|
Giữa cơn lốc biến động
xã hội đầy kịch tính của cuối thế kỷ 20, trước sự sụp đổ của con người
đối với các vấn đề khủng hoảng sinh thái tâm linh và môi trường, mùa
Phật lại trở về như nguồn suối hạnh phúc chảy vào tâm thức mọi người.
Thật ra, đấng Thế Tôn
không phải Đản sanh trong vườn Lâm Tỳ Ni xứ Ấn Độ cách đây 2500 năm về
trước, mà đức Phật thị hiện trong lòng chúng ta từng giờ, từng giây
phút, mỗi ngày. Bởi vì chúng ta là những người sinh ra, lớn lên,
trưởng thành theo lý tưởng sống với Ngài, cùng đi chung với Ngài về lộ
trình giải thoát mọi sự khổ đau đang đè nặng lên thân phận kiếp người.
Nếu văn hào Shakespeare khởi đầu bằng tiếng nói con tim: "Yêu và được
yêu là điều hạnh phúc nhất đời", thì đức Phật tuyên bố sự hiện hữu của
Ngài giữa cuộc đời với mục đích: "Ta ra đời vì an lạc, lợi ích cho chư
Thiên và loài người, vì lòng thương tưởng đời". Do đó, nơi nào có sự
Đản sanh của đức Phật, nơi đó có tiếng nói yêu thương, tiếng nói tình
người thể hiện. Như con tim nắm giữ sinh mệnh của một đời người, thì
tình người nắm giữ sinh mệnh sự sống, linh hồn văn hóa của dân tộc,
quốc gia. Cho nên, sự kiện đức Phật đản sanh là dự kiện khởi đầu thông
điệp tình thương và hạnh phúc:
"Khó gặp được Như Lai
Không phải đâu
cũng có
Chỗ nào đức Phật
đản sanh
Nơi đó tất an
lạc" (Pháp Cú 193)
Thông điệp ấy đã đi vào
tâm thức mỗi người, khi cánh cửa "giải thoát" bắt đầu mở sau khi 49
ngày đêm tư duy thiền định dưới cột Bồ đề, Ngài trở thành bậc Chánh
đẳng giác. Từ đây, Ngài tuyên bố: "Cửa vô sinh bất diệt, đã mở cho tất
cả chúng sanh. Hãy để cho ai có tai muốn nghe được hưởng trọn niềm tin
tưởng". Như vậy, đạo Phật là đạo đến mà thấy, thấy sự thật khổ đau
cuộc đời và con đường đoạn tận khổ đau được khởi đầu bằng những bước
chân đầu tiên:
"Ai quy y đức Phật
Chánh pháp và
chư Tăng
Ai dùng Chánh
tri kiến
Thấy được bốn
Thánh đế
Thấy khổ và khổ
tập
Thấy sự khổ vượt
qua
Thấy đường Thánh
tám ngành
Đưa đến khổ não
tận" (Pháp Cú 190-191)
Đây chính hiện thực của
cuộc đời mà tự thân mỗi người phải vượt qua lộ trình đi về "Tự ngã"
giữa sa mạc hoang vu từ trong tâm tưởng của cái "Tôi" tràn đầy. Nhũng
danh tướng hão huyền hư vô phân biệt, nghĩa vô nghĩa, những danh sắc,
vật chất, tiền tài trói buộc cần được phá vỡ bằng con đường khởi đầu
bằng sự tu tập theo giáo lý của Ngài. Chúng ta nên biết rằng những sở
hữu mà chúng ta nắm giữ là không phải của chính mình, phải nên biết
rằng những cái mà chúng ta đang nắm giữ chỉ đến với chúng ta khi duyên
đến và mất đi khi duyên tan. Chính đức Phật từng tuyên bố: "Cái này
không phải là ta, của ta, và tự ngã của ta". Từ trong thực tánh duyên
khởi đi ra, nhờ công phu tu tập cá nhân, Ngài đã trở thành bậc giác
ngộ hoàn toàn. Chúng ta cũng là con người, nếu biết nương vào đức
Phật, nương vào chánh pháp để tu tập thì cũng trở thành những con
người giác ngộ như Ngài. Bởi vì con người là chủ nhân ông của mỗi
người, tự thân giải quyết sự hạnh phúc an lạc cho chính mình, không ai
có thể thay thế được. Chính đức Phật từng khuyến cáo các đệ tử của
mình:
"Tự mình điều ác làm
Tự mình làm
nhiễm ô
Tự mình ác không
làm
Tự mình làm
thanh tịnh
Tịnh, không tịnh
tự mình
Không ai thanh
tịnh ai" (Pháp Cú 165)
Tại đây, đức Phật đã
khẳng định vai trò và vị trí của con người là do tự thân cá nhân quyết
định. Trong tất cả giá trị có mặt ở đời, con người là giá trị cao
nhất. Mọi thứ giá trị đều là phương tiện cho con người và cuộc sống
của con người. Vấn đề lý tưởng tối cao và ý nghĩa cuộc sống thực chất
là vấn đề hạnh phúc. Hạnh phúc thực sự có mặt khi tự thân mỗi người
phải vắng mặt cội nguồn tham sân si, xuất phát từ lòng tham dục, như
đức Phật dạy:
"Từ tham dục nảy mầm
đau khổ
Từ tham dục nảy
mầm sợ hãi
Với ai thoát
khỏi vòng tham dục
Thì không còn
đau khổ, không còn sợ hãi" (Pháp Cú 215-216)
Kinh nghiệm tự than tu
tập của đức Phật, chúng ta thấy rõ điều này. Từ một Thái tử Tất Đạt Đa
sống trong cung vàng điện ngọc, Ngài xả bỏ tất cả để lên đường tu tập
6 năm khổ hạnh. Từ bỏ lối tu khổ hạnh, tu tập thiền định phát triển
trí tuệ, Ngài đã trở thành bậc Chánh đẳng giác, giác ngộ hoàn toàn.
Trong 45 năm thuyết pháp độ sanh, Ngài từng tuyên bố: "Chánh pháp còn
phải bỏ đi, huống hồ là phi pháp". Đây chính là thái độ xả ly hoàn
toàn mà mỗi chúng ta cần phải đi qua trên con đường trở về tự tánh
giác ngộ. Thực chất của khổ đau đều bắt nguồn từ sự khát ái, chấp thủ.
Vô minh phiền não, quá khuú u buồn vang vọng từ cõi lòng sầu bi khổ ưu
não được dập tắt, khi tự thân mỗi người hướng tới sự tu tập tâm thức
và hành trì pháp như Ngài:
"Những ai hành trì
pháp
Theo chánh pháp
thực hành
Sẽ đến bờ bên
kia
Vượt ma lực khó
thoát" (Pháp Cú 86)
Cho nên, vấn đề hạnh
phúc được thực thi bắt nguồn từ sự chuyển hóa tâm thức để đạt sự bình
an nội tại. Tại đây, xu thế nội tại từ trong tâm tưởng đòi hỏi phải
lớn lên, phát triển, mở rộng, vì mỗi tâm hồn đều có khả năng linh diệu
để chuyển hóa, vận hành. Đức Phật từ một con người thực tại, nhờ công
phu tu tập chuyển hóa nội tâm mà trở thành con người sống trong thế
giới hạnh phúc thực sự, bởi vì Ngài đã tự chuyển hóa nội tâm của
mình:
"YÙ dẫn đầu các pháp Ù
làm chủ, ý tạo
Nếu với ý thanh
tịnh
Nói lên hay hành
động
An lạc bước theo
sau
Như bóng không
rời hình" (Pháp Cú 2)
Rõ ràng, hạnh phúc mà
con người hướng đến không phải là điều gì nằm ngoài tầm tay con người.
Hạnh phúc là sự phát triển hoàn toàn đầy đủ các đức tánh của con
người, thông qua sự tu tập về thân khẩu ý:
"Không làm các điều ác
Thành tựu các
việc lành
Giữ tâm ý trong
sạch
Đó là lời Phật
dạy" (Pháp Cú 186)
Đây cũng chính là con
đường tu tập theo Giới-Định-Huệ, hướng tới những giá trị hạnh phúc
đích thực giữa cuộc đời. Sự kiện đức Phật đản sanh là bức thông điệp
hạnh phúc bước ra thế giới khổ đau, đánh thức sự hướng tâm vào thế
giới an lạc của sự vận hành, xa rời sự chấp thủ và khát ái. Một chân
trời tự do mở ra cho những ai còn khát vọng về hạnh phúc, giải thoát
mọi khổ đau cuộc đời. Nơi đây, từ trái tim đến trái tim trong suối
nguồn giáo lý đức Từ phụ thấm nhuần từng cõi lòng mọi người. Thật đúng
là:
"Hạnh phúc thay, đức
Phật giáng sinh
Hạnh phúc thay,
giáo pháp cao minh
Hạnh phúc thay,
chúng Tăng hòa hợp
Hạnh phúc thay,
tứ chúng đồng tu". (Pháp Cú 194)
Thích Phước Đạt
Sài Gòn, mùa
Phật Đản 2541

  [BANTIN]
|