|
Thiều
Chửu
- Nhân
Vật
Phật
Giáo Xuất
Chúng
Nguyễn Hải
Hoành
"Ngày nay
nh́n lại, thật đáng kinh ngạc về tư tưởng sâu sắc và mạnh mẽ của ông về nhân dân.
Đó là một tư tưởng xă hội có tầm cao rất đáng để chúng ta chiêm nghiệm... Tính
thời sự vẫn c̣n nguyên" - nhà văn Nguyên Ngọc viết về Thiều Chửu.
Học và
thực hành Phật Giáo Nhân Gian
Thiều Chửu
góp công lớn trong sáng lập Hội Phật giáo Bắc Kỳ (1934), nhưng khi Hội mời vào
Ban Trị sự th́ ông lại do dự v́ thấy Ban này có mấy vị quan cai trị. Sau cùng
ông nhận lời với ư nghĩ có thể lợi dụng Hội này để thực hành cái chí đánh đổ chế
độ thối nát của nhà chùa thời đó. [11]
Nói là làm.
Ông kiến nghị lập nhà in. Hội đồng ư và giao ông quản lư nhà in Đuốc Tuệ. Tiếp
đó ông được giao phụ trách tài chính của Ban Hưng công chùa Quán Sứ (1938-1942).
Thiều Chửu viết rất nhiều, tuyên truyền Phật Giáo Nhân gian, phê phán tệ mê tín
dị đoan trong Phật sự.
Ông cũng sáng tác thơ ca. Nhà thơ Đinh Công Vĩ hết lời ca ngợi trong bài “Cư
sĩ Thiều Chửu với cả một trời thơ”. [12]
Năm 1943, ông soạn cuốn “Giải thích truyện Quan Âm Thị Kính”, chủ yếu dùng triết
lư Phật Học để giải thích. Coi tập thơ Nôm khuyết danh đó là kinh Phật, Thiều
Chửu là người đầu tiên nói nước ta có kinh Phật.
“Con đường học Phật ở thế kỷ thứ XX” xuất bản năm 1952 – tác phẩm cuối
cùng, viết bằng máu và nước mắt, như lời học giả Vũ Tuấn Sán [15], thể hiện quan
điểm của một Phật Tử chân chính, tiên tiến, yêu nước, kiên quyết vạch mặt một số
tăng sĩ vùng địch chiếm mưu mô thần bí hóa đạo Phật, qua đó làm nhụt tinh thần
kháng chiến của dân tộc.
Ông kêu gọi Tăng sĩ đoàn kết trong một tổ chức Phật Giáo thống nhất; Lao động tự
nuôi thân bằng các nghề làm ruộng, công nghệ, giáo dục, y tế; Học và thực hành
Phật Giáo Nhân Gian; Góp tài lực cải thiện đời sống nhân dân.
Ngót 30
năm cầm bút, Thiều Chửu để lại 93 tác phẩm viết và dịch [13]. Đáng chú ư là tác
phẩm “Phép nuôi con” (1926) và “Tự điển Hán Việt” xuất bản năm 1942.
Học giả Lê Mạnh Thát nói: "Những người Việt học Hán văn không thể không cúi
đầu tri ân công tŕnh văn hóa bất hủ này". [14] Mới đây một nhóm người Việt
ở Pháp biên soạn lại thành “Tự điển Hán Việt Thiều Chửu điện tử” và phổ
biến miễn phí trên
http://www.viethoc.org.
Nguyện làm Phật sự
Thiều Chửu từng khước từ làm Bộ trưởng Bộ Cứu tế xă hội trong Chính phủ Cách
mạng lâm thời để nguyện một đời làm Phật sự. [17]
Hồi làm hiệu thuốc ở Ngă Tư Sở, ông dành ba buổi tối mỗi tuần đến chùa Sở (tức
chùa Phúc Khánh) dạy các nhà sư học chữ Hán. Thời gian ở hiệu sách Ḥa Kư và nhà
in Đuốc Tuệ, tối nào ông cũng dạy chữ Hán, Quốc ngữ, cách trí, sử kư, địa dư cho
đồng nghiệp.
Ông cùng học giả Nguyễn Văn Tố và mấy người nữa đồng sáng lập Hội Truyền bá Quốc
Ngữ và hăng hái làm mọi việc Hội phân công. Hồi tản cư kháng chiến, tới đâu ông
cũng mở trường dạy chữ cho trẻ em và người lớn.
Thiều Chửu c̣n giảng dạy triết lư Phật học cho nhiều người. Một số học tṛ ông
sau trở thành những vị chân tu uy tín cao như Ḥa thượng Thích Tâm Tịch, sau là
Pháp chủ Giáo hội Phật Giáo Việt Nam, Giáo sư Trần Việt Quang sau là đại tá quân
đội và Ni sư Đàm Ánh - một nhà từ thiện có tiếng.
Ông từng dự đoán, khi khoa học phát triển cao, "các tôn giáo có lập trường
thần bí tất sẽ bị đào thải. Thế giới ngày nay không ai không tin khoa học... Lập
trường của Phật Giáo trăm phần trăm đúng với cái đích của nhân loại tiến hóa tột
bực sẽ tới, lẽ tự nhiên Phật Giáo sẽ không bị đào thải, trái lại càng rực rỡ
quang vinh." [19]
Ông nói, v́ các Phật Tử ngày nay làm sai hẳn nguyên tắc của Phật nên đạo Phật
"nhất định sẽ bị đào thải nếu ta không mau trở lại cái bản lai diện mục của Phật
Giáo". Như vậy ông là một trong số rất ít người cùng thời hiểu được đạo Phật
có bản chất khoa học.
"Phải tận hiếu với nhân dân"
Nhà văn Nguyên Ngọc nhận xét: Thiều Chửu theo đạo Phật với động cơ v́ dân.
Ông viết bằng chữ hoa câu “Phải tận hiếu với nhân dân. Nhân dân là cha mẹ bao
kiếp, là chư Phật vị lai” ngay trang đầu sách “Con đường học Phật ở thế
kỷ thứ XX”; ông coi nhân dân là lực lượng duy nhất có thể cải tạo thứ Phật
Giáo đă bị tha hóa, và họ chỉ có thể làm được việc đó khi Tăng sĩ trả chùa cho
dân...
"Ngày nay
nh́n lại, thật đáng kinh ngạc về tư tưởng sâu sắc và mạnh mẽ đến dường ấy của
ông về nhân dân. Đó là một tư tưởng xă hội có tầm cao rất đáng để chúng ta chiêm
nghiệm... Tính thời sự của nó hầu như vẫn c̣n nguyên"
[22].
Học giả Vũ Khiêu đánh giá Thiều Chửu là một con người chân chính, một nhà trí
thức lớn của dân tộc, và kính tặng đôi câu đối "Nửa kiếp trầm luân, bác cổ
thông kim, ḷng bốn bể; Trăm năm phù thế, cứu dân báo quốc, phép muôn đời".
Học giả Vũ Tuấn Sán nh́n nhận Thiều Chửu "là một hiện tượng khá đặc biệt
trong giới trí thức ở thế kỷ XX, một người sống cuộc đời thanh cao, hoàn toàn v́
lư tưởng".
C̣n Tiến sĩ Nguyễn Quốc Tuấn ở Viện Nghiên cứu Tôn giáo Việt Nam th́ viết
rằng: "Thiều Chửu là nhân vật Phật giáo xuất chúng thế kỷ XX".
Đại đức Thích Đồng Bổn cũng ngợi ca ông là "bậc Nho sĩ, Đại sĩ, Chí sĩ,
rạng danh Tiết sĩ". Sách “Tiểu sử danh tăng Việt Nam thế kỷ XX" tập I
viết: Thiều Chửu là "một Phật Tử xứng đáng tiêu biểu cho hàng cư sĩ trong đạo
Phật có công lớn trong lịch sử chấn hưng Phật Giáo miền Bắc" [23].
"Thiên cổ
kỳ oan"
Tiếc thay,
do sai lầm của đội cải cách ruộng đất nơi ông và đoàn Tế Sinh tạm trú là ấp Đồng
Tâm, xă Đồng Liên, huyện Phú B́nh, tỉnh Thái Nguyên, ông bị quy là địa chủ và bị
đội "xỉa xói mắng nhiếc luôn ba bốn giờ, vu cho đủ các tội ác, dùng những lời
nói rất khinh bỉ hà khắc, chỉ khác với đấu tố là chưa phải quỳ thôi." [24]
Một tháng sau, rạng sáng ngày 15 tháng 7 năm 1954 tức 16 tháng 6 Giáp Ngọ (một
ngày sau giỗ cụ Cử Cầu và 12 ngày trước kư kết Hiệp định Geneva), Thiểu Chửu bí
mật tự giải thoát đời ḿnh trên ḍng sông Cầu chỗ đập Thác Huống.
Cái chết “Thiên cổ kỳ oan”, v́ nước v́ dân, không oán hận, không cầu minh oan,
chỉ có Bồ Tát mới làm được ấy" (lời học giả Lê Mạnh Thát) [25] đă gây ra nỗi
chấn động và tiếc thương vô hạn trong dân chúng địa phương và giới Phật Tử cả
nước.
Ít lâu sau,
đội cải cách hạ thành phần ông xuống trung nông. Nhưng ở cái thời kỳ ngạt thở
“Nhất Đội nh́ Trời”, vụ tự vẫn kinh hoàng đó đă bị lợi dụng để phủ bóng đen lên
quá khứ sáng ngời của ông, v́ thế không ai dám nhắc đến ông nữa.
Giữa thập
niên 60, bài vị và ảnh ông tại chùa Quán Sứ bị bỏ đi không một lời giải thích.
Tới đầu thế kỷ XXI vẫn c̣n có người ngại minh oan cho Thiều Chửu!
Ni sư Đàm Ánh kể Thiều Chửu có dặn đừng vớt xác ông, nhưng các hậu duệ và học
tṛ không ai nỡ làm thế. Sau ḥa b́nh lập lại, họ trân trọng rước hài cốt ông về
Hà Nội mai táng. Hiện nay mộ ông đặt tại nghĩa trang Thanh Tước, số mộ 170-C3.
Tháng
6-2002, các hậu duệ ông cùng Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam và tạp chí Tia Sáng
(Bộ Khoa học Công nghệ) đă tổ chức “Sinh hoạt lịch sử tưởng niệm 100 năm sinh
nhà văn hóa Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha” tại Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội.
Trước khi về với tổ tiên, Thiều Chửu thức trắng đêm viết thư tuyệt mệnh gửi Ông
Hồ Chí Minh, thư dặn ḍ các học tṛ ḿnh phấn đấu theo Kháng chiến chống Pháp
đến cùng, và viết lời kết bản Tự Bạch (cũng gửi Ông Hồ Chí Minh) như sau:
"Cái án “mạc tu hữu” (tức vu cáo, ông viết chữ Nho) mà ông Nhạc Phi phải chịu
đời phong kiến c̣n có lẽ; ai ngờ đời nay chính bản thân tôi lại bị, th́ tôi c̣n
biết van vỉ làm sao được nữa".
Nguyễn Hải
Hoành
(Tuần Viet
Nam)
Ghi chú:
[11] [12] [13] [14] Nguyễn Đại Đồng, ibid. [15] Vũ Tuấn Sán: Những người lao
động sáng tạo của thế kỷ, Nxb Lao động, Hà Nội 2000 [16] Thiều Chửu: Con đường
học Phật ở thế kỷ thứ XX, Nxb Tôn Giáo, Hà Nội 2002 [17] Chương Thâu và Hồ Anh
Hải, ibid. [18] Thiều Chửu: Phật học vấn đáp, Nhà in Đuốc Tuệ, Hà Nội 1946 [19]
Con đường học Phật ở thế kỷ thứ XX, ibid. [20] Collected famous quotes from A.
Einstein:
http://rescomp.stanford.edu/
cheshire/ Einstein quotes.htm) và
http://dongtac.net/spip.php?rubrique7
[21] Tṛ chuyện với Trịnh Xuân Thuận, Tạp chí Tia Sáng và Nxb Trẻ, 2001 [22]
[23] Nguyễn Đại Đồng, ibid. [24] Tự Bạch, ibid. [25] Nguyễn Đại Đồng, ibid.
|