trung Quốc thành một quốc gia kỹ nghệ chỉ trong hai thập niên, nhưng các quốc gia đầu tư cũng lợi dụng thị trường Trung quốc và thế giới để trục lợi theo các nguyên tắc của tư bản : tiền của tư bản đi vào nhà máy, tiền của tư bản đi ra bằng hàng hóa. Cái hào nhoáng khổng lồ, cái huyền thoại hư thực về một đe dọa  thế giới của Trung Quốc thực ra che dấu những hi sinh cùng cực của đám nhân công làm việc trong những điều kiện nô lệ và những tàn phá thiên nhiên mà các nhà lănh đạo  Cộng Sản và tư bản đỏ, v́ nhu cầu giai đoạn của đất nước và quyền lợi cá nhân, phe nhóm đă cố t́nh lờ đi những con số thiệt hại c̣n khổng lồ  hơn số mỹ kim mà họ đang hồ hỡi bỏ túi. 

 

Một trong số các khách hàng và đồng minh của Trung Quốc trong cách làm ăn chèn ép, khích động người dân tiêu thụ nhiều nhưng là loại hàng rẻ tiền, phẩm chất kém không ai khác hơn là Wal-Mart và các công ty khế ước với Wal-Mart.

Năm 2005, Wal-Mart nhập cảng của Trung Quốc 22 tỉ mỹ kim (10% tổng số nhập cảng của Hoa Kỳ) và số nầy có thể lên đến 30 tỉ mỹ kim nếu phải kể thêm những nhà  sản xuất Hoa Kỳ  nhưng đặt hàng ở Trung Quốc, từ cái máy khoan tay Black & Decker đến các poupée Barbie. Nói rơ hơn, 80% nhà cung cấp cho Wal-Mart xuất phát từ Trung Quốc v́ ngoài Wal-Mart, các công ty khác trên xứ Mỹ cũng đặt hàng ở Trung Quốc để bán cho Wal-Mart.

 

Lối làm ăn chèn ép của Wal-Mart lại thích  hợp với lối sản xuất của Trung Quốc bởi lẽ không một quốc gia  nào trên thế giới có thể cung cấp một khối hàng khổng lồ trong một thời gian kỷ lục với một giá rẻ kỷ lục. Hàng triệu công nhân Trung Quốc, kỷ luật, cần việc làm, chấp nhận mọi điều kiện làm việc ngày đêm với một đồng  lương ít hơn 30 lần so với công nhân nước Mỹ đă đáp ứng với công thức giá rẻ của Wal-Mart.

 

Để được giá rẻ, chánh phủ Cộng Sản và tư bản đỏ đă bốc lột nhân công Trung Quốc một cách vô nhân đạo.

Tại Quảng Đông, thành phố kỹ nghệ quan trọng nhất của Trung Quốc, tiền lương của công nhân từ 15 năm qua, chẳng những không tăng mà c̣n giảm (năm 1992 : chỉ số 100, năm 2004 : chỉ số 85) (theo L.Vallée. Présentation du 11 mars 2005, Caisse de dépôt et placement du Québec).

Cũng tại Quảng Đông, theo China Labor Watch Dec. 21, 2005, công nhân trong các nhà máy sản xuất đồ chơi phải đạt được chỉ tiêu là sơn 8900 đơn vị trong 8 giờ làm việc mới được trả $3,45 mỹ kim một ngày. Không đạt  được chỉ tiêu nầy, lương một ngày chỉ c̣n $1,23.

Lại một trường hợp khác trong muôn một, công ty Chun Si Enterprise Handbag Factory ở Trung Sơn (Zhongshan) gần Thượng Hải, 900 công nhân bị nhốt trong ṭa nhà chật chội, làm việc 12 giờ chỉ được nghỉ 60 phút để ăn, được trả 22 mỹ kim mỗi tháng nhưng phải hoàn lại cho công ty 15 mỹ kim tiền ăn ở. Làm nô lệ một tháng để có 7 mỹ kim gởi về cho vợ con húp cháo cầm hơi. (theo The Bully of Bentonville, p.189)

 

Đối với các xí nghiệp làm ăn với Wal-Mart hay nói chung với đầu tư ngoại quốc, t́nh trạng cũng chẳng có ǵ vẻ vang. Chánh sách mua ép giá của Wal-Mart làm nhiều nhà sản xuất ít vốn điêu đứng. Ban đầu, Wal-Mart tài trợ cho một số nhà sản xuất để trang bị nhà máy rồi mua hàng. Sau vài năm, Wal-Mart dùng chiến thuật chèn ép, khiến các nhà sản xuất địa phương cạnh tranh nhau để hiến giá rẻ như Wal-Mart mong muốn. Để khỏi phải đóng cửa, vỡ nợ, các công ty sản xuất phải bán phá giá, chế tạo cẩu thả, rồi đằng nào cũng dẹp tiệm, ảnh hưởng đến nhân công vốn đă đói rách.

Mức lời của xí nghiệp Trung Quốc càng lúc càng  thấp, chỉ  từ 3 đến 5% (L’éveil du dragon, p. 276).

Về phương diện hợp tác kỹ thuật với các công ty ngoại quốc, Trung Quốc thường chỉ đảm nhiệm giai đoạn cuối cùng là thực hiện, lắp ráp theo mô h́nh, kiểu mẫu do ngoại quốc ấn định. Giống như người thợ may chỉ biết cắt, may để hoàn thành chiếc áo, Trung quốc không tham dự các giai đoạn lư thú và quan trọng như nghiên cứu thị trường, đặt kế  họach, vẽ mô h́nh, khuyến măi. Nói khác đi, vai tṛ của Trung quốc là người công nhân sản xuất mà người Tây phương gọi văn vẻ là « người cổ xanh » (col bleu). Liệu Trung Quốc có măi măi chấp nhận vai tṛ khiêm tốn nầy với ḷng tự hào của một dân tộc phát xuất  từ cái nôi của nền văn minh cổ thế giới, của một khối nhân lực thông minh hơn 1 tỉ người khi mà một poupée Barbie sản xuất ở Trung Quốc với giá 2 mỹ kim được bán ở Mỹ với giá 16 MK

Đó là mặt trái của sự lừa dối hào nhoáng. Và nếu người Cộng Sản thường dùng câu nói bất hủ của Lénine để đề cao sự khôn ngoan ưu việt của người Cộng Sản : Tư bản bán cho chúng ta sợi dây để chúng ta treo cổ chúng (Les capitalistes nous vendront la corde qui nous servira à les pendre) th́ trước hiện tượng Cộng Sản bị Tư Bản khai thác hay bốc lột, Trung Quốc nên tự hỏi ai treo cổ ai ?

 

3 - Made in China và Made by China

Đó là một cách nói ví von để mô tả hai thực trạng phát triển kinh tế của Trung Quốc.

Made in China là Trung Quốc của những hàng hóa rẻ tiền, phẩm chất kém mà chúng ta thường t́m gặp ở Dollarama, Wal-Mart, của các nhà máy Trung Quốc phát triển với vai tṛ« cổ xanh » để đầu tư ngoại quốc chia  lợi nhuận với Trung Quốc trong công cuộc khai thác thị trường Trung Quốc và thế giới.

Made in China đả tạo nên nhiều xáo trộn xă hội và kinh tế tại nhiều quốc gia kỹ nghệ, kể cả các quốc gia đang phát triển (thí dụ Mexique trong 5 năm gần đây có 230 000 nhân công bị mất việc) bởi nhiều xí nghiệp phải đóng cửa, gia tăng thêm thất nghiệp, v́ không cạnh tranh nổi với nhân công Trung Quốc. Riêng với Hoa kỳ, số thất nghiệp v́ Made in China thật đáng ngại : năm 2003,  Forester Research phỏng định số người mất việc năm 2005 là 830 000 người và năm 2015 là 3,3 triệu. Golman Sachs lại c̣n bi quan hơn với  con số 6 triệu vào năm 2014, trong khi Đại học Californie à Berkeley ước lượng đến 10 triệu. Chuyện đáng tin v́ là nghiên cứu của các cơ quan nghiêm túc.(theo University of California Haas School of Business, press release. « UC Berkeley study assesses potential impacts of second wave of outsourcing jobs from US », 29, oct. 2003, www.haas.berkeley.edu/news/20031029_outsourcing.)

 

Nhưng thực sự, sức mạnh của nền kinh tế Trung Quốc « kinh khủng » hơn nhiều, bởi ngoài 500 000 xí nghiệp có vốn ngoại quốc làm ăn theo kiểu chụp giưt, Trung Quốc c̣n có 300 000 xí nghiệp trong đó có 12 000 đại xí nghiệp quốc doanh hay tư nhân với hơn nửa tỉ công nhân cần mẫn và một đội ngũ chuyên viên thông minh và trách nhiệm (trong số 2,5 triệu sinh viên tốt nghiệp đại học mỗi năm có 1,35 triệu kỹ sư !!) đă đem sức cần lao và khối óc để canh tân Trung quốc với một vận tốc và số lượng công tŕnh vĩ đại cũng như có mặt đẩu tư ở khắp năm châu.

Made by China chính là sức mạnh của con rồng trỗi dậy, là mối đe dọa của thế giới mà các nhà kinh tế đă nhận định  « thế kỷ 21 là thế kỷ của Trung Quốc »

( rất nhiều sách báo gần đây khi nói về Trung Quốc hay dùng danh từ The Chinese Century).

Mc Kinsey trong một  nghiên cứu cho Liên Minh  Âu châu năm 2004 đă kết luận là trong nhiều ngành sản xuất, Trung Quốc đă vượt qua năng suất của các quốc gia phát triển và cả Âu châu. Tài liệu cho biết muốn hoàn thành một chiếc chemise, người thợ Trung Quốc chỉ cần 12 phút trong khi người  Ấn Độ cần 22 phút và người Mexicain  cần 30 phút.  (L’éveil du dragon, p. 275)

 

Để nói lên sự phi thường của Trung Quốc trong công tŕnh xây dựng cơ cấu hạ tầng, chỉ cần đan kể vài thí dụ.

- Chỉ trong một năm 2004, Thượng Hải xây một số nhà chọc trời bằng cả New York gộp lại.

- Chỉ trong 2 năm 2003-2004, Trung Quốc thiết lập 192 000km xa lộ, trong khi suốt nửa thế kỷ trước (1949-2002)  họ  chỉ  xây được có  170 000km. 

- Năm 2005, Trung Quốc có thêm 13 000 km đường hỏa xa,  đặc biệt đường nối liền từ Tần Hải (Qinghai) đến Lhassa(Tây Tạng) dài 1400km xuyên qua đèo Tangula ở cao độ 5000m, một kỷ lục thế giới.

- Và một trong những công tŕnh vĩ đại mà người Trung Quốc sắp hoàn thành là đập thủy điện Tam Hiệp (Trois-Gorges). Sau Vạn Lư Trường Thành, Tam Hiệp là đập thủy điện lớn nhất thế giới mà Trung Quốc tự hào là một Vạn Lư Trường Thành của thế kỷ 21 v́ người ta có thể nh́n thấy nó từ mặt trăng. Trung Quốc đầu tư 200 tỉ mỹ kim để phát triển Thành Đô (Chongqing), thủ đô của Tứ Xuyên, nằm bên cạnh đập Tam Hiệp, hiện nay dân số đă lên đến 30 triệu.

- Và chiếc cầu dài 36km, bắt ngang qua sông Dương Tử sẽ là chiếc  cầu dài nhất thế giới.

 

Nói chung, với tất cả những công tŕnh và dự án trong nước, chỉ trong năm 2003, chánh phủ Trung Quốc và đầu tư ngoại quốc đă tài trợ 200 tỉ mỹ kim, tương đương với  10% sản lượng của Trung quốc hay ngân sách y tế của Hoa Kỳ.(theo Joseph Kaln, New York Times, 19/20 Janvier, 2003)

 

Với gần một 1,5 tỉ nguời dân, Trung Quốc là một thị trường lư tưởng không những của Trung Quốc mà của thế giới. Trung Quốc hiện nay có 2,5 triệu  nhăn hiệu cầu chứng, cung cấp 80% nhu cầu tiêu thụ trong xứ. Tuy Trung Quốc đă có những nhăn hiệu nổi tiếng như Panda, Amoy, Lenovo, TCL…, nhưng việc quảng bá những hiệu nầy để trở nên nổi tiếng như Sony. Toshiba, Microsoft đ̣i hỏi nhiều kiên tŕ. Tuy nhiên, từ ngày Trung Quốc gia nhập vào Tổ chức Thương Mại Quốc Tế (WTO), Trung Quốc đă sử dụng cơ quan nầy vừa để bành trướng thị trường, vừa để bảo vệ quyền lợi mà các quốc gia phát triển, trước sự đe dọa của Trung Quốc, có khuynh hướng liên kết để chèn ép Trung Quốc.

 

Mối đe dọa mà Trung Quốc thường úp mở dùng làm lợi khí để làm ăn với khối tư bản là quyền làm chủ các định chuẩn (normes, standards). Thử tưởng tượng nếu ngày mai, 1 tỉ người tiêu thụ Trung Quốc quyết định chọn lựa một  máy xem DVD hay môt máy điện toán theo các định chuẩn của Trung Quốc, định chuẩn nầy, bởi số lượng người tiêu thụ, đương nhiên sẽ là định chuẩn của thế giới. Những nạn nhân đầu tiên của định chuẩn mới nầy sẽ  là kỹ nghệ truyền thông, tin học, giải trí, hiện chế tạo theo các định chuẩn đo lường cùa Anh Pháp, và các ông vua Microsoft, Sony, Toshiba… phải thương thuyết với Chú Ba nếu không muốn khánh tận. Và thử tưởng tượng hệ thống truyền tin thế giới, các bộ quốc pḥng, các sinh hoạt lớn nhỏ của con người sẽ bị ảnh hưởng liên lụy đến mức nào. Trung Quốc đang áp dụng thái độ ôn hỏa (low profile) hầu  có th́ giờ cải thiện mức sống của ngươi dân để gia tăng người tiêu thụ, khai thác thị trường thế giới để tích lũy ngoại tệ, một thứ vũ khí cũng nguy hiểm như súng đạn, để một ngày nào, xa hay gần, trực diện với  Mỹ trên một chiến trường do một trong hai nước khởi xướng.

 

Trung Quốc đi chinh phục thế giới

Với nhu cầu kỹ nghệ, Trung Quốc sử dụng một phần lớn tài nguyên thiên nhiên của thế giới.

Năm 2005, Trung Quốc tiêu thụ 55% ciment, 30% than đá, 35% thép, 25% nickel, 14% nhôm, 14% đồng của thế giới.

Mối bận tâm lớn nhất của Trung Quốc là dầu hỏa và chiến tranh lạnh hay nóng với Hoa Kỳ sẽ là vấn đề nầy. Tuy số tiêu thụ dầu của người Trung Quốc chỉ bằng 1/12 dân Mỹ, nhưng v́ số dự trữ dầu của Trung Quốc cạn dần, trong khi nhu cầu của một dân số đông và một nền kỹ nghệ đang bùng nổ, do đó kể từ năm 1993, Trung Quốc đă ngưng xuất cảng dầu và phải nhập cảng. 

 

Hiện nay, Trung Quốc tiêu thụ mỗi ngày từ 7 đến 8 triệu barils (1 baril =158,98 litres) đứng hạng thứ hai sau Hoa Kỳ (20 triệu). V́ lẽ Trung Quốc chỉ sản xuất được khoảng 3,5 triệu barils mỗi ngày, Trung Quốc phải nhập cảng 60% từ Arabie Séoudite, Oman, Iran, Soudan, Angola, Indonésie và Nga Sô.

 

Và trong nỗ lực t́m nguồn tiếp liệu dầu hỏa, đồng thời bành trướng thế lực kinh tế, chánh trị, Trung Quốc đă đầu tư và hợp tác với nhiều quốc gia Phi Chậu và Trung Nam Mỹ. Trong công cuộc làm ăn nầy, Trung Quốc đă đụng độ với Mỹ tại những vùng ảnh hưởng của Mỹ hay với những quốc gia mà Mỹ kết án là quốc gia hung đồ (états voyous) .

 

Thế giới gần đây đă nhỏ lệ v́ gần nửa triệu sinh mạng đă chết đói ở Darfour, một vùng đất khô cằn ờ phía Nam Soudan. Darfour là băi chiến trường giữa chính phủ và quân giài phóng dân tộc Soudan (Mouvement populaire de libération du Soudan MPLS) dưới sự điều khiển của John Garang đă được huấn luyện trong lực lượng đặc biệt của Mỹ ở Georgie cùng với sự trợ giúp của Tchad và một số quốc gia  lân bang của Soudan nhận vũ khí của Mỹ 

Tháng giêng năm 2006, nhân danh chống lại cuộc chiến tranh diệt chủng, Hoa Kỳ yêu cầu Liên Minh Đại Tây Dương đem quân chiếm Darfour, dĩ nhiên Hoa Kỳ gánh chịu phần lớn chi phí trong cuộc « viễn chinh » nầy.

Darfour chỉ là mặt trái của cuộc tranh giành dầu hỏa. Darfour ở sát nách Tchad là một quốc gia chư hầu của Mỹ, điều khiển bởi Idriss Deby, vị tổng thống thối nát và là bạn hữu nghị với Chevron, đại công ty dầu hỏa của Hoa Kỳ (Condolezza Rice nguyên là cộng sự viên của Chevron). Chevron và Exxon Mobil đă hoàn thành một đường dẫn dầu trị giá 3,7 tỉ mỹ kim để đưa 160 000 barils mỗi ngày từ những giếng dầu ở Doba, trung tâm của Tchad và gần với Darfour đến Kribi, một thương cảng của Cameroun, để từ đó chở về các xưởng lọc dầu ở Mỹ. Nhưng v́ chia chác không đồng đều lợi nhuận, Deby phản đối. Paul Wolfowitz (tân giám đốc Ngân Hàng thế giới, nguyên cố vấn của Bush, người đă chủ trương chiếm Irak) cúp viện trợ cho Tchad. Để trả đủa, tháng 8 năm 2006, Deby trục xuất Chevron và Petronas, một công ty của Mă Lai và Đài Loan, với lư do trốn thuế. Chính trong thời điểm ấy, Trung Quốc tái lập bang giao với Tchad sau khi đoạn giao với Tchad từ 1997, và tài trợ cho Tchad.

 

Tháng 11, 2006, Bắc Kinh trải thảm đỏ để đón tiếp 40 lănh tụ các quốc gia Phi Châu, xác nhận chánh sách hợp tác hữu nghị với các quốc gia trên một lục địa gồm 53 quốc gia với 800 triệu dân mà từ nhiều thế kỷ qua đă  bị xâm chiếm, khai thác bởi các quốc gia da trắng.

Trái với chánh sách hống hách và thuộc địa của Hoa Kỳ, và một số quốc gia Tây Âu, Trung Quốc khéo léo áp dụng chánh sách cho vay không lời, hay không bảo hiểm trong những dự án phát triển hạ tầng cơ sở, điện khí hóa, huấn luyện kỹ thuật. Chỉ trong năm 2006, Trung Quốc đầu tư hay tài trợ 10 tỉ mỹ kim cho Nigeria, Angola, Mozambique và Ghana.

Hiện nay, Trung Quốc nhập cảng 30% số dầu tiêu thụ từ Châu Phi. Công ty quốc doanh CNPC (China National Petroleum Corporation) hợp tác với Nigeria và Nam Phi để nhập cảng độ 175 000 barils dầu thô mỗi ngày. Tại Soudan, CNPC khai thác gần nửa triệu barils mỗi ngày, thiết lập một pipeline dài 1500km, dẫn dầu đến Port-Soudan trên Hồng Hải để từ đó chuyển về Trung Quốc. Sự có mặt của Trung Quốc trong biển nầy làm Hoa Kỳ và Do Thái ái ngại. Ngoài ra, Trung Quốc c̣n có nhiều dự án khoan dầu tại Guinée, Congo, Sao Tome & Principe, Mali.

Ngoài dầu hỏa, Trung Quốc c̣n nhắm vào các quặng mỏ cần thiết cho kỹ nghệ : quặng đồng ở Zambie, than đá ờ Nam Phi. Trong ṿng một thập niên, « sự có mặt của Trung Quốc tại Châu Phi đă bùng nổ trông thấy », đó là lời tuyên bố của Walter Kansteiner, thứ trưởng Mỹ đặc trách các vấn đề Phi Châu.

Ngoài những chạm trán với Anh và Mỹ trên lục địa đen, Trung Quốc c̣n đi thẳng vào Mỹ Châu La Tinh mà dân biểu Dan Burton đă tuyên bố là « sự xâm nhập của bạo quyền trong khu vực ». Mỹ Châu La Tinh đang cần xây dựng hạ tầng cơ sở, và nhiều quốc gia trong vùng chán ghét Mỹ nên sự có mặt chuyên viên, tài trợ và chánh sách bang giao khôn khéo của Trung Quốc đă khiến Trung Quốc cũng « đổ bộ » được vào ṿng đai của Mỹ Quốc.

Năm 2005, Ba Tây, Argentine, Chili, Pérou, Vénézuéla đă trải thảm đỏ đón tiếp chủ tịch Hồ Cẩm Đào khi ông nầy tuyên bố sẽ đầu tư vào khu vực nầy 100 tỉ mỹ kim trong ṿng 10 năm sắp đến.

 

Nhiều  đại công tác hay dự án hợp tác đă bắt đầu.   

-  Ba Tây cung cấp cho Trung Quốc 12 triệu barils dầu và Trung Quốc giúp Ba Tây xây đường sắt, hải cảng. Công ty thép Trung Quốc Bao Steel đầu tư 1 tỉ mỹ kim để khai thác các quặng mỏ.

- Tại Argentine, Trung Quốc khai thác khí đốt, dầu hỏa và hợp tác các dự án về viễn thông, đường sắt với số đầu tư trong ṿng 10 năm là 20 tỉ

- Tại Chili khai thác mỏ đồng, công tŕnh xây cất đường sắt.

Một  dự án với ba quốc gia trên là Trung Quốc tài trợ thiết lập một hệ thống đường sắt xuyên dăy núi Andes để nối liền ba xứ trên và ra các hải cảng  ven biển Thái B́nh Dương, bù lại họ không được quyền kiện Trung Quốc trước Tổ chức Thương mại quốc tế (OMC)

- Với Venézuéla, Uruguay, Cuba, Trung Quốc nhảy vào một địa hạt chiến lược là truyền thông.

 

Ngoài các nguồn cung cấp dầu hỏa từ các quốc gia châu Phi, Trung Đông và châu Mỹ La Tinh mà việc vận chuyển dầu phải đi qua các hải phận kiểm soát bởi Anh-Mỹ (kinh Suez, các eo biển Ormuz trên vịnh Persique, eo Bab el-Manded trên Hồng Hải, eo Malacca) và hơn nữa Trung Quốc không có đủ tàu chở dầu (Trung Quốc chỉ có khả năng chở 15% dầu nhập cảng bằng tàu dầu của Trung Quốc), do đó Trung Quốc phải trông cậy vào các nguồn tiếp liệu ở Trung Á, trên đất liền, để đề pḥng cuộc khủng hoảng khi có chiến tranh với Mỹ.

- Với Kazathstan, Trung Quốc đă thiết lập một  ống dẩn dầu từ 2006 đưa dầu miền Trung Á về Trung Quốc

 

Hiện nay, các quốc gia cung cấp dầu hỏa cho Trung Quốc là :

-Angola, Iran, Arabie Séoudite, Soudan mỗi nước độ 0,5 triệu barils mổi ngày

- Nga, Oman : mỗi nước độ 300 000 barils/mỗi ngày.

- Congo, Yémen, Équateur, Vénézuéla, mỗi nước độ 150 000 barils mỗi ngày.

Source : Facts inc. China oil and gas montly, 2006

 

Nhưng không phải Trung Quốc chỉ tạo thế lực ở các nước chậm tiến. Trung Quốc không dừng bước ở các sản phẩm rẻ tiền, phẩm chất kém, mà Trung Quốc đang len lỏi vào thị trường các sản phẩm đắt tiền, phẩm chất cao tại các quốc gia Âu châu. Các công ty của Trung Quốc đang thực hiện 150 dự án lớn tại Anh, 80 tại Pháp và đang hướng tới Đông Âu.

 

Theo thông tin chính thức của chính phủ Trung Quốc, « trong năm 2006 có 10 000 xí nghiệp Trung Quốc đầu tư 7,3 tỉ mỹ kim tại 160 quốc gia trên thế giới » (Agence de press Xinhua ngày 10/09/2007)

Ngân hàng Thế giới cũng đă báo động : « trước thập niên nầy, phân nửa số sản xuất quần áo các loại sẽ nằm trong tay Trung Quốc….Trong tất cả mọi lănh vực, từ kỹ nghệ nặng đến nhẹ, những nhu cầu, những phương tiện và phương thức sản xuất đă được qui định. Tuần tự, kế hoạch sẽ thực hiện… » (Chine-USA, la guerre proclamée, p. 91)

 

 

Trung Quốc là  kẻ thù  số một của Mỹ

Kẻ thù số một của Mỹ không phải là Al-Qaeda, chính là Trung Quốc. Để kềm hảm bước tiến của Trung Quốc, Hoa kỳ đă đầu tư mỗi năm gần 10 tỉ mỹ kim để thiết lập ṿng đai chống hỏa tiển và chánh phủ Bush đă quyết định một ngân sách quốc pḥng hàng năm là 510 tỉ mỹ kim, gấp hai lẩn thời Clinton.

Và muốn duy tŕ t́nh trạng khan hiếm dầu hỏa của Trung Quốc, Hoa Kỳ chiếm Irak và các giếng dầu. Và để chuẩn bị một cuộc thế chiến thứ ba (hay thứ tư nếu kể cuộc chiến tranh lạnh giữa Mỹ và khối Cộng Sản bắt đầu tháng 8,1945 và chấm dứt ngày 9 tháng 11 năm 1989, ngày sụp đổ bức tường Bá Linh, là chiến tranh thứ ba), Mỹ đă tăng cường nhiều căn cứ quân sự ở chung quanh Trung Quốc, đặc biệt gần Nhựt và Đài Loan.

Ngày 12 tháng 8 năm 2005, Mỹ và Nhựt kư một thỏa ước theo đó eo biển Đài Loan là « mục đích chiến lược của hai nước » khi Trung Quốc thông qua « luật chống ly khai » ngăn cấm việc Đài Loan tuyên bố độc lập.

Ngay cả với Ấn Độ là lân bang khổng lồ của Trung Quốc ở phía Nam, Mỹ cũng liên kết để làm áp lực với Trung Quốc bằng cách Mỹ bải bỏ chính sách cấm vận vơ khí với Ấn Độ.

 

Từ 10 năm qua, Mỹ đă nhiều lần gây hấn hay khủng bố tinh thần, nhưng Trung Quốc cam tâm nhịn nhục, biết rằng chưa đủ khả năng để chống lại sức mạnh quân sự của Mỹ. Trung Quốc đang nỗ lực sản xuất, củng cố nội bộ, và kiện toàn cơ cấu chiến tranh để có ngày đối diện với Mỹ trên mặt trận.

 

- Mỹ dội bom ṭa đại sứ Trung Quốc ở Belgrade

Ngày 7 tháng 9 năm 1999, một phi cơ B-52 của Mỹ ném 5 trái bom vào ṭa đại sứ của Trung Quốc ở Belgrade làm thiệt mạng và gây thương tích cho hơn 20 nhân viên. Tuy Mỹ viện dẫn lư do trở ngại kỹ thuật, dù rằng phi cơ được hướng dẩn bằng GPS cực kỳ chính xác, lư do thực sự, theo các nhà quan sát chính trị, là Mỹ muốn cảnh cáo Trung Quốc v́ Trung Quốc đă phản đối sự can thiệp quân sự của Liên Minh Bắc Đại Tây Dương (OTAN) do Mỹ chủ tŕ để tấn công Kosovo, phe của lănh tụ người Serbe là Slobodan Milosevic, hơn nữa Mỹ nghi ngờ Trung Quốc chuyển giao các tin tức gián điệp cho phe Serbe.

Chi Haotian, Chủ tịch Ủy Ban Quốc Pḥng tuyên bố là chiến tranh với Mỹ sẽ không tránh được v́ nước Mỹ dùng bạo quyền để áp đặt quan điểm của Mỹ trên thế giới.

 

- Trung Quốc bắn hạ phi cơ  thám thính của Mỹ

Ngày 1 tháng tư năm 2001, một máy bay gián điệp EP-3 của Mỹ, trang bị đầy đủ tất cả các dụng cụ thám thính bị hai phi cơ F-8 của Trung Quốc chận bắt trong một vùng mà Trung Quốc cho là trong hải phận (c̣n Mỹ th́ cho là trong hải phận quốc tế, cách hải phận Trung Quốc 32 hải lư= 60 km). Trong khi tẩu thoát, EP-3  bắn cháy một F-8, nhưng EP-3 bị rơi ở đảo Hải Nam.

Phi hành đoàn gồm 24 người bị giam giữ 11 ngày trong khi chờ đợi thơ xin lỗi của TT Bush, nhưng chiếc phi cơ bị giữ lại ba tháng, tha hồ cho Trung Quốc lục soát và các kỹ sư Trung Quốc học hỏi kỹ thuật của Mỹ.


 

Trong thời gian khủng hoảng, hai quốc gia lên cơn sốt : dân chúng Mỹ biểu t́nh đỏi thả phi hành đoàn và trả phi cơ, và hàng triệu dân Trung Quốc sau đó cũng xuống đường reo ḥ ăn mừng ngày 9 tháng 11 khi hai cao ốc World Trade bị Al-Queda đánh phá.

 

- Mỹ bán vơ khí cho Đài Loan

Cũng trong tháng 4, 2001, liền sau vụ phi cơ thám thính, chánh phủ Bush cho phép bán cho Đài Loan nhiều vơ khí tấn công tối tân như phi cơ gián điệp, tàu ngầm, thủy lôi và có thể phi cơ trang bị đầu đạn nguyên tử Aegis. Quyết định nầy là một  thách thức với Trung Quốc, thay đổi hoàn toàn chánh sách Taiwan Relations Act năm 1978 theo đó Đài Loan chỉ được quyền trang bị vơ khí tự vệ. Hoa Kỳ c̣n hăm dọa Trung Quốc là sẽ bằng mọi cách giúp cho Đài Loan có khả năng chống trả các cuộc xâm lăng

 

- Mỹ ngăn chặn các thương vụ của Trung Quốc  trên đất Mỹ

Ngoài những tranh chấp ngấm ngầm hay công khai trong việc khai thác dầu hỏa ở Phi châu và Mỹ Châu La Tinh, Trung Quốc c̣n bị Mỹ dùng quyền lực ngăn chận bước tiến trong các thương vụ trên đất Mỹ, điều hiếm có trong sinh hoạt kinh tế thị trường.

Haier (Hải Nhĩ) là một đại công ty sản xuất máy giặt và máy sấy đứng hàng đầu của Trung Quốc, vốn là hậu thân của một công ty Đức đă không mua được công ty Maytag, dù với giá cao hơn (1,3 tỉ MK), v́ sự cấu kết của chánh phủ Mỹ và nhóm Whirlpool.

 

Và Trung Quốc phải nuốt hận khi Quốc Hội Mỹ đă can thiệp ngăn chận công ty Unocal, một công ty dầu lửa khổng lồ của Mỹ không được bán cho Công ty dầu khí CNOOC (China National Off shore Oil Corporation) dù công ty nầy chịu trả giá  18,5 tỉ mỹ kim cao hơn công ty Chevron.

Và gần đây, chiến dịch tẩy chay một số hàng hóa Trung Quốc vi lư do thiếu vệ sinh hay chứa hóa chất nguy hiểm cũng chỉ là đ̣n khủng bố của Mỹ trước sức mạnh kinh tế của Trung Quốc. Ai lại chẳng rơ là cơ quan Thực Phẩm Liên Bang của Hoa Kỳ kiểm soát nghiêm nhặt các kiện hàng nhập cảng trước khi bán ra cho người tiêu thụ và những hàng không đúng tiêu chuẩn bị trả lại hay hủy bỏ. Thủ tục áp dụng từ bao giờ  cho tất cả mọi loại hàng, mọi quốc gia th́ cớ sao bỗng nhiên trở nên một « đe dọa cho sức khỏe » của người dân trong dư luận. Phải chăng vấn đề trở nên nguy hiểm hơn hay Hoa Kỳ muốn khủng bố tinh thần Trung Quốc trước thềm của Thế Vận Hội 2008 mà Trung Quốc đang dốc toàn lực để ra mắt thế giới.

Tuy Trung Quốc có trừng phạt vài vật tế thần để trấn an dư luận, nhưng chắc chắn Mỹ không dám đẩy xa chiến dịch bởi lẽ, một đằng, Wal-Mart và đàn em cùng với 300 triệu người tiêu thụ xứ Mỹ không thể một sớm một chiều quên Made in China, và đằng khác, Trung Quốc, tuy nhịn nhục, nhưng khi tức nước vở bờ, sẽ tháo khoán 700 tỉ công khố phiếu của Mỹ mà Trung Quốc hiện đang nắm giữ th́ Mỹ sẽ là nạn nhân đầu tiên trong cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới.

Đặng Tiểu B́nh có nhiều câu nói ví von mà đàn em và dân chúng thường dẩn chứng như khuôn vàng thước ngọc. « Một ngọn núi không thể có hai con cọp » là một trong những sách lược của họ Đặng mà Trung Quốc đang chuẩn bị để giành trọn ngọn núi.


 

Trung Quốc và Mỹ chuẩn bị bộ máy chiến tranh

Để chuẩn bị cho cuộc thư hùng khi không thể tránh được, Trung Quốc và Mỹ đang thi đua vơ trang lực lượng. Dĩ nhiên, nước Mỹ đă trang bị và đă tham chiến trực tiếp hay gián tiếp trên nhiều chiến trường từ hơn nửa thế kỷ nay, kinh nghiệm và lực lượng quân sự hùng mạnh của Mỹ là yếu tố khiến Trung Quốc nhịn nhục trong thời gian tổ chức bộ máy chiến tranh.

 

Ngân sách quốc pḥng của Mỹ

Từ khi Bush lên cầm quyền, ngân sách quốc pḥng gia tăng mỗi năm. Năm 2006, ngân sách chính thức là 430 tỉ mỹ kim, nhưng nếu phải cộng thêm các chi tiêu khác như chiến tranh Afghanistan và Irak (80 tỉ), chương tŕnh  phát triển quân sự ṿng đai (40 tỉ), an ninh quốc nội (40 tỉ), hưu bổng cựu chiến binh (60 tỉ), nghiên cứu và tài trợ các cơ quan khác như bộ Tư Pháp, NASA…, tổng số ngân sách quốc pḥng của Mỹ năm 2006 lên hơn 700 tỉ, chiếm 70% chi phí quân sự của thế giới. Hai nước sau Mỹ là Nga và Trung Quốc chỉ chi tiêu cho mỗi nước không quá 10% số tiền khổng lồ của Mỹ.

 

            Bảng 5 : Ngân sách quốc pḥng của Mỹ (tỉ MK)(tỉ  MK)

 

Ngân sách

2001

2002

2003

2004

2005

2006

1

305

348

396

399

420

430

2

 

 

460

465

500

510

3

 

 

 

 

750

780

                  1- Ngân sách chính thức

                  2- Ngân sách kể cả chi phí ở Afghanistan & Irak

                  3- Ngân sách toàn thể (phỏng chừng)

                        (Source : Chine-USA, la guerre programmée, p. 249)

 

            Bàng 6 : Chi phí chiến tranh Irak và Afghanistan (tỉ MK)

 

 

2001-2007

2008 (dự trù)

Tổng cộng

Irak

450,4

116,3

566,7

Afghanistan

126,7

  30,8

157,4

An ninh

  28,1

    0,5

  28,6

Nơi khác

    5,5

 

    5,5

Tổng số

 610,5

147,5

758,1

 

Dĩ nhiên, với một lợi tức quốc gia 13 000 tỉ th́ chi phí nầy có là bao, nhưng nếu đem so sánh với  các chi phí khác của nước Mỹ cùng trong thời gian ấy, phải hiểu rằng đó là giá quá đắt cho ḷng tự phụ của một dân tộc mà hơn 30 triệu người dân c̣n sống dưới ngưỡng nghèo.

 

Ngân sách quốc pḥng của Trung Quốc

Từ năm 1996, ngân sách quốc pḥng của Trung Quốc tăng mỗi năm độ 15%, chủ yếu để phát triển các vũ khí chiến lược.

Bạch thư  của Trung Quốc về vấn đề quốc pḥng tựa là « Quốc Pḥng năm 2006 » nhấn mạnh đến sự lo ngại của Bắc Kinh trước thái độ hung bạo của Mỹ ở Trung Đông và thế giới, đặc biệt với chánh sách bao vây của Mỹ đối với Trung Quốc bằng những liên minh quân sự với các lân bang của Trung Quốc như Nhựt Bổn, Đại Hàn, Ấn Độ, Pakistan, Népal, Afghanistan và nhiều quốc gia ở Trung Á. Trung Quốc phải có phản ứng với chánh sách bao vây nầy. Ngân sách quốc pḥng năm 2006 sẽ là 36,4 tỉ mỹ kim.

(Source :Mondialisation www.mondialisation.ca, article de John Chan le 30 août 2007)

Đầu tháng 8 năm 2007, tại Quốc Hội, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, trong khi tŕnh bày ngân sách quốc pḥng năm 2007  là 44,94 tỉ mỹ kim đă quyết liệt hơn :

«… chúng ta sẽ tăng ngân sách quốc pḥng liên tục dựa trên tăng trưởng kinh tế của quốc gia để canh tân quân lực hầu thỏa măn nhu cầu bảo vệ quốc gia và phục vụ quyền lợi của đất nước…Thế giới hôm nay có lắm thay đổi, Trung Quốc luôn phải đề cao cảnh giác để đối phó với những hiểm nguy » (Theo Cơ quan thông tấn của chánh phủ  Xinhua, 01-08-2007 – www.china.org.cn)

Đó là con số chính thức, nhưng theo CIA, chi phí quân  sự của Trung Quốc từ 60 đến 70 tỉ.

 

Lực lượng quân sự Trung Quốc và Hoa Kỳ

Tuy Trung Quốc c̣n non yếu về vũ khí hạch tâm ( 200 so với Hoa kỳ có 10 000) và hỏa tiển xuyên lục địa (200 so với Hoa Kỳ 830), nhưng với một đạo quân 2,5 triệu người, không kể 1,5 triệu cảnh sát vơ trang và nhất là gần đây, tháng 1 năm 2007, Trung Quốc đă thành công trong việc phóng hỏa tiển chống vệ tinh, đe dọa trực tiếp vô số hành tinh gián điệp của Mỹ, (hỏa tiển  của Trung Cộng mà Mỹ đặt tên là SC-19 đă bắn trúng một vệ tinh của Mỹ ở cao độ 760 km), điều nầy đă khiến Mỹ vô cùng lo ngại. Đài Loan và Nhật Bổn bị đe dọa,  không c̣n là tiền đồn an toàn của Mỹ.

Theo bản báo cáo của Bộ Quốc Pḥng Mỹ th́ hiện nay, sức mạnh quân sự đă lớn mạnh và có khả năng tấn công căn cứ và tàu Mỹ trên Thái B́nh Dương.

Đến cuối năm 2006, Trung Quốc đă chế tạo được 60 hỏa tiển xuyên lục địa loại Deng Feng 32 có thể bắn đến Âu châu và lục địa Mỹ không kể các loại hỏa tiển tầm xa LRBM ( Long Range Balistic missiles). Trung Quốc cũng đă có các vũ khí có đầu đạn nguyên tử có thể bắn xa đến 1000 dặm gọi là MARV (Maneuvrable re-entry vehicle).

Trung Quốc cũng đă trang bị các tàu ngầm nguyên tử và đang xây một hàng không mẫu hạm theo kiểu Varyag mua của Ukraine.

Tuy nhiên, nếu so sánh quân lực của Trung Quốc và Hoa Kỳ, sự cách biệt c̣n rất lớn  giữa hai quân lực là một yếu tố kềm hăm ư đồ bành trướng kinh tế và lănh thổ mà Trung Quốc có khuynh hướng muốn tái lập chủ thuyết  Monroe trên Châu Á.

 

Bảng 7 : Vài con số về quân lực Trung Quốc và  Hoa Kỳ

Lực lượng

Trung Quốc(1)

Hoa Kỳ (2)

Quân số

2,5M chính quy

1,5M trừ bị

2,9M chính quy và trừ bị

Vũ khí qui ước

 

 

Lục quân(a)

13 080 xe tank

và tác chiến

- 10 000 chiến xa

- 32 000 xe tanks

- 9 000 súng nặng

- 6 000 trực thăng

Hải quân(b)

-Tàu ngầm : 53

-Chiến hạm các   loại : 711

- Tàu ngầm : 73

- Chiến hạm lớn: 232

- Chiến hạm : 3700

- Hàng không mẫu hạm :12

Không quân

Phi cơ quân sự các loại : 1700

-Phi cơ chiến đấu :    2400

-Phicơđặcbiệt :  2000

Vũ khí không qui ước

 

đầu đạn nguyên tử : 200

- đâu đạn ngtử :2000

-vệ tinh quốc pḥng : 75

(Sources : - Les Etats-Unis hyperpuissance militaire

               - La Chine nouvelle)

Chú thích

1- thống kê 2003  2- thống kê 2001

(a)- Lục quân (Land forces) của Mỹ gồm 3 thành phần : US Army, National Guard và US Marine Corps điều khiển bởi Joint Force Commander thường là chỉ huy trưởng của Army.

(b)- Hải quân (US Navy) của Mỹ là lực lượng duy nhất được điều động bởi Tổng thống không qua Quốc hội và khống chế trên các hải phận của thế giới :

- Hạm đội số 2 và 3 bảo vệ hai mặt Thái B́nh Dương và Đại Tây Dương của lục địa Mỹ Châu.

- Hạm đội số 5 đóng ở Barhein kiểm soát vùng vịnh

Persique và bảo vệ Trung Đông

- Hạm đội số 6 đóng ở Gaeta (Ư) kiểm soát Địa Trung Hải.

- Hạm đội số 7 đóng ở Okinawa kiểm soát vùng  phía Tây của Thái B́nh Dương và duyên hải Trung Quốc.

 

US Navy được trang bị 250 tàu chiến, 4000 phi cơ, 50 tàu ngầm loại tấn công, 11 hàng không mẫu hạm trong đó có chiếc mới  nhất USS Ronald Reagan vừa khánh thành và năm 2009 sẽ có chiếc USS George H. Bush…

 

Để bảo vệ Hoa Kỳ và khống chế thế giới, Ngũ Giác Đài chia thế giới thành 5 khu vực, mỗi khu vực được điều động bởi một số lực lượng trên và điều khiển bởi một bộ tham mưu khu vực.

Trung Quốc được đặt trong khu vực PACOM (US Pacific Command) gồm có :

-         6 hàng không mẫu hạm

-         60 tàu chiến trang bị tối tân

-         30 tiềm thủy đỉnh

-         1500 phi cơ chiến đấu

Ngoài PACOM, Mỹ c̣n trông cậy vào quân lực của Nhựt.

 

Bảng 8 : Bộ chỉ huy 5 khu vực quân sự của Mỹ trên thế giới

NorthCom

SouthCom

Châu Mỹ được chỉ huy bởi 2 bộ tham

Mưu : một Bắc Mỹ và một Nam Mỹ

 

EuCOM

gồm Tây Âu, Nga, Tây Phi và Nam Phi

 

CentCom

Central Command gồmTrung Đông,

Trung Á từ Afghanistan đến Pakistan, Bắc Phi, Soudan. Bộ chỉ huy nầy kiểm soát hai phần ba các giếng dầu của thế giới, vùng Hồng Hải và Ấn Độ Dương là đường chở dầu của Trung Quốc

 

PaCom

Pacific Command gồm vùng Thái B́nh Dương từ Ấn Độ đến Úc Châu

 

 

Trung Quốc và các quốc gia lân bang

Trung Quốc đang bị bao vây bởi hai cường quốc quân sự là Nga và Ấn Độ, hai cường quốc kinh tế và là đồng minh của Mỹ là Nhựt và Đại Hàn nếu không kể thêm Đài Loan, Phi-Luật-Tân. Những tranh chấp biên giới với các quốc gia nầy và những phong trào ly khai hay chống đối của các chủng tộc thiểu số ở Tây Tạng, Tân Cương, Mông Cổ gia tăng thêm những áp lực thường xuyên của Trung Quốc với các quốc gia lân bang.

 

-           Với Nhựt 

Trung Quốc đă b́nh thường hóa ngoại giao với Nhựt từ 1972 và hiện nay là một trong các quốc gia có nhiều thương vụ với Trung Quốc trong số các quốc gia ở Châu Á.

Tuy nhiên, mối bang giao giữa hai quốc gia luôn luôn căng thẳng v́ mối thù xưa và v́ những tranh chấp mới.

Năm 2005, dân Trung Quốc bạo động đốt phá các cửa hàng người Nhựt và biểu t́nh phản đối Nhựt v́ lẽ Nhựt chẳng những không chịu xin lỗi về những hành động bạo ngược mà họ đă gây ra cho dân Trung Quốc trong thời chiến tranh, mà c̣n biểu lộ sự xúc phạm dân Trung Quốc qua các sách giáo khoa.

Ngoài ra, Nhật và Trung Cộng c̣n tranh chấp giành chủ quyền quần đảo Senkaku (Trung hoa gọi là Diaoyu Tai), một vùng ven duyên của cả hai xứ và có nhiều quặng dầu khí. Trong các cuộc tranh chấp nầy, Hoa Kỳ đă đứng hẳn về phía Nhựt. Tổng Thống Bush đă thẳng thắn tuyên bố là đảng Cộng Sản đă giết hại hàng chục triệu dân Trung Quốc trong các cuộc cải cách ruộng đất, cách mạng văn hóa th́ phải xin lỗi dân của nước ḿnh trước đă.

Chuyện cũng dễ hiểu v́  hiện nay, Hoa Kỳ có 50 000 quân trên hàng chục căn cứ trên đất Nhật trong đó Okinawa là căn cứ của Đệ Thất Hạm Đội kiểm soát vùng Thái B́nh Dương. Nước Nhựt là tiền diện mặt trận của Mỹ và Guam là căn cứ phi cơ chiến lược khi Mỹ đụng độ với Trung Quốc.

 

Hoa Kỳ và Nhựt đă thiết lập bộ tham mưu hỗn hợp ở căn cứ Mỹ tại Yokota, nơi đó sẽ điều khiển cuộc chiến nếu xảy ra ở Đài Loan và Đại Hàn.

Tuy ngoài mặt, gần đây thủ tướng Nhật và Trung Quốc có  thăm viếng xă giao, nhưng cả hai ôm giữ mối thù không hóa giải, và cũng giống như Mỹ, Nhật và Trung Quốc luôn là hai bạn-thù.

 

-          Với Ấn Độ và Pakistan

 Cả hai nước Ấn Độ và Pakistan đều có cùng chung biên giới với Trung Quốc và đều có những tranh chấp biên giới với Trung Quốc. Với Pakistan, cọc biên giới đă được qui định từ 1965 nhưng với Ấn Độ, những cuộc đàm phán năm 1993,1995 và 1996, tuy chưa kết thúc nhưng hai nước tạm thời ḥa hoăn. Ân độ luôn luôn đ̣i Trung Quốc trả lại vùng đất Aksai Chin mà Trung Quốc đă cưỡng chiếm năm 1962.

Tây Tạng cũng là một vấn đề giữa Ấn-Trung bởi lẽ khi Đạt Lai Lạt Ma rời Tây Tạng để phản đối cuộc xâm lược của Trung Quốc năm 1959, Ấn Độ đă cho phép Đạt Lai lập tu viện ở Dharamsala trên đất Ấn. Tuy Ấn Độ trao đổi thương mại với Trung Quốc nhưng không mấy thân thiện, bởi lẽ Ấn có khuynh hướng gần với Mỹ  để giảm sức ép của Trung Quốc muốn làm bá chủ Á châu, và v́ Trung Quốc đă cung cấp vũ khí cho Pakistan là kẻ thù của Ấn.

 

        -          Với Nam Bắc Hàn

Trung Quốc và Đại Hàn (Nam Hàn) đều có kẻ thù chung là Nhật Bản (Nhật chiếm Triều Tiên từ 1910 đến 1945) nên cả hai xứ  trở nên đồng minh, cả hai đă phản đối việc Nhật trở thành hội viên thường trực của Hội Đồng Bảo An của Liên Hiệp Quốc. Dù Đại Hàn là đồng minh của Mỹ (nhiều căn cứ và 30 000 quân Mỹ trên Đại Hàn), quốc gia đang phát triển kỹ nghệ nầy không thể nào phản bội Trung Quốc v́ hai quốc gia có những tương đồng về văn hóa.

Trung Quốc cũng khoái trá khi Bắc Hàn, một quốc gia Cộng Sản đồng chí, đang làm Mỹ nhức đầu với các vơ khí nguyên tử mà Nga, Trung Cộng và Iran đă giúp đỡ phát triển từ hai thập niên qua.

T́nh đồng chí và đồng minh của hai quốc gia bé nhỏ trên bán đảo Triều Tiên xưa là một tiền đồn duyên hải phía Bắc của Trung Quốc.

 

Căn cứ xâu chuỗi ngọc (Collier de perles)

Trung Quốc đă bị Mỹ và Anh bao vây trên con đường chuyên chở dầu hỏa từ Phi Châu và Trung Đông về Trung Quốc, đặc biệt trong vùng Biển Trung Hoa. Những eo biển quan trọng (Suez, Ormuz, Malacca) đều ngoài ṿng ảnh hưởng của Trung Quốc.

Để bảo vệ con đường huyết mạch nầy, Trung Quốc đă hợp tác với nhiều quốc gia lân bang để thiết lập căn cứ chuỗi ngọc nối liền các hải cảng từ Trung Đông đến biển Nam Hải (Biển Trung Hoa)

- Tại Pakistan, Trung Quốc hợp tác trong việc xây dựng cảng Gwadar, cách biên giới Iran 72km, gần eo Ormuz, nối liền với vịnh Persique.

- Tại Chittagong (Bangladesh), Trung Quốc xây một hải cảng khổng lồ.

- Tại Miến Điện, Trung Quốc thiết lập một trung tâm liên lạc với các tàu ngầm và tàu chở dầu từ Ấn độ Dương đến eo Malacca.

- Tại Thái Lan, tuy là nơi có nhiều căn cứ của Mỹ, Trung Quôc cũng thành công trong việc đầu tư 20 tỉ mỹ kim để đào một con kinh xuyên qua bán đảo Kra, dự trù khi eo Malacca có trở ngại.

- Trung Quốc cũng đă kư một thỏa hiệp với Cambôt để xây một con đường sắt từ biên giới Hoa Nam ra biển.

- Và đảo Hải Nam là bộ chỉ huy hải lực và không lực để điều hành các hoạt động hàng hải của Trung Quốc trong vùng biển Trung Hoa.

 

Tranh chấp ranh giới với các lân bang              

Trung Quốc có 20 341 km ranh giới với 14 quốc gia, dài nhất thế giới. Các ranh giới nầy đă được ấn định trong thời gian từ 1858 đến 1945 bởi các đế quốc Tây phương và Nhật Bổn, thời kỳ mà người Trung Quốc gọi là « thế kỷ ô nhục »

Trừ hai hiệp ước giữa Trung Quốc và Liên Sô  kư kết năm 1689 và 1727, tất cả các thỏa uớc hay qui định biên giới với các quốc gia khác đều bị Trung Quốc đ̣i xét lại dựa vào nhiều yếu tố lịch sử, địa lư, nhân văn. Thí dụ biên giới giữa VN và Trung Hoa kư năm 1887 và 1895 với Pháp, giữa Lào và Trung Quốc kư năm 1895 cũng với Pháp, giữa Ấn độ và Trung Quốc kư với Anh và Tây Tạng năm 1895, 1904, 1906 và 1914 đều bị Trung Quốc phản đối. Những cuộc tranh chấp với các quốc gia nầy đă xảy ra từ 1960 đến nay và các ranh giới mới đă được ấn định lại hoặc bằng thương thuyết hay bạo lực, trừ với Ấn Độ,  và Bhoutan

 

            Bảng 9 : Thỏa ước biên giới giữa Trung Quốc và các lân bang

 

Ranh giới

Chiều dài(km)

Năm kư thỏa ước

Miến Điện

2 186

1965, 1994

Népal

1 236

1961

Bắc Hàn

1 334

1962

Mông Cổ

4 673

1962

Hồi Quốc

   523

1963

Afghanistan

     80

1963

Lào

    425

1991,1994

Việt Nam

 1 282

1999

Nga

2 978

   

1991, 2004

Kazakhstan

1 533

1994, 1996, 1998

Kirghizstan

   858

1996, 1999, 2002

Tadjikistan

   414

1999,2002

Bhoutan

   560

chờ đợi từ 1998

Ấn Độ

2 204

chờ đợi từ 1996

Những cuộc tranh chấp lănh thổ nầy đă hay sẽ tạo ra những khủng hoảng chính trị lớn nhỏ trong vùng.

Trường hợp như ngày 17-2-1979, Trung Quốc đă đưa 200 000 quân vượt biên giới để tấn công Việt Nam, sau 3 tuần rút quân để lại không biết bao nhiêu băi ḿn.

 

Tranh chấp hải đảo và lănh hải

Biển Trung Hoa (c̣n gọi là Đông Hải hay Nam Hải) là một trong những vùng biển rộn rịp nhất thế giới bởi lẽ 50% tàu chở dầu đi qua vùng nầy.

Nam Hải lại là vùng có nhiều mỏ dầu khí quan trọng mà các quốc gia ven duyên đang cần. Theo ước lượng của Trung Quốc, Nam Hải chiếm 8% tổng số lượng đánh cá và hải sản của thế giới và giá trị số  dầu hỏa, khí đốt có thể khai thác là  1000 tỉ mỹ kim.

Nhưng Nam Hải lại là vùng biển mà Trung Quốc yếu thế v́ hải quân yếu kém và nhiều căn cứ của Mỹ có mặt ở vùng nầy (Okinawa, Nhật, Đại Hàn) chỉ cách Trung Quốc không quá 500km.

Do đó, một trong những ưu tiên hàng đầu của Trung Quốc là phát triển hải quân. Chủ tịch Hố Cẩm Đào trong buổi họp với sinh viên ở Học Viện Hải Quân ngày 27/12/2006 đă tuyên bố : « Chúng ta phải cố gắng xây dựng một lực lượng hải quân nhân dân hùng mạnh có thể đáp ứng được sứ mạng lịch sử trong một thế kỷ mới và một thời kỳ mới »

(theo David Lague. « China airs ambitions to  beef up naval power » trong International Herald Tribune ngày 28/12/2006 www.iht.com/bin/print?id=4038159)

 

Nam Hải có nhiều quần đảo, c̣n hoang vu nhưng chứa đầy quặng mỏ, mà nhiều quốc gia trong vùng tranh nhau đ̣i chủ quyền. Những hải đảo mà Trung Quốc tranh chấp với Nhật là quần đảo Senkaku

(Trung Quốc gọi là Diaoyu), quần đảo Natura, với Việt Nam và các quốc gia khác là quần đảo Hoàng Sa (Îles Paracels, Trung quốc gọi là Tây Sa= Xinsha) và quần đảo Trường Sa (Îles Spratly, Trung Quốc gọi là Nam Sa= Nansha).

 

Kết luận

Trung Quốc là quốc gia của vĩ đại, cao cả và bạo tàn. Chính những bản chất nầy đă khiến Trung Quốc phải  trải qua những thời đại vinh quang lẫn tủi nhục. Sau hơn một thế kỷ bị trị và im ngủ, Trung Quốc đă trỗi dậy và Trung Quốc đang viết lại  lịch sử của thời kỳ hưng thịnh. Sự bùng nổ kinh tế của Trung Quốc trong ba thập niên qua là một thách thức những mô h́nh và lư thuyết kinh tế, tạo một ảnh hưởng, tốt và xấu, trên Trung Quốc và trên thế  giới. Trung Quốc đang khai thác thế giới và thế giới đang khai thác Trung Quốc.

 

Thật vậy, theo EPI (Earth Policy Institute, New York, avril 2005), nếu người Trung Quốc đạt được mức sống như người Mỹ hôm nay, vào năm 2031, thế giới sẽ không đủ sức nuôi sống cả nhân loại bởi lẽ chỉ Trung Quốc thôi, dân Trung Quốc sẽ tiêu thụ hai phần ba ngũ cốc, bốn phần năm số thịt của thế giới, chưa  kể hơn 20% tổng số dầu hỏa của thế giới hiện nay. Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế của Trung Quốc không thể được xem như một đe dọa, bởi lẽ, năm 2003, nhờ Trung Quốc, số xuất cảng của Nhựt đă phát triển 43%, của Đại Hàn 45% và của Đức  28%.  Riêng Hoa Kỳ, người tiêu thụ có thể tiết kiệm được 600 tỉ mỹ kim nhờ các hàng hóa Made in China.

 

Về phía Trung Quốc, sự phát triển kinh tế, nếu đem lại cho Trung Quốc một số cải thiện, nhưng lại phát  sinh nhiều khó khăn về phân cách xă hội, hủy hoại trầm trọng môi sinh, và ngay cho kinh tế cũng không bền vững nếu tiếp tục theo đường hướng hiện tại v́ lợi nhuận quốc gia càng lúc càng xuống thấp đồng thời với nhân lực và nhân phẩm của công nhân Trung Quốc.

 

Nếu bảo rằng Trung Quốc là một đe dọa, mối đe dọa nầy trước tiên  chính là cho Trung Quốc.

Đă đến lúc Trung Quốc cần duyệt lại chánh sách phát triển, t́m một phương hướng thích nghi lâu dài trên căn bản tôn trọng nhu cầu tiêu thụ và sản xuất, khả năng nhân lực và tài nguyên của Trung Quốc và của thế giới.

 

Ngoài ra, trên con đường phát triển, Trung Quốc đă gặp một nước bạn, nhưng đồng thời cũng là đối thủ, nếu không muốn nói là kẻ thù. Mỹ Quốc đă áp dụng chánh sách đấp đê ngăn chặn, lập hàng rào bao vây và cao ngạo với Trung Quốc.

 

Không có nước Mỹ, Trung Quốc không là hiểm họa, bởi lẽ không dại ǵ Trung Quốc dấn thân vào một cuộc chiến để bị cô lập và bị cấm vận nếu không bị tàn phá bởi kho vơ khí nguyên tử của Mỹ.

Nhưng có nước Mỹ,  Trung Quốc và Mỹ Quốc sẽ là hai hiểm họa của nhân loại bởi lẽ như Đặng Tiểu B́nh đă nói : Một ngọn núi không thể có hai con cọp.

Nhưng nghĩ cho cùng, thế giới hôm nay sống với bạo lực và bằng bạo lực, và bất cứ bạo lực nào cũng là hiểm họa của bạo động hay chiến tranh. Trong chiều hướng ấy, không phải chỉ có Trung Quốc và Mỹ Quốc trên danh sách đen.

 

Lâm Văn Bé

Montréal, tháng 12/2007

 

Sách tham khảo chính yếu

-          Jean– François Susbielle. Chine-USA, la guerre programmée. - Paris : First Éditions, 2006.

-          Frédéric Lasserre. L’éveil du dragon. - Sainte-Foy : Presses de l’Université du Québec, 2006.

-          La Chine à l’horizon 2020. - Paris : l’Harmattan, 2006.

-          La Chine nouvelle, petite encyclopédie Larousse. - Paris : Larousse, 2006.

-          Stéphanie Bessière. La Chine à l’aube du XXIè siècle. - Paris : L’Harmattan, 2005.

-          Charles Fishman. The Wal-Mart effect. - New York : Penguin, 2006.

-          L’état du monde 2006, 2007. Montréal : Découverte/Boréal, 2006, 2007.

-          Jean-Christophe Victor. Le dessous des cartes : atlas géopolitique. - Paris : Éditions Tallandier, 2006.

-          Philippe Richardot. Les États-Unis, hyperpuissance militaire. - Paris : Économica, 2002

-          Một số sites internet của chánh phủ Trung hoa và Viện Đại học Mỹ./.

 

 

              [NSLONGHOA]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TR̀NH HỘI ĐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ NSLONGHOA
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 04/27/08