|
NHỮNG ĐẶC ĐIỂM
Kinh Pháp Hoa xuất hiện trong Tam tạng giáo điển Phật giáo ngoài những
điểm chung, kinh còn có những điểm độc đáo và đặc biệt riêng, nên
khiến kinh không phải chỉ là Pháp mà còn là Diệu pháp.
Những điểm độc đáo và đặc biệt của kinh Pháp Hoa như sau:
1. Phật
Phật có đầy đủ ba thân, Phật pháp thân: Phật lấy Pháp làm thân. Pháp
đây là bản thể tịch diệt của vạn hữu. Bản thể ấy là thực tướng của các
Pháp không có sinh diệt.
Bản thể ấy là Niết-bàn, là tâm chân thật tịch lặng không sinh diệt.
Phật báo thân: Thân Phật do tu tập các Pháp vô lậu như giới, định, tuệ
và thực hành Lục độ của Bồ-tát mà tạo thành, không còn khởi niệm ngã
và pháp.
Thân ấy, đầy đủ ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, tạo thành sắc
thân của Phật. Sắc thân ấy là sắc thân vô lậu, nên thọ mạng của Phật
là vô lượng, được tạo thành từ các pháp của tâm, không bị hủy diệt bởi
thời gian. Thân ấy luôn luôn hiện hữu, không nhập Niết-bàn, bởi vì
chính nó là Niết-bàn, nên không còn phải nhập.
Phật ứng thân: Là thân Phật ứng hiện theo bản hạnh để hoạt dụng hóa
độ. Thân này do bản nguyện, nên Ngài mượn các Pháp hữu vi mà tạo
thành.
Thân này có đến, có đi, có sanh, có diệt như tất cả thân của chúng
sinh. Nhưng khác hẳn với thân chúng sinh, là thân chúng sinh do nghiệp
lực tạo nên, còn Phật ứng thân do bản nguyện mà thiết lập.
Vì ứng hóa thân là như vậy, nên ứng hóa thân của Phật Thích-ca là thân
thể lịch sử thuộc về con người, nên nó có hạn lượng về thời gian.
Pháp thân, Báo thân, Ứng hóa thân ấy đều là thân của Phật Thích-ca,
nhưng trong đó độc đáo nhất mà kinh Pháp Hoa cho rằng, báo thân của
Ngài là bất khả hoại, tồn tại và siêu việt với mọi thời gian.
Điều này kinh Pháp Hoa đã chỉ cho ta thấy, báo thân của Phật là do tâm
vô lậu tạo thành.
Tâm
ấy siêu việt mọi thời gian, nên thân ấy cũng tồn tại đúng như thời
gian của tâm ấy.
Nên báo thân của Phật Thích-ca được trình bày ở kinh Pháp Hoa là báo
thân siêu việt.
Đó là cách nhìn đặc biệt của Pháp Hoa về Phật thân. Phẩm Như Lai thọ
lượng của kinh Pháp Hoa đã cho ta cách nhìn về báo thân này
(1) Ứng hóa thân được trình bày
trong kinh Pháp Hoa là thân của đức Phật lịch sử, nhưng mục đích có
mặt của thân ấy trong thế gian, không gì khác là để “khai, thị, ngộ,
nhập tri kiến” của Phật cho chúng sinh, khiến chúng sinh ngộ nhập đúng
như cái thấy, cái biết của Phật.
Ứng thân ấy của Phật Thích-ca không phải chỉ có mặt ở đây mà còn có
mặt khắp cả mọi nơi để thuyết giảng kinh Pháp Hoa. Phẩm Phương Tiện
(2) và phẩm Kiến Bảo Tháp (3) của kinh Pháp Hoa cho ta cách nhìn độc
đáo và đặc biệt đối với tác dụng của Phật ứng hóa thân nầy.
Lại nữa, kinh Pháp Hoa chỉ cho chúng ta thấy, tuệ giác của Phật là tuệ
giác chứng nhập “thực tướng” của các pháp qua mười Phạm trù gồm: như
thị tướng, như thị thể, như thị nhân…
Do chứng nhập thực tướng của các Pháp qua mười phạm trù này, nên Ngài
thành bậc Vô thượng giác.
Do đó, báo thân của Ngài lúc nào và ở đâu cũng có, để chứng minh cho
sự chứng ngộ tướng tịch diệt của các Pháp là không sinh diệt, ứng hóa
thân của Ngài thì lúc nào và ở đâu cũng biểu hiện để giáo hóa chúng
sinh, bằng vô số phương tiện thiện xảo, khiến tất cả đều thành tựu tuệ
giác vô thượng là tuệ giác chứng nhập “chư Pháp thực tướng” ấy.
Bởi vậy, Phật qua cách nhìn của kinh Pháp Hoa hết sức đặc biệt và độc
đáo so với các kinh khác, nên kinh Pháp Hoa đối với các kinh khác
không phải chỉ là Pháp mà còn là Diệu Pháp. Bậc chứng ngộ và tuyên bố
Pháp ấy cho mọi giới, không phải chỉ là Toàn giác mà còn là Diệu giác.
2. Pháp
Pháp được kinh Pháp Hoa diễn đạt là Pháp Nhất thừa.
Nhưng, Pháp Nhất thừa của Pháp Hoa không hề phủ nhận những giáo pháp
mà đức Phật diễn đạt và hướng dẫn đã được ghi lại ở trong các kinh
điển A Hàm và Nikāya như Vô thường, Khổ, Không, Vô ngã hay Vô thường,
Khổ và Không hoặc là Vô thường (sarvasaṃkāraanitya:
chư hành vô thường), vô ngã (sarvadharmānātman: chư pháp vô ngã), và
Niết-bàn (nirvāṇa sāntam:
Niết-bàn tịch tịnh) đã được các kinh điển A Hàm và Nikāya đóng dấu ấn,
gọi là “Tam pháp ấn” hay “Tứ pháp ấn”, tức là những dấu ấn của Chánh
pháp, mà kinh Pháp Hoa chỉ đưa tất cả dấu ấn ấy về với một dấu ấn duy
nhất là “Thực tướng ấn”. (4)
Thực tướng ấn là dấu ấn của tướng chân thật. Dấu ấn ấy, ấn rõ tuệ giác
của Phật vào nơi thực tướng của các Pháp.
Dấu ấn ấy, ấn rõ các pháp là vô thường, khổ, không, vô ngã chỉ có một,
đó là Nhất thiết Pháp không. (5)
Dấu ấn ấy, ấn rõ “Vô thường, vô ngã, Niết-bàn” chỉ có một, đó
là Niết-bàn.
Dấu ấn ấy, ấn rõ sự giác ngộ của Phật duy nhất là “Thực
tướng không” hay “Tịch tịnh
Niết-bàn”.
Dấu ấn ấy, ấn rõ Báo thân của Phật
không bị sinh diệt và không bị thời gian chi phối. Và ứng hóa thân của
Phật có mặt trong cuộc đời là chỉ cho chúng sanh thấy rõ thực tướng
của các Pháp, bằng tất cả phương tiện thiện xảo mà ứng hóa thân đều có
thể sử dụng.
Như vậy, dấu ấn ấy, là dấu ấn
chứng thực mục đích duy nhất của Phật ra đời là
khai thị ngộ nhập Phật tri
kiến cho chúng sanh,
khiến cho họ thấy biết mà ngộ nhập.
Lại nữa, ba mươi bảy phẩm pháp trợ
đạo trong Đạo đế của Tứ Diệu đế là pháp hành căn bản để đoạn tận Tập
đế, dứt sạch Khổ đế, chứng nhập Diệt đế.
Diệt đế là thực tướng tịch diệt
của các pháp, là Niết-bàn tuyệt đối của chư Phật.
Nên, ba mươi bảy phẩm pháp trợ đạo
là pháp phương tiện của Niết-bàn mà không phải là Niết-bàn. Và chỉ có
Phật mới chứng nhập Diệt đế hoàn toàn hay Niết-bàn tuyệt đối.
Bởi vậy, không có Niết bàn nào
chân thật ngoài Niếtbàn của Phật và không có trí tuệ nào là trí tuệ
toàn giác ngoài trí tuệ của Phật.
Do đó, đối với cách nhìn của Pháp
Hoa, thì hàng Thanh văn, chưa đạt tới sự chứng nghiệm Tứ Diệu đế như
sự chứng nghiệm của Phật, chưa đạt tới Niết-bàn tuyệt đối của Phật,
nên họ cần phải buông bỏ những gì mà họ cho rằng, họ đã chứng nghiệm
Tứ Diệu đế, để họ đạt tới sự chứng nghiệm Tứ Diệu đế như Phật và thể
chứng Niết-bàn tuyệt đối như Ngài.
Đối với sự chứng nghiệmPháp mười
hai duyên khởi của hàng Duyên giác cũng vậy, họ phải buông bỏ cách
nhìn Pháp mười hai duyên khởi theo cách nhìn của họ, để tiến tới cách
nhìn thấy Pháp mười hai duyên khởi theo cách nhìn thấy của Phật, thì
họ không những đoạn tận các chi phần ái, thủ, hữu, hay vô minh, hành
mà còn đoạn tận cứ địa chứa chấp và huấn luyện vô minh (tận vô minh
địa) nữa.
Và chỉ có đạt tới Niết-bàn tuyệt
đối mới đoạn tận hết thảy
các cứ địa chất chứa và
huấn luyện vô minh ấy.
Nói tóm lại, hàng Duyên giác phải
buông bỏ cách nhìn thấy mười hai duyên khởi và đoạn tận các chi phần
trong mười hai duyên khởi của mình, để đi tới cách nhìn thấy và cách
đoạn tận các chi phần trong pháp mười hai duyên khởi của Phật, để họ
có cái thấy, cái biết của Phật và chứng nhập Niếtbàn tuyệt đối như
Ngài.
Và đối với sự phát Bồ-đề tâm, thực
hành Lục độ của Bồ-tát cũng vậy. Họ phải buông bỏ hoàn toàn mọi ý
tưởng về ngã và pháp, để đạt tới cái nhìn thấy tịch diệt hoàn toàn đối
với chúng.
Thanh văn, Duyên giác và Bồ-tát
phải buông bỏ cách thấy pháp của Phật theo cách nhìn thấy của họ, phải
buông bỏ cách chứng nhập Niết-bàn theo cách chứng nhập của mình mà
tiến tới cách chứng nhập Niếtbàn của Phật, và cách thấy pháp của Phật
như Phật.
Như kinh Pháp Hoa nói:
“Chư Phật lưỡng túc tôn
Tri pháp thường vô tánh
Phật chủng tùng duyên khởi
Thị cố thuyết Nhất thừa
Thị Pháp trụ, Pháp vị
Thế gian tướng thường trú…”
(6)
Nghĩa là:
“Các Đấng giác ngộ đầy đủ trí và
đức, biết rõ các Pháp không có tự tánh, hạt giống Phật sinh khởi do
duyên, nên Phật nói Nhất thừa.
Và bản thể của các Pháp vốn là
thường trú và nguyên vị, tướng chân như của thế gian vốn thường trú…”
Như vậy, kinh Pháp Hoa đã chỉ cho
ta thấy, các pháp không có tự tính, hạt giống Phật cũng sinh khởi do
duyên và pháp chân như ở nơi vạn hữu không hề bị sinh diệt. Phật tính
của hết thảy chúng sinh tuy ở trong sự luân chuyển của thế gian mà vẫn
thường trú, và Niết-bàn có mặt thường trú ngay ở trong sinh tử.
Nên, tuy ứng hóa thân của Phật ở
trong sinh tử với chúng
sinh mà vẫn thường sống với
pháp Niết-bàn tịch tịnh.
Pháp như vậy là pháp Nhất thừa. Và
Nhất thừa như vậy là pháp Nhất thừa độc đáo và đặc biệt của Pháp Hoa
so với pháp Nhất thừa được quảng diễn từ kinh Thắng Man, Bát Nhã và
Hoa Nghiêm.
3. Tăng
Ở
trong kinh Pháp Hoa, đức Phật nói Tăng là đoàn thể đệ tử của Ngài:
“Nội bí Bồ-tát hạnh, ngoại hiện thị Thanh văn; thiểu dục yếm sanh tử,
thật tự tịnh Phật độ.”
(6.1)
Nghĩa là: bên trong của Tăng đoàn
là nuôi dưỡng, giữ gìn hạnh của Bồ-tát, ngoài biểu hiện hình thái của
Thanh văn, ít có tham dục, nhàm chán sinh tử, mà thật ra, tự thân làm
cho cõi Phật thanh tịnh.
Nên, kinh Pháp Hoa không công nhận
có một đoàn thể Thanh văn thuần là đệ tử của Phật, nếu có chăng chỉ là
giả lập để giúp họ trở thành Bồ-tát và giáo hóa cho họ Pháp Nhất thừa,
nhằm đưa họ đến địa vị Phật.
Điều này, ta thấy đức Phật nói rõ
qua thi kệ của phẩm Phương tiện, kinh Pháp Hoa sau đây:
“Quý vị chớ có nghi
Ta là vua các pháp
Nói cho đại chúng biết
Chỉ dùng đạo Nhất thừa
Giáo hóa các Bồ-tát
Không đệ tử Thanh văn”
(Nhữ đẳng vật hữu nghi
Ngã vi chư Pháp vương
Phổ cáo chư Đại chúng
Đản dĩ Nhất thừa đạo
Giáo hóa chư Bồ-tát
Vô Thanh văn đệ tử)
(7)
Nên, ở kinh Pháp Hoa, đức Phật
khẳng định sự ra đời của Ngài có hai việc:
Đối với Pháp, thì Ngài chỉ dạy
pháp Nhất thừa, tức là pháp làm Phật.
Và đối với Tăng Thanh văn, thì
Ngài phải giáo dục để họ đều trở thành Bồ-tát và dạy cho họ pháp Nhất
thừa, rồi tuyên bố họ sẽ thành Phật.
Điểm này, đức Phật đã nói với Tôn
giả Xá-lợi-phất như sau:
“Xá-lợi-phất nên biết
Người căn chậm, trí nhỏ
Chấp tướng và kiêu mạn
Pháp này không thể tin.
Ta nay vui, vô úy
Ở trong các Bồ-tát
Thẳng thắn bỏ phương tiện
Chỉ nói đạo Vô thượng
Bồ-tát nghe Pháp ấy
Lưới nghi đều trừ diệt
Ngàn hai trăm La-hán
Chắc chắn sẽ làm Phật.
Như chư Phật ba đời
Theo nghi thức thuyết pháp
Ta nay cũng như vậy
Thuyết pháp đều giống nhau.”
(8)
Chính điểm này là điểm
then chốt của kinh Pháp
Hoa, và là cách nhìn đặc biệt và độc đáo về Tăng của Pháp Hoa.
Cũng chính điểm này mà các nhà
Phật học Pháp Hoa, gọi là “Phế quyền hiển thực”. Nghĩa bỏ quyền trí mà
hiển thị thật trí; bỏ quyền Pháp mà hiển thị Phật pháp; bỏ phương tiện
mà hiển thị cứu cánh.
Và cũng chính điểm này, Tôn giả
Xá-lợi-phất, bậc thượng căn, thượng trí của hàng Thanh văn đã lãnh hội
và tin tưởng, nên đã phát biểu với đức Phật rằng:
“Bạch Thế Tôn! Con từ xưa đến nay,
suốt ngày và đêm luôn luôn tự trách.
Nhưng, ngày nay từ đức Thế Tôn,
con nghe được Pháp chưa từng có, nên nay mọi nghi ngờ của con đoạn
sạch, thân và tâm của con thư thái, tự nhiên và ổn định một cách thích
thú.
Ngày nay con mới biết rằng, con là
con đích thực của Phật, sinh ra từ giáo huấn của Ngài, sinh ra từ Pháp
chuyển hóa của Ngài, thừa hưởng gia tài chánh Pháp của Phật
(9).
Ngay sau đó, Tôn giả Xá lợi- phất
đã được đức Phật thọ ký thành Phật.
Và ở phẩm Tín giải
(10),
các vị Thanh văn như các Tôn giả Tu-bồ-đề, Ca-chiên-diên, Đại Ca-diếp,
Mục-kiền-liên cũng đã trình bày sự lãnh hội Pháp Nhất thừa của mình
lên đức Phật.
Để chứng minh cho sự lãnh hội và
tin tưởng ấy, các Tôn giả đã kể cho Thế Tôn nghe câu chuyện Trưởng giả
và Cùng tử, để minh họa cho tâm Từ bi của Phật, hạnh nguyện giáo hóa
của Phật và Trí tuệ phương tiện thiện xảo của Ngài đối với việc giáo
hóa hàng Thanh văn. Và hàng Thanh văn cho dù những vị thông minh hay
không thông minh, những vị giỏi đã hoàn thành tuệ giác vô học của
Thanh văn, hay chưa hoàn thành tuệ giác ấy, rồi đức Phật cũng thương,
tìm đủ mọi cách dìu dắt phát triển thành tâm Bồ-tát, giáo hóa cho Pháp
Nhất thừa và rồi sẽ thọ ký thành Phật.
Nên, sau đó đức Phật đã thọ ký cho
các Tôn giả này đều thành Phật trong tương lai
(11).
Và không những các đại Tỳ-kheo
Tăng được thọ ký thành Phật, mà các Tỳ-kheo đã hoàn thành tuệ giác vô
lậu của Thanh văn và chưa hoàn thành tuệ giác ấy, cũng đều được đức
Phật thọ ký thành Phật.
(12)
Chúng Thanh văn thuộc Tỳ-kheo ni,
như bà Đại Ái Đạo (Maha Ba-xà-ba-đề), bà Pháp Dự (Da-du-đà-la), cũng
đều được đức Phật thọ ký thành Phật
(13).
Như vậy, hàng Thanh văn tăng là
đối tượng đặc biệt và là đối tượng chủ yếu mà kinh Pháp Hoa nhắm tới
để chuyển hóa, khiến tất cả hai bộ Đại tăng của Thanh văn đều trở
thành Bồ-tát tăng, tu học pháp Nhất thừa và đều sẽ thành Phật trong
tương lai.
Do đó, đây là điểm độc đáo và đặc
biệt về cách nhìn nhận Tăng của Pháp Hoa.
Và đối với các Tỳ-kheo Tăng có
hạnh nguyện sống độc cư để quán chiếu sâu vào Pháp mười hai duyên
khởi, thấy lưu chuyển của mười hai duyên khởi là Khổ đế và Tập đế, và
thấy rõ sự hoàn diệt của Mười
hai duyên khởi là Diệt đế
và Đạo đế mà đoạn tận ái, thủ, hữu; đoạn tận vô minh và hành, hưởng
thụ đời sống tịch lạc độc cư trong hiện thế, thì đối với những vị
Thanh văn có chủng tính Duyên giác như thế, đức Phật cũng sử dụng
phương tiện thiện xảo giúp họ để tiến lên Bồ-tát thừa, trở thành
Bồ-tát tăng, rồi dạy cho họ Pháp Nhất thừa và sẽ thọ ký cho họ thành
Phật.
Như vậy, bằng mọi phương tiện, đức
Phật đã chuyển vận giáo đoàn tăng có nội dung Thanh văn và Duyên giác
trở thành giáo đoàn tu học có nội dung của Bồ-tát và trở thành giáo
đoàn Bồ-tát tăng, và từ giáo đoàn Bồ-tát tăng này, đức Phật dạy cho
Pháp Nhất thừa và thọ ký cho tất cả thành Phật.
Ở điểm độc đáo và đặc biệt này,
các nhà Phật học Pháp Hoa, gọi là “Hội tam quy nhất”. Nghĩa là chuyển
hóa và thống nhất cả ba thừa gồm: Thanh văn, Duyên giác và Bồ-tát
thành một thừa duy nhất, gọi là Nhất thừa hay Phật thừa.
Nên, Tăng qua cách nhìn của kinh
Pháp Hoa là giáo đoàn có nội dung của Bồ-tát.
Do đó, giáo đoàn ấy có khả năng
làm chỗ nương tựa cho tất cả mọi giới trong thế gian, có khả năng giữ
gìn chánh pháp, khiến cho hạt giống Phật pháp không bị ẩn một.
Và giáo đoàn tăng như vậy, không
những có khả năng gìn giữ mà còn có khả năng tuyên dương Diệu Pháp đến
mọi giới không những thế gian mà còn cả các giới xuất thế gian.
Chú thích:
1. Như Lai Thọ
Lượng phẩm, p.42, Hán, La Thập, Đại chánh tân tu 9
2. Phương tiện
phẩm, p.5, nt.
3. Kiến Bảo
tháp phẩm, p.32, nt.
4. Phương tiện
phẩm, p.8b, nt.
5. Pháp Sư
phẩm, p.31c, nt.
6. Phương tiện
phẩm, p.9b, nt;
6.1.Ngũ bách Đệ
tử thọ ký phẩm, p. 28a, nt.
7. Phương tiện
phẩm, p.10 , nt.
8. Phương tiện
phẩm, p.10a, nt.
9. Thí dụ phẩm,
p.10c, nt.
10. Tín giải
phẩm, p.16, nt.
11. Thọ ký
phẩm, p.20, nt.
12. Ngũ bách đệ
tử thọ ký phẩm, p.27, nt.
13. Thọ học vô
học nhân ký phẩm, p.29, nt.

  [BANTIN]
|