Khi Trung Quốc là Nhà
Máy
Khổng
Lồ của Thế
Giới
Lâm Văn Bé
Từ
sau cuộc cách mạng kinh tế do Đặng Tiểu B́nh phát động vào
tháng 12 năm 1978, Trung Quốc đă được mang nhiều nhăn
hiệu, từ mầu nhiệm (miracle) đến ảo tưởng (illusion), từ
gánh nặng (fardeau) đến hiểm họa (menace). Ba mươi năm
phát triển kinh tế, Trung Quốc đă thay đổi diện mạo quốc
gia của họ và của thế giới trong lănh vực kinh tế và địa
chính trị, và từ đầu thế kỷ nầy, Trung Quốc được mệnh danh
là nhà máy toàn cầu (usine mondiale), danh xưng đă lần
lượt chiếm giữ bởi Anh Quốc, Hoa Kỳ và Nhựt trong hai thế
kỷ 19 và 20.
Từ một quốc gia nông nghiệp, chậm tiến
và cô lập, Trung Quốc đă trở nên một quốc gia kỹ nghệ và
được xếp vào hàng quốc gia phát triển kinh tế thứ tư trên
thế giới sau Hoa Kỳ, Đức, Nhựt và thứ hai thế giới về dự
trữ ngoại tệ sau Hoa Kỳ.
Trung Quốc đang khai thác thế giới,
đứng đầu số sản xuất hàng chục sản phẩm kỹ nghệ.
Trong năm 2005, Trung Quốc đă cung cấp
cho thị trường thế giới 90% DVD, 85% đồ chơi, 85% máy cày,
85% đồng hồ, 70% máy in, 65% dụng cụ thể thao, 69% xe đạp,
58% điện thoại, 55% máy ảnh, 55% máy điện toán cầm tay,
50% quạt máy, 40% ḷ vi ba (four micro-ondes), 36% TV, 30%
máy lạnh, 25% máy giặt, máy sấy, 20% tủ lạnh…
(L’éveil du dragon, p.267)
Tuy sản lượng kỹ nghệ của Trung Quốc
khổng lồ, dự trử ngoại tệ của Trung Quốc lên đến 1000 tỷ
mỹ kim, Trung Quốc có thực sự là một cường quốc kinh tế
hay chỉ là một nhà máy khổng lồ chỉ biết sản xuất theo
phiếu đặt hàng của các quốc gia kỹ nghệ.
Tuy lợi tức quốc gia PIB (Produit
intérieur brut) nhảy vọt từ 147 tỉ mỹ kim năm 1978 đến
8800 tỉ năm 2005, và lợi tức trung b́nh đồng niên của
người dân tăng từ 340 mỹ kim đến hơn 1000 mỹ kim cùng
trong thời gian ấy, Trung Quốc có thực sự là một quốc gia
phát triển bền vững và phú cường hay tiềm ẩn những tàn
phá thiên nhiên và bất b́nh đẳng xă hội mà trước hay sau
Trung Quốc phải trả giá.
Đối với thế giới, nếu chánh sách sản
xuất đại qui mô và giá hạ của Trung Quốc đă làm giảm lạm
phát và gia tăng sức tiêu thụ, Trung Quốc đă, đang và sẽ
mang lại những hậu quả khốc liệt nào trong vấn đề sử dụng
các nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân lực của Trung
Quốc và thế giới cũng như tạo nên những thay đổi nào trong
lănh vực địa chánh trị, mầm móng của cuộc chiến tranh lạnh
hay nóng.
Bài viết nầy, tổng hợp từ các tài liệu
mới nhất của các nhà nghiên cứu am tường vấn đề, nhằm
tŕnh bày diện mạo của nền kinh tế Trung Quốc và những hậu
quả của bước nhảy vọt kinh tế nầy đối với Trung Quốc và
thế giới, đặc biệt mối bang giao giữa Trung Quốc với Hoa
Kỳ và các quốc gia lân bang.
Sức mạnh kinh tế của Trung Quốc
Câu hỏi tiên quyết cần đặt ra, Trung
Quốc là cường quốc kinh tế hay chỉ là một quốc gia kỹ nghệ
và vị trí của Trung Quốc trong hàng ngũ các quốc gia nầy.
Câu trả lời tùy theo cách tính và tùy theo mục tiêu sử
dụng.
Nếu tính theo hối suất chính thức, lợi
tức quốc gia của Trung Quốc chỉ bằng một quốc gia Tây Âu,
chỉ chiếm 3,4% PIB của thế giới, đứng hàng thứ sáu, hơn Ư
nhưng thua xa Hoa Kỳ (22%) và Nhựt (10%).
Nhưng thực sự, sức mạnh kinh tế của
Trung Quốc quan trọng hơn rất nhiều nếu tính theo phương
pháp chuẩn hóa tiền tệ. Từ năm 1994, Trung quốc thả nổi
đồng nhân dân tệ (yuan) với một hối suất chính thức rất
thấp (1 mỹ kim = 8,28 yuans) để giữ giá hàng rẻ, xuất cảng
nhiều, dù Hoa Kỳ đă nhiều lần làm áp lực để Trung Quốc
phải tăng giá đồng yuan ( năm 2006, 1 mỹ kim = 8,06 yuan ;
năm 2007, 1 mỹ kim = 7,52 yuans).
Do đó, để tính sản lượng của Trung
Quốc (và các quốc gia khác) một cách chính xác và thống
nhất, Ngân hàng Thế giới (Banque mondiale) đă tính theo
một hối suất tiêu chuẩn gọi là PPA (parité pouvoir
d’achat, tiếng Anh gọi là PPP = purchasing power parity)
bằng cách định giá cùng một giỏ hàng và dịch vụ tính bằng
tiền địa phương và mỹ kim. Thí dụ một giỏ hàng trị giá 100
mỹ kim ở Mỹ và cùng giỏ hàng nầy trị giá 450 yuans ở Trung
Quốc, hối suất PPA như vậy là 1 mỹ kim bằng 4,5 yuans
trong khi hối suất chính thức ở ngân hàng Thượng Hải là
7,52 yuans. Nếu tính theo phương pháp nầy, Trung Quốc có
một PIB là 8 800 tỉ mỹ kim (11% của thế giới), đứng hàng
thứ hai sau Hoa Kỳ, vượt qua cả Nhựt.
Bảng 1 : Lợi tức của các quốc gia tính
theo hối suất PPA (năm 2005)
|
Quốc gia |
PIB
quốc gia |
PIB
người dân |
|
|
|
|
|
Hoa
Kỳ |
12
066 tỉ MK |
40 500 MK |
|
T.Quốc |
8
800 |
6
300 |
|
Nhựt |
3
820 |
29
500 |
|
Ân
Độ |
3
500 |
3
250 |
|
Đúc |
2
380 |
28
700 |
|
Pháp |
1
750 |
29
000 |
Source : Chine-USA, la guerre
programmée, p. 87
Và cũng theo phương pháp nầy, lợi tức
trung b́nh đồng niên của người Trung Hoa năm 2003 là 5 015
mỹ kim, đứng hàng 109 trong số 203 quốc gia trong bảng xếp
hạng, nhưng nếu tính theo hối đoái chính thức, PIB của
người dân chỉ có 1131 mỹ kim.
Sức mạnh kinh tế thực sự của Trung Quốc
có lẽ nằm giữa hai con số trên !!
Bảng 2 : Lợi tức thô (PIB brut)
của người dân Trung
Quốc (mỹ kim)
|
|
1980 |
1996 |
2000 |
2003 |
|
PIB |
300 |
543 |
692 |
1
131 |
|
PIB-PPA |
464 |
3
330 |
3
976 |
5
015 |
Bản chất sự phát triển kinh tế của
Trung Quốc
1- Ưu
thế trong các hàng hóa gia dụng
Mặc dù Trung Quốc được xếp hàng thứ tư
trong lănh vực sản phẩm kỹ nghệ, Trung Quốc chỉ có ưu thế
trong các loại hàng gia dụng và tiêu thụ, nhưng kém ưu thế
về kỹ nghệ nặng và kỹ nghệ trang bị máy móc. Và ngay trong
ưu thế, Trung Quốc chỉ là một nhà máy khổng lồ lắp ráp các
bộ phận chế biến từ các xứ kỹ nghệ hay sản xuất theo các
mẫu thiết kế sẵn bởi các xí nghiệp Âu Mỹ rồi xuất cảng trở
lại. Phương pháp sản xuất nầy trông có vẻ mầu nhiệm với số
sản xuất và xuất cảng khổng lồ, nhưng thực ra số lợi nhuận
rất khiêm tốn bởi lẽ nếu 55% số hàng hóa xuất cảng là hàng
lắp ráp th́ Trung Quốc phải nhập cảng vào 50% nguyên liệu
hay các bộ phận rời.
Bảng 3 : Nhập cảng và xuất cảng của
Trung Quốc (tỉ mỹ kim)
|
Năm |
Xuất cảng |
Nhập cảng |
|
2000 |
249 |
214 |
|
2001 |
266 |
232 |
|
2002 |
325 |
281 |
|
2003 |
438 |
394 |
|
2004 |
593 |
561 |
Source : David Burton et Anthony Boote.
Staff Report for the 2004,
Article IV Consultation, FMI, Washington.
Bảng thống kê trên cho chúng ta một
nhận định rơ rệt về kinh tế Trung Quốc, và nhiều nhà kinh
tế đă kết luận rằng cái nhiệm mầu thực sự chỉ là ảo
tưởng.
Chính v́ sở trường sản xuất các vật gia
dụng, rẻ tiền và một số máy móc nhẹ theo phương thức lắp
ráp, Trung Quốc xuất cảng ít hơn các loại máy móc và dụng
cụ hạng nặng là các sản phẩm có giá trị thặng dư (plus
value), sức mạnh kinh tế của Trung Quốc do đó thực sự chỉ
có bề mặt mà ít có bề sâu, và v́ vậy sự trao đổi hàng hóa
với các quốc gia kỹ nghệ rất bất lợi cho Trung Quốc. Thử
tưởng tượng muốn mua một chiếc Airbus 380, Trung Quốc phải
xuất cảng 800 triệu chiếc áo chemises, th́ với lợi nhuận
trung b́nh độ 50 tỉ mỹ kim mỗi năm, phải lâu lắm Trung
Quốc mới ngồi chung cùng hàng ngũ với các quốc gia thực sự
kỹ nghệ.
2- Ưu thế nhờ nhân công rẻ và đầu tư
ngoại quốc
Lợi khí siêu việt của Trung Quốc mà thế
giới sẽ không bao giờ cạnh tranh nổi là khối nhân công rẻ,
kỷ luật và chuyên cần. Cuộc cách mạng kinh tế của Đặng
Tiểu B́nh thực ra là giải tỏa nông nghiệp, phát triển công
nghiệp và kỹ nghệ để tạo công ăn việc làm cho một tỉ dân
Trung Quốc đói khổ trong thời đóng cửa của Mao. Với khối
nhân công đang khao khát việc làm, những đặc khu kinh tế
đă mở cửa để đón nhận đầu tư ngoại quốc là những yếu tố
thuận lợi cho cuộc bùng nổ kinh tế của Trung Quốc.
Bảng 4 : Đầu tư ngoại quốc
|
Năm |
Sản lượng
kỹ nghệ
(t́ yuans) |
Vốn ngoại
quốcđầu tư
(tỉ yuans) |
%
vốn
ngoại quốc
|
|
1990 |
1
970 |
50 |
2,3% |
|
1995 |
9
196 |
1
315 |
14,3% |
|
2000 |
7
396 |
2
315 |
22,5% |
|
2001 |
9
475 |
2
650 |
28% |
|
2002 |
10
120 |
3
377 |
33,4% |
Source : Ministère du
Commerce de Chine, citée dans L’éveil du dragon, p. 270
Hiện nay, theo thống kê của Trung Quốc
có 500 000 công ty có vốn đầu tư của ngoại quốc cung ứng
33,4% sản phẩm kỹ nghệ Trung Quốc và 55 % hàng xuất cảng.
Số vốn đầu tư của ngoại quốc tại Trung Quốc càng lúc càng
gia tăng như bảng thống kê trên xác nhận.
Bắt đầu năm 1991 với 5 tỉ mỹ kim, số
vốn đầu tư của các công ty ngoại quốc trên đất Trung Quốc
lên đến 60 tỉ mỹ kim năm 2005. Trong tổng số 500 tỉ mỹ
kim vốn của ngoại quốc cho đến nay, điều ngạc nhiên là
50% đến từ các quốc gia Á châu và Hong Kong, 9% của Mỹ, 8%
của Nhựt và 8% của khối Liên Hiệp Âu châu (Union
européenne).
Trong công cuộc hợp tác kinh tế giữa
Trung Quốc và ngoại quốc, tuy Trung Quốc đă phát triển
quốc gia trong nhiều lănh vực, biến Trung Quốc thành một
quốc gia kỹ nghệ chỉ trong hai thập niên, nhưng các quốc
gia đầu tư cũng lợi dụng thị trường Trung quốc và thế giới
để trục lợi theo các nguyên tắc của tư bản : tiền của tư
bản đi vào nhà máy, tiền của tư bản đi ra bằng hàng hóa.
Cái hào nhoáng khổng lồ, cái huyền thoại hư thực về một đe
dọa thế giới của Trung Quốc thực ra che dấu những hi sinh
cùng cực của đám nhân công làm việc trong những điều kiện
nô lệ và những tàn phá thiên nhiên mà các nhà lănh đạo
Cộng Sản và tư bản đỏ, v́ nhu cầu giai đoạn của đất nước
và quyền lợi cá nhân, phe nhóm đă cố t́nh lờ đi những con
số thiệt hại c̣n khổng lồ hơn số mỹ kim mà họ đang hồ hỡi
bỏ túi.
Một trong số các khách hàng và đồng
minh của Trung Quốc trong cách làm ăn chèn ép, khích động
người dân tiêu thụ nhiều nhưng là loại hàng rẻ tiền, phẩm
chất kém không ai khác hơn là Wal-Mart và các công ty khế
ước với Wal-Mart.
Năm 2005, Wal-Mart nhập cảng của Trung
Quốc 22 tỉ mỹ kim (10% tổng số nhập cảng của Hoa Kỳ) và số
nầy có thể lên đến 30 tỉ mỹ kim nếu phải kể thêm những
nhà sản xuất Hoa Kỳ nhưng đặt hàng ở Trung Quốc, từ cái
máy khoan tay Black & Decker đến các poupée Barbie. Nói
rơ hơn, 80% nhà cung cấp cho Wal-Mart xuất phát từ Trung
Quốc v́ ngoài Wal-Mart, các công ty khác trên xứ Mỹ cũng
đặt hàng ở Trung Quốc để bán cho Wal-Mart.
Lối làm ăn chèn ép của Wal-Mart lại
thích hợp với lối sản xuất của Trung Quốc bởi lẽ không
một quốc gia nào trên thế giới có thể cung cấp một khối
hàng khổng lồ trong một thời gian kỷ lục với một giá rẻ kỷ
lục. Hàng triệu công nhân Trung Quốc, kỷ luật, cần việc
làm, chấp nhận mọi điều kiện làm việc ngày đêm với một
đồng lương ít hơn 30 lần so với công nhân nước Mỹ đă đáp
ứng với công thức giá rẻ của Wal-Mart.
Để được giá rẻ, chánh phủ Cộng Sản và
tư bản đỏ đă bốc lột nhân công Trung Quốc một cách vô nhân
đạo.
Tại Quảng Đông, thành phố kỹ nghệ quan
trọng nhất của Trung Quốc, tiền lương của công nhân từ 15
năm qua, chẳng những không tăng mà c̣n giảm (năm 1992 :
chỉ số 100, năm 2004 : chỉ số 85) (theo L.Vallée.
Présentation du 11 mars 2005, Caisse de dépôt et placement
du Québec).
Cũng tại Quảng Đông, theo China Labor
Watch Dec. 21, 2005, công nhân trong các nhà máy sản xuất
đồ chơi phải đạt được chỉ tiêu là sơn 8900 đơn vị trong 8
giờ làm việc mới được trả $3,45 mỹ kim một ngày. Không
đạt được chỉ tiêu nầy, lương một ngày chỉ c̣n $1,23.
Lại một trường hợp khác trong muôn một,
công ty Chun Si Enterprise Handbag Factory ở Trung Sơn
(Zhongshan) gần Thượng Hải, 900 công nhân bị nhốt trong
ṭa nhà chật chội, làm việc 12 giờ chỉ được nghỉ 60 phút
để ăn, được trả 22 mỹ kim mỗi tháng nhưng phải hoàn lại
cho công ty 15 mỹ kim tiền ăn ở. Làm nô lệ một tháng để có
7 mỹ kim gởi về cho vợ con húp cháo cầm hơi. (theo The
Bully of Bentonville, p.189)
Đối với các xí nghiệp làm ăn với
Wal-Mart hay nói chung với đầu tư ngoại quốc, t́nh trạng
cũng chẳng có ǵ vẻ vang. Chánh sách mua ép giá của
Wal-Mart làm nhiều nhà sản xuất ít vốn điêu đứng. Ban đầu,
Wal-Mart tài trợ cho một số nhà sản xuất để trang bị nhà
máy rồi mua hàng. Sau vài năm, Wal-Mart dùng chiến thuật
chèn ép, khiến các nhà sản xuất địa phương cạnh tranh nhau
để hiến giá rẻ như Wal-Mart mong muốn. Để khỏi phải đóng
cửa, vỡ nợ, các công ty sản xuất phải bán phá giá, chế tạo
cẩu thả, rồi đằng nào cũng dẹp tiệm, ảnh hưởng đến nhân
công vốn đă đói rách.
Mức lời của xí nghiệp Trung Quốc càng
lúc càng thấp, chỉ từ 3 đến 5% (L’éveil du dragon, p.
276).
Về phương diện hợp tác kỹ thuật với các
công ty ngoại quốc, Trung Quốc thường chỉ đảm nhiệm giai
đoạn cuối cùng là thực hiện, lắp ráp theo mô h́nh, kiểu
mẫu do ngoại quốc ấn định. Giống như người thợ may chỉ
biết cắt, may để hoàn thành chiếc áo, Trung quốc không
tham dự các giai đoạn lư thú và quan trọng như nghiên cứu
thị trường, đặt kế họach, vẽ mô h́nh, khuyến măi. Nói
khác đi, vai tṛ của Trung quốc là người công nhân sản
xuất mà người Tây phương gọi văn vẻ là « người cổ xanh »
(col bleu). Liệu Trung Quốc có măi măi chấp nhận vai
tṛ khiêm tốn nầy với ḷng tự hào của một dân tộc phát
xuất từ cái nôi của nền văn minh cổ thế giới, của một
khối nhân lực thông minh hơn 1 tỉ người khi mà một poupée
Barbie sản xuất ở Trung Quốc với giá 2 mỹ kim được bán ở
Mỹ với giá 16 MK
Đó là mặt trái của sự lừa dối hào
nhoáng. Và nếu người Cộng Sản thường dùng câu nói bất hủ
của Lénine để đề cao sự khôn ngoan ưu việt của người Cộng
Sản : Tư bản bán cho chúng ta sợi dây để chúng ta treo
cổ chúng (Les capitalistes nous vendront la corde qui nous
servira à les pendre) th́ trước hiện tượng Cộng Sản bị
Tư Bản khai thác hay bốc lột, Trung Quốc nên tự hỏi ai
treo cổ ai ?
3 - Made in China và Made by China
Đó là một cách nói ví von để mô tả hai
thực trạng phát triển kinh tế của Trung Quốc.
Made in China
là Trung Quốc của những hàng hóa rẻ tiền, phẩm chất kém mà
chúng ta thường t́m gặp ở Dollarama, Wal-Mart, của các nhà
máy Trung Quốc phát triển với vai tṛ« cổ xanh » để đầu tư
ngoại quốc chia lợi nhuận với Trung Quốc trong công cuộc
khai thác thị trường Trung Quốc và thế giới.
Made in China đả
tạo nên nhiều xáo trộn xă hội và kinh tế tại nhiều quốc
gia kỹ nghệ, kể cả các quốc gia đang phát triển (thí dụ
Mexique trong 5 năm gần đây có 230 000 nhân công bị mất
việc) bởi nhiều xí nghiệp phải đóng cửa, gia tăng thêm
thất nghiệp, v́ không cạnh tranh nổi với nhân công Trung
Quốc. Riêng với Hoa kỳ, số thất nghiệp v́ Made in China
thật đáng ngại : năm 2003, Forester Research phỏng định
số người mất việc năm 2005 là 830 000 người và năm 2015 là
3,3 triệu. Golman Sachs lại c̣n bi quan hơn với con số 6
triệu vào năm 2014, trong khi Đại học Californie à
Berkeley ước lượng đến 10 triệu. Chuyện đáng tin v́ là
nghiên cứu của các cơ quan nghiêm túc.(theo University of
California Haas School of Business, press release. « UC
Berkeley study assesses potential impacts of second wave
of outsourcing jobs from US », 29, oct. 2003,
www.haas.berkeley.edu/news/20031029_outsourcing.)
Nhưng thực sự, sức mạnh của nền kinh tế
Trung Quốc « kinh khủng » hơn nhiều,
bởi ngoài 500 000 xí nghiệp có vốn ngoại quốc làm ăn theo
kiểu chụp giưt, Trung Quốc c̣n có 300 000 xí nghiệp trong
đó có 12 000 đại xí nghiệp quốc doanh hay tư nhân với hơn
nửa tỉ công nhân cần mẫn và một đội ngũ chuyên viên thông
minh và trách nhiệm (trong số 2,5 triệu sinh viên tốt
nghiệp đại học mỗi năm có 1,35 triệu kỹ sư !!) đă đem sức
cần lao và khối óc để canh tân Trung quốc với một vận tốc
và số lượng công tŕnh vĩ đại cũng như có mặt đẩu tư ở
khắp năm châu.
Made by China
chính là sức mạnh của con rồng trỗi dậy, là mối đe dọa của
thế giới mà các nhà kinh tế đă nhận định « thế kỷ 21 là
thế kỷ của Trung Quốc »
( rất nhiều sách báo gần đây khi nói về
Trung Quốc hay dùng danh từ The Chinese Century).
Mc Kinsey trong một nghiên cứu cho
Liên Minh Âu châu năm 2004 đă kết luận là trong nhiều
ngành sản xuất, Trung Quốc đă vượt qua năng suất của các
quốc gia phát triển và cả Âu châu. Tài liệu cho biết muốn
hoàn thành một chiếc chemise, người thợ Trung Quốc chỉ cần
12 phút trong khi người Ấn Độ cần 22 phút và người
Mexicain cần 30 phút. (L’éveil du dragon, p. 275)
Để nói lên sự phi thường của Trung Quốc
trong công tŕnh xây dựng cơ cấu hạ tầng, chỉ cần đan kể
vài thí dụ.
- Chỉ trong một năm 2004, Thượng Hải
xây một số nhà chọc trời bằng cả New York gộp lại.
- Chỉ trong 2 năm 2003-2004, Trung Quốc
thiết lập 192 000km xa lộ, trong khi suốt nửa thế kỷ trước
(1949-2002) họ chỉ xây được có 170 000km.
- Năm 2005, Trung Quốc có thêm 13 000
km đường hỏa xa, đặc biệt đường nối liền từ Tần Hải
(Qinghai) đến Lhassa(Tây Tạng) dài 1400km xuyên qua đèo
Tangula ở cao độ 5000m, một kỷ lục thế giới.
- Và một trong những công tŕnh vĩ đại
mà người Trung Quốc sắp hoàn thành là đập thủy điện Tam
Hiệp (Trois-Gorges). Sau Vạn Lư Trường Thành, Tam Hiệp là
đập thủy điện lớn nhất thế giới mà Trung Quốc tự hào là
một Vạn Lư Trường Thành của thế kỷ 21 v́ người ta có thể
nh́n thấy nó từ mặt trăng. Trung Quốc đầu tư 200 tỉ mỹ kim
để phát triển Thành Đô (Chongqing), thủ đô của Tứ Xuyên,
nằm bên cạnh đập Tam Hiệp, hiện nay dân số đă lên đến 30
triệu.
- Và chiếc cầu dài 36km, bắt ngang qua
sông Dương Tử sẽ là chiếc cầu dài nhất thế giới.
Nói chung, với tất cả những công tŕnh
và dự án trong nước, chỉ trong năm 2003, chánh phủ Trung
Quốc và đầu tư ngoại quốc đă tài trợ 200 tỉ mỹ kim, tương
đương với 10% sản lượng của Trung quốc hay ngân sách y tế
của Hoa Kỳ.(theo Joseph Kaln, New York Times, 19/20
Janvier, 2003)
Với gần một 1,5 tỉ nguời dân, Trung
Quốc là một thị trường lư tưởng không những của Trung Quốc
mà của thế giới. Trung Quốc hiện nay có 2,5 triệu nhăn
hiệu cầu chứng, cung cấp 80% nhu cầu tiêu thụ trong xứ.
Tuy Trung Quốc đă có những nhăn hiệu nổi tiếng như
Panda, Amoy, Lenovo, TCL…, nhưng việc quảng bá những
hiệu nầy để trở nên nổi tiếng như Sony. Toshiba, Microsoft
đ̣i hỏi nhiều kiên tŕ. Tuy nhiên, từ ngày Trung Quốc gia
nhập vào Tổ chức Thương Mại Quốc Tế (WTO), Trung Quốc đă
sử dụng cơ quan nầy vừa để bành trướng thị trường, vừa để
bảo vệ quyền lợi mà các quốc gia phát triển, trước sự đe
dọa của Trung Quốc, có khuynh hướng liên kết để chèn ép
Trung Quốc.
Mối đe dọa mà Trung Quốc thường úp mở
dùng làm lợi khí để làm ăn với khối tư bản là quyền làm
chủ các định chuẩn (normes, standards). Thử tưởng tượng
nếu ngày mai, 1 tỉ người tiêu thụ Trung Quốc quyết định
chọn lựa một máy xem DVD hay môt máy điện toán theo các
định chuẩn của Trung Quốc, định chuẩn nầy, bởi số lượng
người tiêu thụ, đương nhiên sẽ là định chuẩn của thế giới.
Những nạn nhân đầu tiên của định chuẩn mới nầy sẽ là kỹ
nghệ truyền thông, tin học, giải trí, hiện chế tạo theo
các định chuẩn đo lường cùa Anh Pháp, và các ông vua
Microsoft, Sony, Toshiba… phải thương thuyết với Chú Ba
nếu không muốn khánh tận. Và thử tưởng tượng hệ thống
truyền tin thế giới, các bộ quốc pḥng, các sinh hoạt lớn
nhỏ của con người sẽ bị ảnh hưởng liên lụy đến mức nào.
Trung Quốc đang áp dụng thái độ ôn hỏa (low profile) hầu
có th́ giờ cải thiện mức sống của ngươi dân để gia tăng
người tiêu thụ, khai thác thị trường thế giới để tích lũy
ngoại tệ, một thứ vũ khí cũng nguy hiểm như súng đạn, để
một ngày nào, xa hay gần, trực diện với Mỹ trên một chiến
trường do một trong hai nước khởi xướng.
Trung Quốc đi chinh phục thế giới
Với nhu cầu kỹ nghệ, Trung Quốc sử dụng
một phần lớn tài nguyên thiên nhiên của thế giới.
Năm 2005, Trung Quốc tiêu thụ 55%
ciment, 30% than đá, 35% thép, 25% nickel, 14% nhôm, 14%
đồng của thế giới.
Mối bận tâm lớn nhất của Trung Quốc là
dầu hỏa và chiến tranh lạnh hay nóng với Hoa Kỳ sẽ là vấn
đề nầy. Tuy số tiêu thụ dầu của người Trung Quốc chỉ bằng
1/12 dân Mỹ, nhưng v́ số dự trữ dầu của Trung Quốc cạn
dần, trong khi nhu cầu của một dân số đông và một nền kỹ
nghệ đang bùng nổ, do đó kể từ năm 1993, Trung Quốc đă
ngưng xuất cảng dầu và phải nhập cảng.
Hiện nay, Trung Quốc tiêu thụ mỗi ngày
từ 7 đến 8 triệu barils (1 baril =158,98 litres) đứng hạng
thứ hai sau Hoa Kỳ (20 triệu). V́ lẽ Trung Quốc chỉ sản
xuất được khoảng 3,5 triệu barils mỗi ngày, Trung Quốc
phải nhập cảng 60% từ Arabie Séoudite, Oman, Iran, Soudan,
Angola, Indonésie và Nga Sô.
Và trong nỗ lực t́m nguồn tiếp liệu dầu
hỏa, đồng thời bành trướng thế lực kinh tế, chánh trị,
Trung Quốc đă đầu tư và hợp tác với nhiều quốc gia Phi
Chậu và Trung Nam Mỹ. Trong công cuộc làm ăn nầy, Trung
Quốc đă đụng độ với Mỹ tại những vùng ảnh hưởng của Mỹ hay
với những quốc gia mà Mỹ kết án là quốc gia hung đồ (états
voyous) .
Thế giới gần đây đă nhỏ lệ v́ gần nửa
triệu sinh mạng đă chết đói ở Darfour, một vùng đất khô
cằn ờ phía Nam Soudan. Darfour là băi chiến trường giữa
chính phủ và quân giài phóng dân tộc Soudan (Mouvement
populaire de libération du Soudan MPLS) dưới sự điều khiển
của John Garang đă được huấn luyện trong lực lượng đặc
biệt của Mỹ ở Georgie cùng với sự trợ giúp của Tchad và
một số quốc gia lân bang của Soudan nhận vũ khí của Mỹ
Tháng giêng năm 2006, nhân danh chống
lại cuộc chiến tranh diệt chủng, Hoa Kỳ yêu cầu Liên Minh
Đại Tây Dương đem quân chiếm Darfour, dĩ nhiên Hoa Kỳ gánh
chịu phần lớn chi phí trong cuộc « viễn chinh » nầy.
Darfour chỉ là mặt trái của cuộc tranh
giành dầu hỏa. Darfour ở sát
nách Tchad là một quốc gia chư hầu của Mỹ, điều khiển bởi
Idriss Deby, vị tổng thống thối nát và là bạn hữu nghị với
Chevron, đại công ty dầu hỏa của Hoa Kỳ (Condolezza Rice
nguyên là cộng sự viên của Chevron). Chevron và Exxon
Mobil đă hoàn thành một đường dẫn dầu trị giá 3,7 tỉ mỹ
kim để đưa 160 000 barils mỗi ngày từ những giếng dầu ở
Doba, trung tâm của Tchad và gần với Darfour đến Kribi,
một thương cảng của Cameroun, để từ đó chở về các xưởng
lọc dầu ở Mỹ. Nhưng v́ chia chác không đồng đều lợi nhuận,
Deby phản đối. Paul Wolfowitz (tân giám đốc Ngân Hàng thế
giới, nguyên cố vấn của Bush, người đă chủ trương chiếm
Irak) cúp viện trợ cho Tchad. Để trả đủa, tháng 8 năm
2006, Deby trục xuất Chevron và Petronas, một công ty của
Mă Lai và Đài Loan, với lư do trốn thuế. Chính trong thời
điểm ấy, Trung Quốc tái lập bang giao với Tchad sau khi
đoạn giao với Tchad từ 1997, và tài trợ cho Tchad.
Tháng 11, 2006, Bắc Kinh trải thảm đỏ
để đón tiếp 40 lănh tụ các quốc gia Phi Châu, xác nhận
chánh sách hợp tác hữu nghị với các quốc gia trên một lục
địa gồm 53 quốc gia với 800 triệu dân mà từ nhiều thế kỷ
qua đă bị xâm chiếm, khai thác bởi các quốc gia da trắng.
Trái với chánh sách hống hách và thuộc
địa của Hoa Kỳ, và một số quốc gia Tây Âu, Trung Quốc khéo
léo áp dụng chánh sách cho vay không lời, hay không bảo
hiểm trong những dự án phát triển hạ tầng cơ sở, điện khí
hóa, huấn luyện kỹ thuật. Chỉ trong năm 2006, Trung Quốc
đầu tư hay tài trợ 10 tỉ mỹ kim cho Nigeria, Angola,
Mozambique và Ghana.

Hiện nay, Trung Quốc nhập cảng 30% số
dầu tiêu thụ từ Châu Phi. Công ty quốc doanh CNPC (China
National Petroleum Corporation) hợp tác với Nigeria và Nam
Phi để nhập cảng độ 175 000 barils dầu thô mỗi ngày. Tại
Soudan, CNPC khai thác gần nửa triệu barils mỗi ngày,
thiết lập một pipeline dài 1500km, dẫn dầu đến Port-Soudan
trên Hồng Hải để từ đó chuyển về Trung Quốc. Sự có mặt của
Trung Quốc trong biển nầy làm Hoa Kỳ và Do Thái ái ngại.
Ngoài ra, Trung Quốc c̣n có nhiều dự án khoan dầu tại
Guinée, Congo, Sao Tome & Principe, Mali.
Ngoài dầu hỏa, Trung Quốc c̣n nhắm vào
các quặng mỏ cần thiết cho kỹ nghệ : quặng đồng ở Zambie,
than đá ờ Nam Phi. Trong ṿng một thập niên, « sự có mặt
của Trung Quốc tại Châu Phi đă bùng nổ trông thấy », đó là
lời tuyên bố của Walter Kansteiner, thứ trưởng Mỹ đặc
trách các vấn đề Phi Châu.
Ngoài những chạm trán với Anh và Mỹ
trên lục địa đen, Trung Quốc c̣n đi thẳng vào Mỹ Châu La
Tinh mà dân biểu Dan Burton
đă tuyên bố là « sự xâm nhập của bạo quyền trong khu
vực ». Mỹ Châu La Tinh đang cần xây dựng hạ tầng cơ sở, và
nhiều quốc gia trong vùng chán ghét Mỹ nên sự có mặt
chuyên viên, tài trợ và chánh sách bang giao khôn khéo của
Trung Quốc đă khiến Trung Quốc cũng « đổ bộ » được vào
ṿng đai của Mỹ Quốc.
Năm 2005, Ba Tây, Argentine, Chili,
Pérou, Vénézuéla đă trải thảm đỏ đón tiếp chủ tịch Hồ Cẩm
Đào khi ông nầy tuyên bố sẽ đầu tư vào khu vực nầy 100 tỉ
mỹ kim trong ṿng 10 năm sắp đến.
Nhiều đại công tác hay dự án hợp tác
đă bắt đầu.
- Ba Tây cung cấp cho Trung Quốc 12
triệu barils dầu và Trung Quốc giúp Ba Tây xây đường sắt,
hải cảng. Công ty thép Trung Quốc Bao Steel đầu tư 1 tỉ mỹ
kim để khai thác các quặng mỏ.
- Tại Argentine, Trung Quốc khai thác
khí đốt, dầu hỏa và hợp tác các dự án về viễn thông, đường
sắt với số đầu tư trong ṿng 10 năm là 20 tỉ
- Tại Chili khai thác mỏ đồng, công
tŕnh xây cất đường sắt.
Một dự án với ba quốc gia trên là
Trung Quốc tài trợ thiết lập một hệ thống đường sắt xuyên
dăy núi Andes để nối liền ba xứ trên và ra các hải cảng
ven biển Thái B́nh Dương, bù lại họ không được quyền kiện
Trung Quốc trước Tổ chức Thương mại quốc tế (OMC)
- Với Venézuéla, Uruguay, Cuba, Trung
Quốc nhảy vào một địa hạt chiến lược là truyền thông.
Ngoài các nguồn cung cấp dầu hỏa từ các
quốc gia châu Phi, Trung Đông và châu Mỹ La Tinh mà việc
vận chuyển dầu phải đi qua các hải phận kiểm soát bởi
Anh-Mỹ (kinh Suez, các eo biển Ormuz trên vịnh Persique,
eo Bab el-Manded trên Hồng Hải, eo Malacca) và hơn nữa
Trung Quốc không có đủ tàu chở dầu (Trung Quốc chỉ có khả
năng chở 15% dầu nhập cảng bằng tàu dầu của Trung Quốc),
do đó Trung Quốc phải trông cậy vào các nguồn tiếp liệu ở
Trung Á, trên đất liền, để đề pḥng cuộc khủng hoảng khi
có chiến tranh với Mỹ.
- Với Kazathstan, Trung Quốc đă thiết
lập một ống dẩn dầu từ 2006 đưa dầu miền Trung Á về Trung
Quốc
Hiện nay, các quốc gia cung cấp dầu
hỏa cho Trung Quốc là :
-Angola, Iran, Arabie Séoudite,
Soudan mỗi nước độ 0,5 triệu barils mổi ngày
- Nga, Oman : mỗi nước độ 300 000
barils/mỗi ngày.
- Congo, Yémen, Équateur, Vénézuéla,
mỗi nước độ 150 000 barils mỗi ngày.
Source : Facts inc. China oil and gas
montly, 2006
Nhưng không phải Trung Quốc chỉ tạo thế
lực ở các nước chậm tiến. Trung Quốc không dừng bước ở các
sản phẩm rẻ tiền, phẩm chất kém, mà Trung Quốc đang len
lỏi vào thị trường các sản phẩm đắt tiền, phẩm chất cao
tại các quốc gia Âu châu. Các công ty của Trung Quốc
đang thực hiện 150 dự án lớn tại Anh, 80 tại Pháp và đang
hướng tới Đông Âu.
Theo thông tin chính thức của chính phủ
Trung Quốc, « trong năm 2006 có 10 000 xí nghiệp Trung
Quốc đầu tư 7,3 tỉ mỹ kim tại 160 quốc gia trên thế giới »
(Agence de press Xinhua ngày 10/09/2007)
Ngân hàng Thế giới cũng đă báo động :
« trước thập niên nầy, phân nửa số sản xuất quần áo các
loại sẽ nằm trong tay Trung Quốc….Trong tất cả mọi lănh
vực, từ kỹ nghệ nặng đến nhẹ, những nhu cầu, những phương
tiện và phương thức sản xuất đă được qui định. Tuần tự, kế
hoạch sẽ thực hiện… » (Chine-USA, la guerre proclamée,
p. 91)
Trung Quốc là kẻ thù số một của Mỹ
Kẻ thù số một của Mỹ không phải là
Al-Qaeda, chính là Trung Quốc. Để kềm hảm bước tiến của
Trung Quốc, Hoa kỳ đă đầu tư mỗi năm gần 10 tỉ mỹ kim để
thiết lập ṿng đai chống hỏa tiển và chánh phủ Bush đă
quyết định một ngân sách quốc pḥng hàng năm là 510 tỉ mỹ
kim, gấp hai lẩn thời Clinton.
Và muốn duy tŕ t́nh trạng khan hiếm
dầu hỏa của Trung Quốc, Hoa Kỳ chiếm Irak và các giếng
dầu. Và để chuẩn bị một cuộc thế chiến thứ ba (hay thứ tư
nếu kể cuộc chiến tranh lạnh giữa Mỹ và khối Cộng Sản bắt
đầu tháng 8,1945 và chấm dứt ngày 9 tháng 11 năm 1989,
ngày sụp đổ bức tường Bá Linh, là chiến tranh thứ ba), Mỹ
đă tăng cường nhiều căn cứ quân sự ở chung quanh Trung
Quốc, đặc biệt gần Nhựt và Đài Loan.
Ngày 12 tháng 8 năm 2005, Mỹ và Nhựt kư
một thỏa ước theo đó eo biển Đài Loan là « mục đích chiến
lược của hai nước » khi Trung Quốc thông qua « luật chống
ly khai » ngăn cấm việc Đài Loan tuyên bố độc lập.
Ngay cả với Ấn Độ là lân bang khổng lồ
của Trung Quốc ở phía Nam, Mỹ cũng liên kết để làm áp lực
với Trung Quốc bằng cách Mỹ bải bỏ chính sách cấm vận vơ
khí với Ấn Độ.
Từ 10 năm qua, Mỹ đă nhiều lần gây hấn
hay khủng bố tinh thần, nhưng Trung Quốc cam tâm nhịn
nhục, biết rằng chưa đủ khả năng để chống lại sức mạnh
quân sự của Mỹ. Trung Quốc đang nỗ lực sản xuất, củng cố
nội bộ, và kiện toàn cơ cấu chiến tranh để có ngày đối
diện với Mỹ trên mặt trận.
- Mỹ dội bom ṭa đại sứ Trung Quốc ở
Belgrade
Ngày 7 tháng 9 năm 1999, một phi cơ
B-52 của Mỹ ném 5 trái bom vào ṭa đại sứ của Trung Quốc ở
Belgrade làm thiệt mạng và gây thương tích cho hơn 20 nhân
viên. Tuy Mỹ viện dẫn lư do trở ngại kỹ thuật, dù rằng phi
cơ được hướng dẩn bằng GPS cực kỳ chính xác, lư do thực
sự, theo các nhà quan sát chính trị, là Mỹ muốn cảnh cáo
Trung Quốc v́ Trung Quốc đă phản đối sự can thiệp quân sự
của Liên Minh Bắc Đại Tây Dương (OTAN) do Mỹ chủ tŕ để
tấn công Kosovo, phe của lănh tụ người Serbe là Slobodan
Milosevic, hơn nữa Mỹ nghi ngờ Trung Quốc chuyển giao các
tin tức gián điệp cho phe Serbe.
Chi Haotian, Chủ tịch Ủy Ban Quốc Pḥng
tuyên bố là chiến tranh với Mỹ sẽ không tránh được v́ nước
Mỹ dùng bạo quyền để áp đặt quan điểm của Mỹ trên thế
giới.
- Trung Quốc bắn hạ phi cơ thám
thính của Mỹ
Ngày 1 tháng tư năm 2001, một máy bay
gián điệp EP-3 của Mỹ, trang bị đầy đủ tất cả các dụng cụ
thám thính bị hai phi cơ F-8 của Trung Quốc chận bắt trong
một vùng mà Trung Quốc cho là trong hải phận (c̣n Mỹ th́
cho là trong hải phận quốc tế, cách hải phận Trung Quốc 32
hải lư= 60 km). Trong khi tẩu thoát, EP-3 bắn cháy một
F-8, nhưng EP-3 bị rơi ở đảo Hải Nam.
Phi hành đoàn gồm 24 người bị giam giữ
11 ngày trong khi chờ đợi thơ xin lỗi của TT Bush, nhưng
chiếc phi cơ bị giữ lại ba tháng, tha hồ cho Trung Quốc
lục soát và các kỹ sư Trung Quốc học hỏi kỹ thuật của Mỹ.
Trong thời gian khủng hoảng, hai quốc
gia lên cơn sốt : dân chúng Mỹ biểu t́nh đỏi thả phi hành
đoàn và trả phi cơ, và hàng triệu dân Trung Quốc sau đó
cũng xuống đường reo ḥ ăn mừng ngày 9 tháng 11 khi hai
cao ốc World Trade bị Al-Queda đánh phá.
- Mỹ bán vơ khí cho Đài Loan
Cũng trong tháng 4, 2001, liền sau vụ
phi cơ thám thính, chánh phủ Bush cho phép bán cho Đài
Loan nhiều vơ khí tấn công tối tân như phi cơ gián điệp,
tàu ngầm, thủy lôi và có thể phi cơ trang bị đầu đạn
nguyên tử Aegis. Quyết định nầy là một thách thức với
Trung Quốc, thay đổi hoàn toàn chánh sách Taiwan Relations
Act năm 1978 theo đó Đài Loan chỉ được quyền trang bị vơ
khí tự vệ. Hoa Kỳ c̣n hăm dọa Trung Quốc là sẽ bằng mọi
cách giúp cho Đài Loan có khả năng chống trả các cuộc xâm
lăng
- Mỹ ngăn chặn các thương vụ của
Trung Quốc trên đất Mỹ
Ngoài những tranh chấp ngấm ngầm hay
công khai trong việc khai thác dầu hỏa ở Phi châu và Mỹ
Châu La Tinh, Trung Quốc c̣n bị Mỹ dùng quyền lực ngăn
chận bước tiến trong các thương vụ trên đất Mỹ, điều hiếm
có trong sinh hoạt kinh tế thị trường.
Haier (Hải Nhĩ) là một đại công ty sản
xuất máy giặt và máy sấy đứng hàng đầu của Trung Quốc, vốn
là hậu thân của một công ty Đức đă không mua được công ty
Maytag, dù với giá cao hơn (1,3 tỉ MK), v́ sự cấu kết của
chánh phủ Mỹ và nhóm Whirlpool.
Và Trung Quốc phải nuốt hận khi Quốc
Hội Mỹ đă can thiệp ngăn chận công ty Unocal, một công ty
dầu lửa khổng lồ của Mỹ không được bán cho Công ty dầu khí
CNOOC (China National Off shore Oil Corporation) dù công
ty nầy chịu trả giá 18,5 tỉ mỹ kim cao hơn công ty
Chevron.
Và gần đây, chiến dịch tẩy chay một số
hàng hóa Trung Quốc vi lư do thiếu vệ sinh hay chứa hóa
chất nguy hiểm cũng chỉ là đ̣n khủng bố của Mỹ trước sức
mạnh kinh tế của Trung Quốc. Ai lại chẳng rơ là cơ quan
Thực Phẩm Liên Bang của Hoa Kỳ kiểm soát nghiêm nhặt các
kiện hàng nhập cảng trước khi bán ra cho người tiêu thụ và
những hàng không đúng tiêu chuẩn bị trả lại hay hủy bỏ.
Thủ tục áp dụng từ bao giờ cho tất cả mọi loại hàng, mọi
quốc gia th́ cớ sao bỗng nhiên trở nên một « đe dọa cho
sức khỏe » của người dân trong dư luận. Phải chăng vấn đề
trở nên nguy hiểm hơn hay Hoa Kỳ muốn khủng bố tinh thần
Trung Quốc trước thềm của Thế Vận Hội 2008 mà Trung Quốc
đang dốc toàn lực để ra mắt thế giới.
Tuy Trung Quốc có trừng phạt vài vật tế
thần để trấn an dư luận, nhưng chắc chắn Mỹ không dám đẩy
xa chiến dịch bởi lẽ, một đằng, Wal-Mart và đàn em cùng
với 300 triệu người tiêu thụ xứ Mỹ không thể một sớm một
chiều quên Made in China, và đằng khác, Trung Quốc, tuy
nhịn nhục, nhưng khi tức nước vở bờ, sẽ tháo khoán 700 tỉ
công khố phiếu của Mỹ mà Trung Quốc hiện đang nắm giữ th́
Mỹ sẽ là nạn nhân đầu tiên trong cuộc khủng hoảng kinh tế
thế giới.
Đặng Tiểu B́nh có nhiều câu nói ví von
mà đàn em và dân chúng thường dẩn chứng như khuôn vàng
thước ngọc. « Một ngọn núi không thể có hai con cọp » là
một trong những sách lược của họ Đặng mà Trung Quốc đang
chuẩn bị để giành trọn ngọn núi.
Trung Quốc và Mỹ chuẩn bị bộ máy chiến
tranh
Để chuẩn bị cho cuộc thư hùng khi không
thể tránh được, Trung Quốc và Mỹ đang thi đua vơ trang lực
lượng. Dĩ nhiên, nước Mỹ đă trang bị và đă tham chiến trực
tiếp hay gián tiếp trên nhiều chiến trường từ hơn nửa thế
kỷ nay, kinh nghiệm và lực lượng quân sự hùng mạnh của Mỹ
là yếu tố khiến Trung Quốc nhịn nhục trong thời gian tổ
chức bộ máy chiến tranh.
Ngân sách quốc pḥng của Mỹ
Từ khi Bush lên cầm quyền, ngân sách
quốc pḥng gia tăng mỗi năm. Năm 2006, ngân sách chính
thức là 430 tỉ mỹ kim, nhưng nếu phải cộng thêm các chi
tiêu khác như chiến tranh Afghanistan và Irak (80 tỉ),
chương tŕnh phát triển quân sự ṿng đai (40 tỉ), an ninh
quốc nội (40 tỉ), hưu bổng cựu chiến binh (60 tỉ), nghiên
cứu và tài trợ các cơ quan khác như bộ Tư Pháp, NASA…,
tổng số ngân sách quốc pḥng của Mỹ năm 2006 lên hơn 700
tỉ, chiếm 70% chi phí quân sự của thế giới. Hai nước sau
Mỹ là Nga và Trung Quốc chỉ chi tiêu cho mỗi nước không
quá 10% số tiền khổng lồ của Mỹ.
Bảng 5 : Ngân sách quốc
pḥng của Mỹ (tỉ MK)(tỉ MK)
|
Ngân
sách |
2001 |
2002 |
2003 |
2004 |
2005 |
2006 |
|
1 |
305 |
348 |
396 |
399 |
420 |
430 |
|
2 |
|
|
460 |
465 |
500 |
510 |
|
3 |
|
|
|
|
750 |
780 |
1- Ngân sách chính
thức
2- Ngân sách kể cả
chi phí ở Afghanistan & Irak
3- Ngân sách toàn thể
(phỏng chừng)
(Source :
Chine-USA, la guerre programmée, p. 249)
Bàng 6 : Chi phí chiến
tranh Irak và Afghanistan (tỉ MK)
|
|
2001-2007 |
2008 (dự trù) |
Tổng cộng |
|
Irak |
450,4 |
116,3 |
566,7 |
|
Afghanistan |
126,7 |
30,8 |
157,4 |
|
An
ninh |
28,1 |
0,5 |
28,6 |
|
Nơi
khác |
5,5 |
|
5,5 |
|
Tổng số |
610,5 |
147,5 |
758,1 |
Dĩ nhiên, với một lợi tức quốc gia 13 000
tỉ th́ chi phí nầy có là bao, nhưng nếu đem so sánh với các
chi phí khác của nước Mỹ cùng trong thời gian ấy, phải hiểu
rằng đó là giá quá đắt cho ḷng tự phụ của một dân tộc mà
hơn 30 triệu người dân c̣n sống dưới ngưỡng nghèo.
Ngân sách quốc pḥng của Trung Quốc
Từ năm 1996, ngân sách quốc pḥng của
Trung Quốc tăng mỗi năm độ 15%, chủ yếu để phát triển các vũ
khí chiến lược.
Bạch thư của Trung Quốc về vấn đề quốc
pḥng tựa là « Quốc Pḥng năm 2006 » nhấn mạnh đến sự lo
ngại của Bắc Kinh trước thái độ hung bạo của Mỹ ở Trung Đông
và thế giới, đặc biệt với chánh sách bao vây của Mỹ đối với
Trung Quốc bằng những liên minh quân sự với các lân bang của
Trung Quốc như Nhựt Bổn, Đại Hàn, Ấn Độ, Pakistan, Népal,
Afghanistan và nhiều quốc gia ở Trung Á. Trung Quốc phải có
phản ứng với chánh sách bao vây nầy. Ngân sách quốc pḥng
năm 2006 sẽ là 36,4 tỉ mỹ kim.
(Source :Mondialisation
www.mondialisation.ca,
article de John Chan le 30 août 2007)
Đầu tháng 8 năm 2007, tại Quốc Hội, Chủ
tịch Hồ Cẩm Đào, trong khi tŕnh bày ngân sách quốc pḥng
năm 2007 là 44,94 tỉ mỹ kim đă quyết liệt hơn :
«… chúng ta sẽ tăng ngân sách quốc
pḥng liên tục dựa trên tăng trưởng kinh tế của quốc gia để
canh tân quân lực hầu thỏa măn nhu cầu bảo vệ quốc gia và
phục vụ quyền lợi của đất nước…Thế giới hôm nay có lắm thay
đổi, Trung Quốc luôn phải đề cao cảnh giác để đối phó với
những hiểm nguy » (Theo Cơ quan thông tấn của chánh phủ
Xinhua, 01-08-2007 –
www.china.org.cn)
Đó là con số chính thức, nhưng theo CIA,
chi phí quân sự của Trung Quốc từ 60 đến 70 tỉ.
Lực lượng quân sự Trung Quốc và Hoa Kỳ
Tuy Trung Quốc c̣n non yếu về vũ khí hạch
tâm ( 200 so với Hoa kỳ có 10 000) và hỏa tiển xuyên lục địa
(200 so với Hoa Kỳ 830), nhưng với một đạo quân 2,5 triệu
người, không kể 1,5 triệu cảnh sát vơ trang và nhất là gần
đây, tháng 1 năm 2007, Trung Quốc đă thành công trong việc
phóng hỏa tiển chống vệ tinh, đe dọa trực tiếp vô số hành
tinh gián điệp của Mỹ, (hỏa tiển của Trung Cộng mà Mỹ đặt
tên là SC-19 đă bắn trúng một vệ tinh của Mỹ ở cao độ 760
km), điều nầy đă khiến Mỹ vô cùng lo ngại. Đài Loan và Nhật
Bổn bị đe dọa, không c̣n là tiền đồn an toàn của Mỹ.
Theo bản báo cáo của Bộ Quốc Pḥng Mỹ th́
hiện nay, sức mạnh quân sự đă lớn mạnh và có khả năng tấn
công căn cứ và tàu Mỹ trên Thái B́nh Dương.
Đến cuối năm 2006, Trung Quốc đă chế tạo
được 60 hỏa tiển xuyên lục địa loại Deng Feng 32 có thể bắn
đến Âu châu và lục địa Mỹ không kể các loại hỏa tiển tầm xa
LRBM ( Long Range Balistic missiles). Trung Quốc cũng đă có
các vũ khí có đầu đạn nguyên tử có thể bắn xa đến 1000 dặm
gọi là MARV (Maneuvrable re-entry vehicle).
Trung Quốc cũng đă trang bị các tàu ngầm
nguyên tử và đang xây một hàng không mẫu hạm theo kiểu
Varyag mua của Ukraine.
Tuy nhiên, nếu so sánh quân lực của Trung
Quốc và Hoa Kỳ, sự cách biệt c̣n rất lớn giữa hai quân lực
là một yếu tố kềm hăm ư đồ bành trướng kinh tế và lănh thổ
mà Trung Quốc có khuynh hướng muốn tái lập chủ thuyết
Monroe trên Châu Á.
Bảng 7 : Vài con số về quân lực Trung
Quốc và Hoa Kỳ
|
Lực
lượng |
Trung Quốc(1) |
Hoa
Kỳ (2) |
|
Quân
số |
2,5M
chính quy
1,5M
trừ bị |
2,9M
chính quy và trừ bị |
|
Vũ khí
qui ước |
|
|
|
Lục quân(a) |
13 080
xe tank
và tác
chiến |
-
10 000 chiến xa
-
32 000 xe tanks
-
9 000 súng nặng
-
6 000 trực thăng |
|
Hải
quân(b) |
-Tàu
ngầm : 53
-Chiến
hạm các loại : 711 |
- Tàu
ngầm : 73
-
Chiến hạm lớn: 232
-
Chiến hạm : 3700
- Hàng
không mẫu hạm :12 |
|
Không
quân |
Phi
cơ quân sự các loại : 1700 |
-Phi
cơ chiến đấu : 2400
-Phicơđặcbiệt : 2000 |
|
Vũ khí
không qui ước
|
đầu
đạn nguyên tử : 200 |
- đâu
đạn ngtử :2000
-vệ
tinh quốc pḥng : 75 |
(Sources : - Les Etats-Unis
hyperpuissance militaire
- La Chine nouvelle)
Chú thích
1- thống kê
2003 2- thống kê 2001
(a)- Lục quân (Land forces) của Mỹ gồm 3
thành phần : US Army, National Guard và US Marine Corps điều
khiển bởi Joint Force Commander thường là chỉ huy trưởng của
Army.
(b)- Hải quân (US Navy) của Mỹ là lực
lượng duy nhất được điều động bởi Tổng thống không qua Quốc
hội và khống chế trên các hải phận của thế giới :
- Hạm đội số 2 và 3 bảo vệ hai mặt Thái
B́nh Dương và Đại Tây Dương của lục địa Mỹ Châu.
- Hạm đội số 5 đóng ở Barhein kiểm soát
vùng vịnh
Persique và bảo vệ Trung Đông
- Hạm đội số 6 đóng ở Gaeta (Ư) kiểm soát
Địa Trung Hải.
- Hạm đội số 7 đóng ở Okinawa kiểm soát
vùng phía Tây của Thái B́nh Dương và duyên hải Trung Quốc.
US Navy được trang bị 250 tàu chiến, 4000
phi cơ, 50 tàu ngầm loại tấn công, 11 hàng không mẫu hạm
trong đó có chiếc mới nhất USS Ronald Reagan vừa khánh
thành và năm 2009 sẽ có chiếc USS George H. Bush…
Để bảo vệ Hoa Kỳ và khống chế thế giới,
Ngũ Giác Đài chia thế giới thành 5 khu vực, mỗi khu vực được
điều động bởi một số lực lượng trên và điều khiển bởi một bộ
tham mưu khu vực.
Trung Quốc được đặt trong khu vực PACOM
(US Pacific Command) gồm có :
-
6 hàng không mẫu hạm
-
60 tàu chiến trang bị tối tân
-
30 tiềm thủy đỉnh
-
1500 phi cơ chiến đấu
Ngoài PACOM, Mỹ c̣n trông cậy vào quân
lực của Nhựt.
Bảng 8 : Bộ chỉ huy 5 khu vực quân sự của
Mỹ trên thế giới
|
NorthCom
SouthCom |
Châu
Mỹ được chỉ huy bởi 2 bộ tham
Mưu :
một Bắc Mỹ và một Nam Mỹ
|
|
EuCOM |
gồm
Tây Âu, Nga, Tây Phi và Nam Phi
|
|
CentCom |
Central Command gồmTrung Đông,
Trung
Á từ Afghanistan đến Pakistan, Bắc Phi, Soudan. Bộ chỉ
huy nầy kiểm soát hai phần ba các giếng dầu của thế
giới, vùng Hồng Hải và Ấn Độ Dương là đường chở dầu của
Trung Quốc
|
|
PaCom |
Pacific Command gồm vùng Thái B́nh Dương từ Ấn Độ đến Úc
Châu
|
Trung Quốc và các quốc gia lân bang
Trung Quốc đang bị bao vây bởi hai cường
quốc quân sự là Nga và Ấn Độ, hai cường quốc kinh tế và là
đồng minh của Mỹ là Nhựt và Đại Hàn nếu không kể thêm Đài
Loan, Phi-Luật-Tân. Những tranh chấp biên giới với các quốc
gia nầy và những phong trào ly khai hay chống đối của các
chủng tộc thiểu số ở Tây Tạng, Tân Cương, Mông Cổ gia tăng
thêm những áp lực thường xuyên của Trung Quốc với các quốc
gia lân bang.
-
Với Nhựt
Trung Quốc đă b́nh thường hóa ngoại giao
với Nhựt từ 1972 và hiện nay là một trong các quốc gia có
nhiều thương vụ với Trung Quốc trong số các quốc gia ở Châu
Á.
Tuy nhiên, mối bang giao giữa hai quốc
gia luôn luôn căng thẳng v́ mối thù xưa và v́ những tranh
chấp mới.
Năm 2005, dân Trung Quốc bạo động đốt phá
các cửa hàng người Nhựt và biểu t́nh phản đối Nhựt v́ lẽ
Nhựt chẳng những không chịu xin lỗi về những hành động bạo
ngược mà họ đă gây ra cho dân Trung Quốc trong thời chiến
tranh, mà c̣n biểu lộ sự xúc phạm dân Trung Quốc qua các
sách giáo khoa.
Ngoài ra, Nhật và Trung Cộng c̣n tranh
chấp giành chủ quyền quần đảo Senkaku (Trung hoa gọi là
Diaoyu Tai), một vùng ven duyên của cả hai xứ và có nhiều
quặng dầu khí. Trong các cuộc tranh chấp nầy, Hoa Kỳ đă đứng
hẳn về phía Nhựt. Tổng Thống Bush đă thẳng thắn tuyên bố là
đảng Cộng Sản đă giết hại hàng chục triệu dân Trung Quốc
trong các cuộc cải cách ruộng đất, cách mạng văn hóa th́
phải xin lỗi dân của nước ḿnh trước đă.
Chuyện cũng dễ hiểu v́ hiện nay, Hoa Kỳ
có 50 000 quân trên hàng chục căn cứ trên đất Nhật trong đó
Okinawa là căn cứ của Đệ Thất Hạm Đội kiểm soát vùng Thái
B́nh Dương. Nước Nhựt là tiền diện mặt trận của Mỹ và Guam
là căn cứ phi cơ chiến lược khi Mỹ đụng độ với Trung Quốc.
Hoa Kỳ và Nhựt đă thiết lập bộ tham mưu
hỗn hợp ở căn cứ Mỹ tại Yokota, nơi đó sẽ điều khiển cuộc
chiến nếu xảy ra ở Đài Loan và Đại Hàn.
Tuy ngoài mặt, gần đây thủ tướng Nhật và
Trung Quốc có thăm viếng xă giao, nhưng cả hai ôm giữ mối
thù không hóa giải, và cũng giống như Mỹ, Nhật và Trung Quốc
luôn là hai bạn-thù.
-
Với Ấn Độ và Pakistan
Cả hai nước Ấn Độ và Pakistan đều có
cùng chung biên giới với Trung Quốc và đều có những tranh
chấp biên giới với Trung Quốc. Với Pakistan, cọc biên giới
đă được qui định từ 1965 nhưng với Ấn Độ, những cuộc đàm
phán năm 1993,1995 và 1996, tuy chưa kết thúc nhưng hai nước
tạm thời ḥa hoăn. Ân độ luôn luôn đ̣i Trung Quốc trả lại
vùng đất Aksai Chin mà Trung Quốc đă cưỡng chiếm năm 1962.
Tây Tạng cũng là một vấn đề giữa Ấn-Trung
bởi lẽ khi Đạt Lai Lạt Ma rời Tây Tạng để phản đối cuộc xâm
lược của Trung Quốc năm 1959, Ấn Độ đă cho phép Đạt Lai lập
tu viện ở Dharamsala trên đất Ấn. Tuy Ấn Độ trao đổi thương
mại với Trung Quốc nhưng không mấy thân thiện, bởi lẽ Ấn có
khuynh hướng gần với Mỹ để giảm sức ép của Trung Quốc muốn
làm bá chủ Á châu, và v́ Trung Quốc đă cung cấp vũ khí cho
Pakistan là kẻ thù của Ấn.
- Với Nam Bắc Hàn
Trung Quốc và Đại Hàn (Nam Hàn) đều có kẻ
thù chung là Nhật Bản (Nhật chiếm Triều Tiên từ 1910 đến
1945) nên cả hai xứ trở nên đồng minh, cả hai đă phản đối
việc Nhật trở thành hội viên thường trực của Hội Đồng Bảo An
của Liên Hiệp Quốc. Dù Đại Hàn là đồng minh của Mỹ (nhiều
căn cứ và 30 000 quân Mỹ trên Đại Hàn), quốc gia đang phát
triển kỹ nghệ nầy không thể nào phản bội Trung Quốc v́ hai
quốc gia có những tương đồng về văn hóa.
Trung Quốc cũng khoái trá khi Bắc Hàn,
một quốc gia Cộng Sản đồng chí, đang làm Mỹ nhức đầu với các
vơ khí nguyên tử mà Nga, Trung Cộng và Iran đă giúp đỡ phát
triển từ hai thập niên qua.
T́nh đồng chí và đồng minh của hai quốc
gia bé nhỏ trên bán đảo Triều Tiên xưa là một tiền đồn duyên
hải phía Bắc của Trung Quốc.
Căn cứ xâu chuỗi ngọc (Collier de perles)
Trung Quốc đă bị Mỹ và Anh bao vây trên
con đường chuyên chở dầu hỏa từ Phi Châu và Trung Đông về
Trung Quốc, đặc biệt trong vùng Biển Trung Hoa. Những eo
biển quan trọng (Suez, Ormuz, Malacca) đều ngoài ṿng ảnh
hưởng của Trung Quốc.
Để bảo vệ con đường huyết mạch nầy, Trung
Quốc đă hợp tác với nhiều quốc gia lân bang để thiết lập
căn cứ chuỗi ngọc nối liền các hải cảng từ Trung Đông
đến biển Nam Hải (Biển Trung Hoa)
- Tại Pakistan, Trung Quốc hợp tác trong
việc xây dựng cảng Gwadar, cách biên giới Iran 72km, gần eo
Ormuz, nối liền với vịnh Persique.
- Tại Chittagong (Bangladesh), Trung Quốc
xây một hải cảng khổng lồ.
- Tại Miến Điện, Trung Quốc thiết lập một
trung tâm liên lạc với các tàu ngầm và tàu chở dầu từ Ấn độ
Dương đến eo Malacca.
- Tại Thái Lan, tuy là nơi có nhiều căn
cứ của Mỹ, Trung Quôc cũng thành công trong việc đầu tư 20
tỉ mỹ kim để đào một con kinh xuyên qua bán đảo Kra, dự trù
khi eo Malacca có trở ngại.
- Trung Quốc cũng đă kư một thỏa hiệp với
Cambôt để xây một con đường sắt từ biên giới Hoa Nam ra
biển.
- Và đảo Hải Nam là bộ chỉ huy hải lực và
không lực để điều hành các hoạt động hàng hải của Trung Quốc
trong vùng biển Trung Hoa.
Tranh chấp ranh giới với các lân
bang
Trung Quốc có 20 341 km ranh giới với 14
quốc gia, dài nhất thế giới. Các ranh giới nầy đă được ấn
định trong thời gian từ 1858 đến 1945 bởi các đế quốc Tây
phương và Nhật Bổn, thời kỳ mà người Trung Quốc gọi là « thế
kỷ ô nhục »
Trừ hai hiệp ước giữa Trung Quốc và Liên
Sô kư kết năm 1689 và 1727, tất cả các thỏa uớc hay qui
định biên giới với các quốc gia khác đều bị Trung Quốc đ̣i
xét lại dựa vào nhiều yếu tố lịch sử, địa lư, nhân văn. Thí
dụ biên giới giữa VN và Trung Hoa kư năm 1887 và 1895 với
Pháp, giữa Lào và Trung Quốc kư năm 1895 cũng với Pháp, giữa
Ấn độ và Trung Quốc kư với Anh và Tây Tạng năm 1895, 1904,
1906 và 1914 đều bị Trung Quốc phản đối. Những cuộc tranh
chấp với các quốc gia nầy đă xảy ra từ 1960 đến nay và các
ranh giới mới đă được ấn định lại hoặc bằng thương thuyết
hay bạo lực, trừ với Ấn Độ, và Bhoutan
Bảng 9 : Thỏa ước biên giới
giữa Trung Quốc và các lân bang
|
Ranh giới |
Chiều dài(km) |
Năm
kư thỏa ước |
|
Miến
Điện |
2 186 |
1965,
1994 |
|
Népal |
1 236 |
1961 |
|
Bắc
Hàn |
1 334 |
1962 |
|
Mông
Cổ |
4 673 |
1962 |
|
Hồi
Quốc |
523 |
1963 |
|
Afghanistan |
80 |
1963 |
|
Lào |
425 |
1991,1994 |
|
Việt
Nam |
1 282 |
1999 |
|
Nga |
2 978
|
1991,
2004 |
|
Kazakhstan |
1 533 |
1994,
1996, 1998 |
|
Kirghizstan |
858 |
1996,
1999, 2002 |
|
Tadjikistan |
414 |
1999,2002 |
|
Bhoutan |
560 |
chờ
đợi từ 1998 |
|
Ấn Độ |
2 204 |
chờ
đợi từ 1996 |
Những cuộc tranh chấp lănh thổ nầy đă hay
sẽ tạo ra những khủng hoảng chính trị lớn nhỏ trong vùng.
Trường hợp như ngày 17-2-1979, Trung Quốc
đă đưa 200 000 quân vượt biên giới để tấn công Việt Nam, sau
3 tuần rút quân để lại không biết bao nhiêu băi ḿn.
Tranh chấp hải đảo và lănh hải
Biển Trung Hoa (c̣n gọi là Đông Hải hay
Nam Hải) là một trong những vùng biển rộn rịp nhất thế giới
bởi lẽ 50% tàu chở dầu đi qua vùng nầy.
Nam Hải lại là vùng có nhiều mỏ dầu khí
quan trọng mà các quốc gia ven duyên đang cần. Theo ước
lượng của Trung Quốc, Nam Hải chiếm 8% tổng số lượng đánh cá
và hải sản của thế giới và giá trị số dầu hỏa, khí đốt có
thể khai thác là 1000 tỉ mỹ kim.
Nhưng Nam Hải lại là vùng biển mà Trung
Quốc yếu thế v́ hải quân yếu kém và nhiều căn cứ của Mỹ có
mặt ở vùng nầy (Okinawa, Nhật, Đại Hàn) chỉ cách Trung Quốc
không quá 500km.
Do đó, một trong những ưu tiên hàng đầu
của Trung Quốc là phát triển hải quân. Chủ tịch Hố Cẩm Đào
trong buổi họp với sinh viên ở Học Viện Hải Quân ngày
27/12/2006 đă tuyên bố : « Chúng ta phải cố gắng xây dựng
một lực lượng hải quân nhân dân hùng mạnh có thể đáp ứng
được sứ mạng lịch sử trong một thế kỷ mới và một thời kỳ
mới »
(theo David Lague. « China airs ambitions
to beef up naval power » trong International Herald Tribune
ngày 28/12/2006 www.iht.com/bin/print?id=4038159)
Nam Hải có nhiều quần đảo, c̣n hoang vu
nhưng chứa đầy quặng mỏ, mà nhiều quốc gia trong vùng tranh
nhau đ̣i chủ quyền. Những hải đảo mà Trung Quốc tranh chấp
với Nhật là quần đảo Senkaku
(Trung Quốc gọi là Diaoyu), quần đảo
Natura, với Việt Nam và các quốc gia khác là quần đảo
Hoàng Sa (Îles Paracels, Trung quốc gọi là Tây Sa=
Xinsha) và quần đảo Trường Sa (Îles Spratly, Trung
Quốc gọi là Nam Sa= Nansha).
Kết luận
Trung Quốc là quốc gia của vĩ đại, cao cả
và bạo tàn. Chính những bản chất nầy đă khiến Trung Quốc
phải trải qua những thời đại vinh quang lẫn tủi nhục. Sau
hơn một thế kỷ bị trị và im ngủ, Trung Quốc đă trỗi dậy và
Trung Quốc đang viết lại lịch sử của thời kỳ hưng thịnh. Sự
bùng nổ kinh tế của Trung Quốc trong ba thập niên qua là một
thách thức những mô h́nh và lư thuyết kinh tế, tạo một ảnh
hưởng, tốt và xấu, trên Trung Quốc và trên thế giới.
Trung Quốc đang khai thác thế giới và thế giới đang khai
thác Trung Quốc.
Thật vậy, theo EPI (Earth Policy
Institute, New York, avril 2005), nếu người Trung Quốc đạt
được mức sống như người Mỹ hôm nay, vào năm 2031, thế giới
sẽ không đủ sức nuôi sống cả nhân loại bởi lẽ chỉ Trung Quốc
thôi, dân Trung Quốc sẽ tiêu thụ hai phần ba ngũ cốc, bốn
phần năm số thịt của thế giới, chưa kể hơn 20% tổng số dầu
hỏa của thế giới hiện nay. Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế
của Trung Quốc không thể được xem như một đe dọa, bởi lẽ,
năm 2003, nhờ Trung Quốc, số xuất cảng của Nhựt đă phát
triển 43%, của Đại Hàn 45% và của Đức 28%. Riêng Hoa Kỳ,
người tiêu thụ có thể tiết kiệm được 600 tỉ mỹ kim nhờ các
hàng hóa Made in China.
Về phía Trung Quốc, sự phát triển kinh
tế, nếu đem lại cho Trung Quốc một số cải thiện, nhưng lại
phát sinh nhiều khó khăn về phân cách xă hội, hủy hoại trầm
trọng môi sinh, và ngay cho kinh tế cũng không bền vững nếu
tiếp tục theo đường hướng hiện tại v́ lợi nhuận quốc gia
càng lúc càng xuống thấp đồng thời với nhân lực và nhân phẩm
của công nhân Trung Quốc.
Nếu bảo rằng Trung Quốc là một đe dọa,
mối đe dọa nầy trước tiên chính là cho Trung Quốc.
Đă đến lúc Trung Quốc cần duyệt lại chánh
sách phát triển, t́m một phương hướng thích nghi lâu dài
trên căn bản tôn trọng nhu cầu tiêu thụ và sản xuất, khả
năng nhân lực và tài nguyên của Trung Quốc và của thế giới.
Ngoài ra, trên con đường phát triển,
Trung Quốc đă gặp một nước bạn, nhưng đồng thời cũng là đối
thủ, nếu không muốn nói là kẻ thù. Mỹ Quốc đă áp dụng chánh
sách đấp đê ngăn chặn, lập hàng rào bao vây và cao ngạo với
Trung Quốc.
Không có nước Mỹ, Trung Quốc không là
hiểm họa, bởi lẽ không dại ǵ Trung Quốc dấn thân vào một
cuộc chiến để bị cô lập và bị cấm vận nếu không bị tàn phá
bởi kho vơ khí nguyên tử của Mỹ.
Nhưng có nước Mỹ, Trung Quốc và Mỹ Quốc
sẽ là hai hiểm họa của nhân loại bởi lẽ như Đặng Tiểu B́nh
đă nói : Một ngọn núi không thể có hai con cọp.
Nhưng nghĩ cho cùng, thế giới hôm nay
sống với bạo lực và bằng bạo lực, và bất cứ bạo lực nào cũng
là hiểm họa của bạo động hay chiến tranh. Trong chiều hướng
ấy, không phải chỉ có Trung Quốc và Mỹ Quốc trên danh sách
đen.
Lâm Văn Bé
Montréal, tháng 12/2007
Sách tham khảo chính yếu
-
Jean– François Susbielle. Chine-USA, la
guerre programmée. - Paris : First Éditions, 2006.
-
Frédéric Lasserre. L’éveil du dragon. -
Sainte-Foy : Presses de l’Université du Québec, 2006.
-
La Chine à l’horizon 2020. - Paris :
l’Harmattan, 2006.
-
La Chine nouvelle, petite encyclopédie
Larousse. - Paris : Larousse, 2006.
-
Stéphanie Bessière. La Chine à l’aube du
XXIè siècle. - Paris : L’Harmattan, 2005.
-
Charles Fishman. The Wal-Mart effect. -
New York : Penguin, 2006.
-
L’état du monde 2006, 2007. Montréal :
Découverte/Boréal, 2006, 2007.
-
Jean-Christophe Victor. Le dessous des
cartes : atlas géopolitique. - Paris : Éditions Tallandier,
2006.
-
Philippe Richardot. Les États-Unis,
hyperpuissance militaire. - Paris : Économica, 2002
-
Một số sites internet của chánh phủ Trung
hoa và Viện Đại học Mỹ./.
|