...... ... .  . .  .  .

Suzuki
T
uệ Sỹ
(dịch và bình chú)


1

Tùng Duyệt, toạ chủ chùa Đâu-suất[1], thường đặt ra ba câu hỏi sau đây để khảo nghiệm sở kiến của môn nhân về đạo lý của Thiền. 1) Ông bái phỏng từ chỗ này sang chỗ khác, chỉ cốt để thấy tánh[2]; vậy, ngay lúc này, tánh của ông ở đâu? 2) Biết được tự tánh mới có thể thoát khỏi sanh tử; nhưng khi ông chết rồi[3] làm sao thoát? 3) Thoát khỏi sinh tử là biết chỗ đến của mình; vậy khi tứ đại tan rã, chúng ta đi về đâu?

“Ta là cái gì?” “Ta ở đâu?” “Ta từ đâu đến?” “Ta đi về đâu?” Tất cả chỉ là một vấn đề duy nhất, mà cách hỏi khác nhau. Hiểu được một, sẽ giải quyết tất cả còn lại. “Ta là cái gì?” là một nghi vấn dò vào tự tánh (svabhāva) của thực tại, căn cơ của mọi sự vật chủ quan và khách quan. Khi nắm vững cái này chúng ta biết rõ mìmh đang ở đâu; nói thế có nghĩa là, chúng ta biết rõ mối quan hệ nào giữa ta với cảnh huống của ta, trải rộng trong không gian, và tiếp nối trong thời gian. Một khi đã xác định rõ điều đó, vấn đề sau khi chết sẽ không còn quấy nhiễu ta nữa, bởi vì sống và chết là những hạng từ tương liên, và chỉ có thể hiểu khi chúng được nhìn như thế. Sự thật, tất cả những nghi vấn từ này, “cái gì?” “ở đâu?” “từ đâu?” chỉ có ý nghĩa khi nào chúng được áp dụng vào đời sống tương đối của chúng ta trên mặt đất. Nhưng vào lúc chúng ta rời bỏ đời sống này, bị chi phối bởi thời gian, không gian và luật nhân quả, chúng ta sẽ rời bỏ luôn những nghi vấn từ đó, coi như chúng không xác đáng chút nào cả. Bởi vì, một cái nhìn soi thấy bản tánh thực tại, nó vén mở đời sống trong một khía cạnh hoàn toàn khác biệt, nơi đó không cần có những thắc mắc như thế về thế giới của tương đối này. Bởi lẽ đó, ba vấn đề của Tùng Duyệt có thể nói, một cách thiết yếu đơn sơ và giản lược thành câu hỏi “Tự tánh của bạn ở đâu?” Nghĩa là, đâu là trụ xứ – chỗ trú của bạn? – trụ xứ, nơi mà từ đó tất cả hoạt động của bạn dấy lên. Và trụ xứ đó là trú xứ của Bồ-tát, đề tài mà tôi muốn trình bày ở đây, chính yếu là theo các đoạn văn trong Gaṇḍvyūha.

Trên phương diện tâm lý, trả lời cho nghi vấn “ở đâu?” cho thấy thái độ tâm lý căn bản của ta đối thế giới khách quan một cách tổng quát, và trong Thiền nghi vấn này thường khóac hình thức “Bạn ở đâu đến?” Qua câu hỏi đó Thiền sư muốn thấy tăng đồ của mình tìm ra nơi trú ẩn tâm linh của họ tại đâu. Toàn bộ sự tu dưỡng của Thiền tông, có thể nói, cốt ở sự định vị này, cũng gọi là tìm tòi hay đào xới. Do đó, giác ngộ chẳng gì khác hơn là đụng tới cái lớp đáy bằng đá tự tánh của chính mình, nếu quả là có tự tánh đó. Cái hình thức mà Thiền tông đặt cho nghi vấn “ở đâu?”, là như vầy: “Bạn từ đâu đến?” Đây hoàn toàn là một câu hỏi khách sáo, nhưng với ai biết, người đó biết câu hỏi ấy đáng sợ đến mức nào. Câu hỏi ấy cũng có thể là “Bạn đi đến đâu?” “Từ đâu?” Những ai có thể trả lời đích đáng, những vị đó quả là đã tỏ ngộ.

Trần Tôn Túc[4], cũng gọi là Mục Châu, là nơi Sư thường cư ngụ; Sư thường hỏi tăng đồ của mình, “Ông ở đâu tới?” hay “Hạ vừa qua, ông an cư ở đâu?” Một thầy tăng nói: “Chừng nào Hòa thượng có chỗ thường trú, con mới  nói từ đâu đến.” Sư châm biếm: “Chồn cáo không thuộc giòng họ sư tử; một ngọn đèn không chiếu sáng như mặt trời hay mặt trăng.”[5]

Khi câu hỏi như vậy được hỏi một thầy tăng mới đến chùa, ông này trợn mắt nhìn Sư không nói một tiếng. Sư bảo: “Ôi, cái gã chạy theo sau ngựa!”[6]

Lần thứ ba, được đáp: “Bẩm hòa thượng, con từ Giang tây đến.” Sư nói: “Ông đã đi mòn hết bao nhiêu đôi dép [mà lại trả lời ngu ngốc thế] ?”

Lần thứ tư, Sư bảo: “Ông nói dối”[7] khi y nói là từ Ngưỡng Sơn đến. Ngưỡng Sơn là một Thiền sư danh tiếng đương thời.

Linh thọ Như Mẫn[8], có một thầy tăng hỏi, “Sinh quán[9] của Hòa thượng ở đâu?”

Sư đáp, “Mặt trời mọc phía Đông, mặt trăng lặn phía Tây”.

Đại tùy Pháp Chân hỏi một thầy tăng, “Ông đi đâu?” Thầy tăng đáp: “Đi lễ đức Phổ Hiền (Samantabhadra).”

Sư đưa cây phất tử lên, nói: “Văn-thù (Mañjuśrī), và Phổ Hiền (Samantabhadra) đều ở trong đây hết.”

Thầy tăng làm dấu viên tướng, vẽ một vòng tròn giữa không trung, ném ra phía sau, rồi kính cẩn làm lễ Sư.

Sư gọi: “Thị giả, mang một tách trà cho ông tăng này.”

Lúc khác, cũng câu hỏi đó, một thầy tăng đáp: “Đi về am ở núi Tây.”

Sư hỏi: “Nếu tôi đứng bên này núi Đông mà gọi, ông có đến được không?”

Tăng đáp: “Sao có thể được?”

Sư bảo ông rằng ông chưa ở yên nơi am được (vì chưa là một bậc thầy thực thụ).

Khi Linh Huấn, ở Phúc châu,[10] sắp từ giã tôn sư Quy Tông[11]. Tông hỏi: “Ông đi đâu?”

Huấn: “Con trở về Lĩnh trung.”

Tông: “Con ở đây với thầy đã lâu năm; khi nào sửa soạn khăn gôi để đi, hãy lên đây giây lát với thầy. Thầy sẽ giảng Phật pháp cho con.”

Huấn sửa soạn khăn gói xong, lên chỗ Sư. Sư bảo: “Lại gần đây.” Huấn bước tới, trong khi đó, Tông nói: “Giờ đang mùa lạnh, khéo giữ mình trong lúc đi đường.”

Câu trả lời của Lâm Tế[12] cho Hoàng Bá, tôn sư của ngài, là một trong những câu trả lời danh tiếng nhất đối với câu hỏi: “Bạn đi đâu?” Ngài đáp: “Nếu không đến Hà Nam thì cũng đến Hà Bắc”.

Đương nhiên là câu hỏi “ở đâu?” có khi được diễn tả bằng mối liên quan đến chỗ ngụ của Thiền sư. Trong trường hợp này, người hỏi thường là một thầy tăng muốn biết đâu là những cảnh sắc (cảnh) của tăng viện, nơi Thiền sư đang ngụ. Hán ngữ, cảnh , ngoài nghĩa “phong cảnh”, “trường sở”, “địa vực”, “giới hạn”, hay “lãnh vực”, thường được dùng tương đương với chữ “gocara” hay “viśaya” trong tiếng Phạn. Viṣaya là “lãnh thổ trường”, “lãnh vực”, “khu vực”, “phạm vi”, “trú xứ”. Còn gocara là “đồng cỏ chăn thú”, “môi trường hành động”, “nơi cư ngụ”, “trú xứ”. Khi mang một ý nghĩa chủ quan, như ở trong văn học Phật giáo, nó là một thái độ tâm linh hay tâm thần đặc sắc chung nơi con người khi có bất cứ kích thích nào xảy ra. Nhưng nói một cách nghiêm xác, các Phật tử Thiền tông không xem “gocara” hay “cảnh” chỉ là một thái độ hay là một xu hướng của tâm; mà coi nó như là một thành phần cốt yếu hơn thiết lập căn cơ đích thực cho thể tánh của mình, nghĩa là, một môi trường mà ở đó, người ta, trong ý nghĩa sâu xa nhất, sống và vận động và có lý do hiện hữu của mình. Môi trường đó, chính yếu, được xác định bởi chiều sâu và độ sáng của những trực giác tâm linh của y. “Cảnh tăng viện của bạn ra sao?” do đó có nghĩa là “Sở ngộ của bạn về chân lý cứu cánh của Phật pháp là gì?” Trong khi những câu hỏi như ‘Từ đâu?”, ‘Ở đâu?” hay “Về đâu?” được đặt ra cho một thầy tăng tầm sư phỏng đạo, thì những câu hỏi nhắc đến chỗ ngụ, chỗ ở, địa hình hay phong cảnh, được đặt ra cho một bậc thầy không thấy cần vân du tìm chốn nghỉ ngơi cuối cùng nữa. Do đó, cả hai loại câu hỏi này, trên thực tế đều như nhau.

Thương khê Liên[13] được hỏi về phong cảnh Thương khê, đáp: “Con nước trước mặt chảy về Đông.”[14] Tương đàm Minh, đáp: “Núi liền Đại nhạc, nước tiếp Tiêu tương”[15]

Thái Khâm ở Kim lăng[16], khi ngụ tại Song lâm, trả lời như vầy: “Không vẽ nổi.”

Thanh Tích[17] chùa Vân cư, có vẻ không muốn trả lời cụ thể về phong cảnh của tăng viện mình,[18] nên hỏi ngược lại: “Ông nói cảnh, có nghĩa là gì?”[19] Rồi thầy tăng hỏi lại: “Ai là người ở tại đây?”[20] Sư có vẻ không muốn trò chuyện, mà chỉ vỏn vẹn nhận xét, “Tôi vừa nói với ông cái gì?”[21]

Tất cả những lối nói trên, đều nhắc đến trụ xứ của Bồ-tát đạo. Đường lối phô diễn của Thiền sư là chỗ đặc sắc của Thiền tông. Đối với các độc giả phổ thông, có lẽ khó liên kết những đối thoại trên đây với những mô tả sau này về trụ xứ của Bồ-tát, trích từ Gaṇḍavyūha. Để giúp quý vị đó hiểu, trước hết tôi xin trích một vài đoạn từ các kinh Đại thừa khác, cũng rất quen thuộc với chúng ta.

2

Trong nhiều kinh điển Đại thừa, người ta thường nhắc đến ý nghĩa “phát khởi tâm vô trụ”.[22] Thời danh nhất trong số đó, là câu nói trong kinh Kim Cang, mà truyền thuyết nói rằng đã làm cho Lục tổ Huệ Năng bừng tâm tỉnh ngộ; và kể từ đó, được các Thiền sư dùng để trình bày học thuyết của họ. Nguyên văn chữ Hán của câu đó là: Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm 應無所住而生其心 mà nguyên văn tiếng Phạn là na kvacit pratiṣṭhitam cittam utpādayitavyam.[23] Dịch thoát: “Hãy để cho tâm của ngươi khởi lên mà không cố định nó bất cứ ở đâu”. Citta, thường được dịch là tâm . [24] Hán ngữ tâm có nghĩa rất rộng, không chỉ có nghĩa là là tâm tưởng hay tâm trí, mà còn là “tâm yếu”; nó là một trong những chữ đắc dụng nhất và hàm súc nhất trong triết học Trung Hoa cũng như trong quán lệ thường nhật của Trung Hoa. Trong trường hợp này, “dựng tâm mình dậy mà không cố định nó bất cứ đâu” có nghĩa là “hoàn toàn tự chủ”. Một khi chúng ta còn tựa vào vật, ta không thể có tự do hoàn toàn, và thế rồi ý niệm về một bản ngã linh hồn hay một Thượng đế sáng tạo thường xuất hện và nắm chặt lấy chúng ta. Bởi lý do đó, chúng ta không thể hành động mà không buộc mình vào một cái gì – một trạng thái phụ thuộc và nô lệ. Đối với câu hỏi, “Bạn ở đâu?” chúng ta phải nói, “Tôi bị buộc vào một đầu cực”, và đối với câu hỏi, “Phong cảnh tăng viện của ngài ra sao?” thì nói, “Tôi lẩn quẩn giữa vòng tròn, mà đường kính là cả chiều dài của sợi dây buộc vào đầu cực.” Chừng nào sợi dây này chưa bị cắt đứt, chúng ta chưa thể hành sự tự do. Chiều dài của sợi dây có thể đo và vòng tròn đó có thể tính ra giới hạn. Chúng ta là những con rối nhảy múa trên một sợi dây do kẻ khác nắm. Nhưng một vòng tròn, với chu vi không biết bao đâu là giới hạn, vì không có tâm điểm và không có đường dây, phải nói quả là một vòng tròn hết sức rộng lớn, vì đây là chỗ Thiền sư chọn làm chỗ trú ngụ của mình. Vòng tròn đó, cái môi trường rộng không giới hạn và do đó không có tâm điểm cố định bất kỳ đâu, như thế là nơi chốn thích hợp cho Bồ-tát lấy làm trụ xứ.

Trong Bát-nhã Bát thiên tụng (Aṣṭasāhasrikā-Prajñāpāramitā)[25], chúng ta đọc: “Tâm của Như Lai không trụ bất kỳ đâu, không trụ trên các pháp (giới) hữu vi, không trụ trên các pháp (giới) vô vi, và do đó không hề rời khỏi sở trụ.”3 Nói “tâm vô trụ”, trên khía cạnh tâm lý, có nghĩa rằng thức khởi lên từ một nguồn mạch vô thức, bởi vì, theo đạo Phật, không có một thực thể tâm lý hay siêu hình nào được coi như là bản ngã linh hồn và thường được xem là làm căn cơ cho một cá thể để rồi trở thành điểm trụ cố định cho tất cả các hoạt động tâm lý của nó. Nhưng vì điểm trụ cố định này phải được loại bỏ để đạt tới cảnh Phật, nên các kinh Đại thừa, nhất là bộ Bát-nhã, chú trọng toàn bộ giáo nghĩa trên lý Tánh Không. Bởi vì, chỉ bằng vào lẽ đó người ta mới có thể rứt mình ra khỏi điểm trụ cố định và vĩnh viễn thoát ngoài những xiềng xích của luân hồi.

Đạo Phật, vốn là một lối luyện tập tâm linh thực tiễn, bất cứ điều gì được phát biểu đều là những phát biểu trực tiếp từ chứng nghiệm, không cho phép có sự can thiệp của lối giải duy trí hay siêu hình nào ở đây. Nhưng có lẽ khá kỳ quái và ngược đời, khi ta nói rằng phải dựng dậy cái tâm mà không có điểm trụ cố định nào ở đằng sau bó, y như một đám mây phiêu bạt giữa trời, không có đinh hay móc gì cả để buộc nó vào. Nhưng một khi ta nắm được ý nghĩa đó, thì ý niệm vô trụ hoàn toàn lộ rõ ngay. Trên đại thể, tốt hơn cứ để nguyên những diễn tả cố hữu, độc giả tự cảm nghiệm lấy. Phiên chuyển thành thuật ngữ hiện đại rất thường được ưa chuộng, nhưng khả tính lý hội dễ đạt được như thế thường là kết quả của quá trình trừu tượng hóa hay suy lý. Sở đắc đó dĩ nhiên có nghĩa là làm mất đi sự hình tượng hóa cụ thể; chỗ mất có lẽ khá trầm trọng hơn chỗ được.

Trong kinh Duy Ma Cật (Vimalakīrti) cũng vậy, chúng ta có những đoạn như: “Bồ-đề không trụ, do đó không sở đắc.”[26] Hay “Y theo cội nguồn không trụ mà hết thảy các pháp được thành lập.”[27] Và trong kinh Thủ-lăng-nghiêm (Śūraṅgama): “Những vị Bồ-tát như thế lấy tất cả cõi Phật làm trụ xứ, nhưng không dính mắc vào trụ xứ này, vì trú xứ ấy vốn không thể đắc, không thể thấy.”[28] Những diễn tả theo loại này được tìm thấy bất cứ đâu trong kinh điển Đại thừa.

Lại nữa, các kinh Bát-nhã Ba-la-mật, vốn có khuynh hướng nói bằng những phủ định, có một đoạn như sau: “Pháp mà Như Lai tuyên thuyết vốn bất khả đắc, không chướng ngại như hư không, không dấu vết (pada); pháp đó vượt ngoài tất cả những hình thức đối nghịch, pháp không đối đãi, pháp vượt ngoài sinh tử, pháp không đường để đi đến. Pháp đó chỉ chứng được với những ai theo Như Lai vì là tùy thuận với Chân Như (tathātā). Bởi vì, Chân Như vốn không sinh, vượt ngoài đến và đi, thường trú (sthititā), không biến dịch, không phân biệt (nirvikalpā), tuyệt đối độc nhất, không có dấu vết của tâm hành, v.v...” [29] Vì rằng Pháp (dharma) của Như Lai không thể định nghĩa bằng khẳng định, nên các kinh Bát-nhã Ba-la-mật đưa ra một tràng phủ định. Chỉ có một cách khẳng định duy nhất, là nói, tathatā: như như, như thế là như thế. Ai hiểu, chỉ nói thế là đủ nghĩa; còn theo quan điểm luận lý nó có thể không có ý nghĩa gì, có thể cho là rỗng tuếch. Đấy là điều không thể tránh; vì những gì thuộc trực giác đều vậy cả, và hết thảy chân lý thuộc về ý thức tôn giáo, dù thoạt trông có vẻ hợp lý trí, kỳ cùng vẫn nằm trong lớp thuật ngữ đó. “Tôi là gì?” “Tôi ở đâu?” hay “Tôi bị buộc vào đâu?”, đó là những câu hỏi do trí óc dựng lên, nhưng sự giải quyết không hoàn toàn hợp lý. Nếu không phải là một tràng phủ định, nó thuần là bí nhiệm, bất chấp đường lối lãnh hội thông thường. Trong khía cạnh này, kiểu nói của Thiền là sáng giá nhất. Ta hãy ghi nhận sau đây để kết luận phần giới thiệu mô tả của Gaṇḍavyūha về trụ xứ của Bồ-tát.

Tam Thánh,[30] đệ tử của Lâm Tế, lần nọ, sai Tú Thượng toạ[31] đền Trường sa Cảnh Sầm, truyền nhân của Nam Tuyền, dạy hỏi Cảnh Sầm rằng: “Khi Tiên sư Nam Tuyền chết, ngài đi về đâu?”

Cảnh Sầm đáp: “Lúc Thạch Đầu (700-790) còn làm sa-di, thân hành hầu hạ[32] Lục Tổ.”[33]

Đây chỉ là nhắc lại một sự kiện lịch sử. Thạch Đầu còn là một chú bé khi Lục Tổ Huệ Năng còn sống; và khi Huệ Năng mất, chỉ mới mười ba. Về sau, học Thiền với Hành Tư, rồi trở thành một trong những Đại sư của đương thời. Nhưng, chỉ nhắc lại một sự kiện lịch sử như thế, về một biến cố có lẽ đã trăm năm qua, có liên hệ gì đến Nam Tuyền quá cố chăng? Trong một ý hướng nào đó, câu hỏi hình như nói đến một vấn đề rất nghiêm trọng, đâu có thể coi nhẹ như thế, hay nếu bạn muốn, bí nhiệm như thế. Bạn có thể phản đối, có liên hệ nào giữa việc thầy tôi qua đời và việc tên hầu cận của tôi đang được sai đi mua văn phòng phẩm gì đó, chẳng hạn?

 Tú, vị tăng được Tam Thánh sai hỏi, đâu có được sai đi dễ dàng thế; dĩ nhiên, ông muốn lấy được thứ gì mà Cảnh Sầm có. Thế rồi, phát bắn thứ hai: “Tôi không hỏi chuyện Thạch Đầu làm sa di mả hỏi Nam Tuyền đi về đâu sau khi chết?”

Cảnh Sầm đáp: “Để cho y suy nghĩ đã.”

Tú nói: “Hòa thượng như một gốc thông già đứng trong trời đông lạnh, nhưng chả có đọt măng nào từ tảng đá chui lên cả.” [34]

Cảnh Sầm im lặng.

Tú nói: “Xin cảm ơn lời đáp của Hòa thượng.”

Sư vẫn im lặng.

Tú thuật lại cho Tam Thánh. Tam Thánh bao: “Nếu thiệt vậy, Cảnh Sầm nhất định qua mặt Lâm Tế hơn bảy bước. Mà này, đợi để ta thân hành nghiệm xem”.

Ngày hôm sau, Tam Thánh lên viếng Cảnh Sầm và nói: “Có nghe kể hôm qua Hòa thượng có một lời đáp về Nam Tuyền sau khi chết, đáng cho là không tiền khóang hậu, kim cổ ít nghe.”

Rồi sư cũng im lặng nữa.

Ở đây có thể dẫn một bài dân ca Nhật Bản:

來るか,來るか.

 濱に 出て見れば.

濱は松風,

音ばかり

Chàng đến ư? Chàng đến ư?

Bên bờ sông tôi đi gặp chàng chừ.

Nhưng bên bờ sông chỉ có ngọn gió đưa

Reo vang giữa đám thông già.[35]

Bài thơ dưới đây trích từ Đường thi tuyển cũng rọi một tia sáng lên chỗ ngộ Thiền của Cảnh Sầm:

松下問童子,

言師採藥去。

只在此山中,

雲深不知處。

Tùng hạ vấn đồng tử

Ngôn sư thái dược khứ

Chỉ tại thử sơn trung

Vân thâm bất kiến xứ[36]

Gốc thông hỏi chú tiểu đồng;

Rằng thưa sư phụ lên rừng hái cây.

Rừng xa một khoảng mây dày; 

Trông theo ai biết dấu hài về đâu?

Khi mà tri thức không đủ sức đưa ra một bản kê phân tích xác thực về chân lý, chúng lại cậy nhờ đến tưởng tượng, nó đi sâu hơn, vào cơ cấu của thực tại. Thực tại, cố nhiên không chịu tự phơi bày trước tri thức, vì nó là một cái không hề cùng tận.Tính bất khả tri nơi đây không nên gán vào lãnh vực luận lý, mà nên đặt vào nơi nào có thể tạo nên huyễn tượng. Trên phương diện trí năng thì khá mông lung đấy, nhưng tự căn bản, cảnh vực của những cái bất khả tư nghị này quả là thoả mãn. Tri thức phấn đấu để thâm nhập khu trù mật của sương mù huyền bí, hay để định xem cơn gió phiêu hốt từ đâu đến, nhưng bí ẩn vẫn chưa hề được vén mở.

Sau khi nghiệm xét nguyên lý sinh hoạt điều hành những hoạt động của Bồ-tát theo nhận định của các Thiền sư cũng như theo quan điểm của các nhà soạn tập kinh điển Bát-nhã, v.v..., chúng ta hãy thử xem nó được mô tả ra sao trong Gaṇḍavyūha. Thiền sư không dùng những tiếng trừu tượng như: nguyên lý của sự sống, hay nguyên tắc sinh hoạt; lúc nào sư cũng lấy những biến cố thường nhật, và những sự vật cụ thể  ở chung quanh, mà tăng đồ của sư cũng rất quen biết. Khi sư hỏi họ, từ đâu đến hay đi đâu; tức khắc, bằng trả lời, sư có thể bảo cho biết đâu là trụ xứ của họ, nghĩa là, cái gì đẩy ngay họ đến một tập hợp xác định của những hành vi. Có thể coi phương pháp luyện tập này là quá khó đối với những tâm trí phổ thông, khó nắm những gì thực sự ở đằng sau nó.

Những người chưa hề quen với  lối diễn tả các điều kiện tâm linh của mình theo cách đó, sẽ không dễ gì nắm vững giáo nghĩa vô trụ này. Bắt tâm trí họ hành sự mà không cần có cái gì ở đằng sau, không cần buộc vào một tâm điểm, cái đó có vẻ chỉ như một sáo ngữ. Khi chúng ta bảo rằng trụ xứ của Bồ-tát đích thực là không trụ xứ, rằng Bồ-tát cố định ở chỗ không cố định, rằng ngài lang thang hay lơ lửng như một cụm mây trời không cần có hậu cứ, nói thế có vẻ như không nói gì hết. Nhưng đó là đường lối mà các nhà Đại thừa Phật giáo đã tự luyện tập trong đời sống hành đạo của họ; không thể áp dụng những quy luật chuẩn mực của pháp thức suy luận vào đó.

Có lẽ đến đây chúng ta đã sẵn sàng để thấy những gì có thể lượm lặt từ Gaṇḍavyūha về đề tài này: “Đâu là trụ xứ của Bồ-tát?” Đó là điều mà chúng ta có ý định khám phá ngat từ đầu, nhất là trong sự tương phản với mà Thiền xử lý cùng thể tài ấy. Trong Gaṇḍavyūha vấn đề “Ở đâu?” dựng ra trước mắt ta dưới hình thức một cái tháp gọi là “Tì-lô-giá-na Trang nghiêm tạng Đại lâu các” (Vairocana vyūha-alankāra garbha), ngô tháp được trang nghiêm bằng những bảo vật ngời sáng. Thiện Tài (Sudhana), nhà chiêm bái trẻ tuổi, đứng trước tháp và mô tả theo như mình đang nhìn thấy, đồng thời biết rằng đó là chỗ trú của Bồ-tát Di-lặc (Bodhisattva Maitreya). Mô tả không theo lối khách quan; nó căn cứ trên những tư lự của khát vọng trẻ trung đối với Bồ-tát đạo, những tư lự được rút ra từ tất cả kinh nghiệm quá khứ của mình và tất cả những pháp môn đã học được suốt trong cuộc chiêm bái dài của mình. Khi Tháp Vairocana được mô tả như là trú xứ (vihāra) của Di-lặc (Maitreya), những đặc tính được kể ở đây không chỉ áp dụng cho riêng ngài Di-lặc, mà cho hết thảy Bồ-tát quá khứ, hiện tại và vị lai, luôn cả các Thiền sư đã thực sự chứng đạt giác ngộ tâm linh. Nói tóm, Tháp (Tháp) đó là trụ xứ của tất cả các bậc Đạo sư đã từng theo gót Phật. Tất cả những gì được nói ở đây không phải là ý riêng của Thiện Tài về cái chỗ mà Bồ-tát phải có để làm chỗ trụ của tâm linh, mà thực tình nó là lý tưởng của Đại thừa.

3

“Đại tháp[37] này là trụ xứ của những ai đã hiểu ý nghĩa Không, Vô tướng và Vô nguyện; của những ai đã hiểu rằng hết thảy các pháp đều là vô phân biệt, rằng Pháp giới vốn là vô sai biệt, rằng chúng sinh giới vốn là bất khả đắc, rằng hết thảy pháp vốn là vô sinh.

“Đây là trụ xứ của những ai không ràng buộc vào một thế gian nào, coi tất cả thế giới đáng ở như là không nhà để ở; những ai không ham thích thân cận, nương tựa, phụng hiến, những ai đã trừ khử hết những tâm niệm tham dục xấu xa.

“Đây là trụ xứ, nơi thường thích ở đối với những ai biết rằng hết thảy các pháp đều không tự tánh; những ai không phân biệt pháp theo bất cứ loại tướng nào; những ai đã lìa hết thảy những tâm tưởng ý thức; những ai không bị dính mắc cũng không rời bỏ hết thảy tâm tưởng.

“Đây là trụ xứ thường được ưa thích đối với những ai thâm nhập Bát-nhã Ba-la-mật đa; những ai khéo dùng phương tiện trụ nơi Pháp giới mở rộng mọi chiều kích;[38] những ai đã dập tắt hết thảy ngọn lửa phiền não; những ai đã dùng tăng thượng huệ đoạn trừ hết thảy kiến, ái và mạn; những ai đã sống một cuộc đời vui thú xuất từ các Thiền định (dhyāna), Giải thoát, Tam-muội (samādhi), Chánh thọ (samaptti), Thần thông và Minh huệ; những ai khơi mở hết thảy cảnh giới tam-muội của Bồ-tát; những ai đang bước theo con đường của hết thảy chư Phật.

“Đây là trụ xứ, nơi thường được ưa thích đối với những ai đem một kiếp để vào trong hết thảy kiếp và hết thảy kiếp vào trong một kiếp; những ai đem một quốc độ (kṣetra) để vào trong hết thảy quốc độ và hết thảy quốc độ vào trong một quốc độ, mà không làm hư hại bản tướng của nó; những ai đem một pháp vào trong hết thảy pháp và hết thảy pháp vào trong một pháp, mà mỗi pháp không bị hư hoại bản tướng; những ai đem một chúng sinh (sattva) vào trong hết thảy chúng sinh và hết thảy chúng sinh vào trong một chúng sinh, mà không làm hư hoại bản tướng; những ai hiểu rằng không có sự phân hai giữa Phật và hết thảy Phật, giữa hết thảy Phật và một Phật; những ai đem hết thảy các pháp vào trong một niệm sát na; những ai du hành hết thảy khắp quốc độ bằng móng khởi một niệm; những ai hiện thân khắp nơi nào có hiện hữu chúng sinh; những ai thường tâm niệm làm lợi ích và vui vẻ khắp cả thế gian; những ai hoàn toàn tự thủ hộ, tự tác chủ.

“Đây là trụ xứ của tất cả các ai, dù đã tự mình giải thoát, mà vẫn hiện thân vào thế gian này để giáo hóa hết thảy chúng sinh; những ai không còn bị ràng buộc vào một quốc độ nào, nhưng vì để cúng dường hết thảy các Như Lai, nên du hành khắp hết thảy quốc độ; những ai, không động bản vị, mà du hành khắp nơi để trang nghiêm làm đẹp cho hết thảy cõi Phật; những ai, dù thân cận hết thảy chư Phật, không dính mắc tâm vào một vị Phật; những ai, dù y chỉ hết thảy thiện tri thức, mà không dính tâm vào một thiện tri thức nào; những ai, dù sống giữa loài ma quỷ, mà không đắm trước cảnh giới dục lạc; những ai, dù thâm nhập hết thảy các loại tâm tưởng, mà tâm không bị ràng buộc vào đó; những ai, dù tùy loại hiện thân trong thế gian, nhưng tâm không phân biệt tự tha; những ai, dù hiện thân không phân biệt tự tha; những ai, dù hiện thân trong các thế giới (lokadhātu), mà không rời Pháp giới (dharmadhātu); những ai, dù nguyện sống trọn tất cả thời gian vị lai, mà không có ý tưởng dài vắn; những ai tự hiện thân khắp hết thảy thế gian mà không động một mảy lông tự bản xứ của mình.

“Đây là trụ xứ của tất cả những ai diễn giảng Pháp (dharma) khó bắt gặp; những ai vui hưởng pháp khó hiểu, sâu xa, không hai, không tướng, không đối đãi, vô sở đắc; những ai trụ trong đại từ và đại bi; những ai không bị đắm chìm trong cảnh giới của hết thảy Thanh văn (Śrāvaka) và Bích-chi-Phật (Pratyekabuddha); những ai đã siêu quá cảnh giới của hết thảy ma quỷ; những ai không bị nhiễm ô bởi pháp thế gian nào; những ai đã đi đến chỗ đến của hết thảy Bồ-tát, chỗ chứa nhóm hết thảy các Ba-la-mật, chỗ hết thảy các đức Như Lai đang an trụ.

“Đây là trụ xứ của tất cả những ai lìa bỏ hết thảy các tướng và siêu quá quả vị của hết thảy Thanh văn; những ai an hưởng hết thảy pháp vô sinh, nhưng cũng không dừng lại nơi pháp vô sinh; những ai tuy quán bất tịnh mà không chứng pháp lìa tham dục, dù không hề bị dính mắc vào tham dục; tuy từ bi mà không chứng pháp lìa sân hận, dù không dính pháp sân hận; tuy quán duyên khởi mà không chứng pháp lìa si hoặc, dù không dính mắc pháp si hoặc; những ai tuy tu bốn thiền mà không thọ sinh vào cõi lạc thọ của các thiền; tuy hành bốn vô lượng vì để giáo hóa chúng sinh mà không sinh vào sắc giới; những ai tụ tập bốn vô sắc định vì để bảo bọc hết thảy chúng sinh bằng tâm đại bi, mà không sinh vào vô sắc giới; những ai siêng tu chỉ quán (śamatha-vipaśya), vì là để giáo hóa chúng sinh, mà không chứng minh huệ và giải thoát; tuy thực hành xả li mà không xả li việc giáo hóa chúng sinh; những ai tuy quán Không mà không khởi cái thấy Không; tuy hành Vô tướng mà thường giáo hóa chúng sinh còn dính mắc tướng; tuy hành Vô nguyện mà không xả hạnh nguyện Bồ-đề; những ai, tuy đã tự tại trong hết thảy nghiệp và phiền não, vì giáo hóa chúng sinh mà thị hiện tùy thuận các nghiệp và phiền não; tuy không sinh tử, vì giáo hóa chúng sinh mà thị hiện chịu sinh tử; tuy đã lìa hết thảy các nẻo thọ sinh, vì giáo hóa chúng sinh mà thị hiện thác sinh vào các nẻo thọ sinh; những ai tuy thực hành từ tâm mà đối với chúng sinh mà không hề ái luyến; tuy thực hành bi tâm mà đối với các chúng sinh không hề chấp thủ; tuy thực hành hỉ tâm mà quán chúng sinh khổ não tâm hằng thương xót; tuy hành xả tâm mà không bỏ việc làm lợi ích kẻ khác; những ai tuy hành chín thứ đệ định mà không nhàm chán việc thọ sinh ở Dục giới; tuy biết hết thảy các pháp không sinh, không diệt, mà không hiện chứng ngộ nơi thực tế (bhũtakoṭi); tuy vào ba giải thoát môn, mà không chấp thủ giải thoát của Thanh văn; tuy quán bBốn Thánh đế mà không trụ nơi thánh quả Tiểu thừa; tuy quán lý duyên khởi sâu xa mà không trụ nơi cứu cánh tịch diệt; tuy tu Thánh đạo tám chi mà không mong vĩnh viễn diệt trừ các uẩn; tuy siêu xuất bốn loài Ma[39] mà không phân biệt các Ma; tuy không dính mắc sáu xứ (āyatna) mà không cần vĩnh viễn diệt trừ sáu xứ; tuy an trụ Chân Như, mà không lọt vào thật tế; tuy thuyết hết thảy Thừa mà không bỏ Đại thừa. Đây quả là trụ xứ của những ai đầy đủ các đức tính như thế.”

4

Rồi Thiện Tài Đồng tử đọc lên các bài kệ sau đây: 

Đây trú xứ Từ Thị tôn quý (Maitreya),

Đại bi, tịnh trí, lợi quần sinh,

Con trưởng Đại Hùng Quán đỉnh vị (abhiṣekha),[40]

Nhập trong cảnh giới chư Như Lai.

 

Đây trụ xứ của hàng Vô đẳng,

Là con của Phật, danh vang dội,

Đã vào cảnh giới huệ, giải thoát,

Du hành Pháp giới, không tham nhiễm.

 

Đây trụ xứ của hàng tự tại,

Đầy đủ thí, giới, nhẫn, định, huệ,

Phương tiện, thệ nguyện, lực, thần thông,

Đủ các Ba-la-mật Đại thừa.

 

Đây trụ xứ bậc trí vô ngại,

Với tâm rộng lớn như hư không;

Biết khắp hết thảy pháp ba đời,

Biết tường tận thọ sinh, các hữu.

 

Đây trụ xứ của hàng đại trí,

Khéo hiểu rõ hết thảy các pháp

Vô tánh, vô sinh, vô sở y;

Tự tại như chim bay giữa trời.

 

Đây trụ xứ của bậc tịch tĩnh

Biết rõ ba độc không thật tánh

Phân biệt nhân duyên, hư vọng khởi;

Cũng không nhàm chán mong xuất li.

 

Đây trụ xứ bậc phương tiện trí

Biết ba Giải thoát, tám Thánh đạo,

Các Uẩn, Xứ, Giới và Duyên khởi,

Mà vẫn không rơi vào tịch diệt.

 

Đây trụ xứ của bậc tịch diệt,

Bằng trí vô ngại quán sát khắp

Mười phương quốc độ và chúng sinh

Biết là vô tánh, không phân biệt.

 

Đây trụ xứ của bậc vô y,

Đi khắp Pháp giới không trở ngại,

Mà không thấy có bản tánh đi;

Như gió giữa trời không lối đi.

 

Đây trụ xứ của đấng yêu thương,

Thấy khắp quần sinh trong ác đạo

Chịu các khổ sở không nương tựa,

Phóng ánh sáng đại từ trừ diệt.

 

Đây trụ xứ của bậc Đạo sư

Thấy các chúng sinh lạc nẻo chính,

Như người mù tối dẫm lối hiểm,

Dẫn họ vào thành trì giải thoát.

 

Đây trụ xứ của bậc dũng kiện,

Thấy chúng sinh lọt lưới ma quỷ,

Sinh, già, bịnh, chết hằng bức bách;

Khiến họ giải thoát các uẩn khổ.

 

Đây trụ xứ bậc đại y vương,

Thấy chúng sinh vướng bịnh mê hoặc;

Nên mở lòng đại bi rộng lớn

Đem thuốc trí tuệ mà trừ diệt.

 

Đây trụ xứ của đại thuyền sư,

Thấy chúng sinh chìm đắm biển hữu,

Trôi nổi lo sợ, chịu các khổ,

Nên đem Pháp thuyền đến cứu vớt.

Đây trụ xứ bậc khéo chài lưới,

Thấy chúng sinh chìm biển mê hoặc,

Nên vào trong đó mà vớt ra,

Khiến cầu Bồ-đề, thoát ái dục.

 

Đây trụ xứ bậc Kim sý vương (Garuḍa),

Hằng với con mắt đại bi nguyện,

Xem khắp hết thảy các chúng sinh

Mà vớt ra khỏi các biển hữu.

 

Đây trụ xứ bậc chiếu thế gian,

Như mặt trời, trăng giữa hư không;

Ánh sáng bi trí cũng như vậy,

Rọi sáng khắp Pháp giới chúng sanh.

 

Đây trụ xứ của bậc cứu thế,

Vì giáo hóa dù một chúng sinh,

Trải suốt vị lai vô lượng kiếp;

Vì cả thế gian cũng như thế.

 

Đây trụ xứ bậc kiên cố ý (vajcra);

Giáo hóa chúng sinh một quốc độ,

Suốt kiếp vị lai không ngừng nghỉ;

Khắp cả mười phương cũng như thế.

 

Đây trụ xứ bậc trí như biển,

Trải suốt vị lai không mệt mỏi,

Nghe hết pháp Phật trong mười phương;

Mỗi hội, ghi nhớ, rồi diễn thuyết.

 

Đây trụ xứ của các bậc tu hành,

Rảo khắp hết thảy biển thế giới,

Vào khắp hết thảy biển đạo tràng,

Cúng dường hết thảy biển Như Lai.

 

Đây trụ xứ của bậc công đức,

Tu hành hết thảy biển diệu hạnh,

Phát khởi vô biên biển đại nguyện;

Như thế trải suốt biển thời gian.

 

Đây trụ xứ bậc vô ngại nhãn,

Thấy suốt khắp cả vô lượng cõi

Trên đầu sợi lông, và thấy khắp

Bất khả thuyết Phật, chúng sinh kiếp.

 

Đây trụ xứ bậc đủ các đức (pāramitā),

Một niệm gói hết vô lượng kiếp,

Quốc độ, chư Phật và chúng sinh;

Trí tuệ vô ngại nên biết rõ.

 

Đây trụ xứ của bậc vô ngại,

Nghiền mười phương quốc độ thành bụi,

Nhiều như giọt nước trong biển cả;

Bồ-tát phát nguyện nhiều như vậy.

 

Đây trụ xứ của chân Phật tử,

Thành tựu môn tổng trì (dhārani), tam-muội (samādhi),

Đại nguyện (praāna), các thiền (dhyāna), và giải thoát (vimokṣa),

Mỗi mỗi đều trụ vô biên kiếp.

 

Trú xứ  vô lượng các Phật tử

Vì lợi thế gian mà thiết lập

Luận nghị, biện tài, và giáo thuyết,

Cùng các kỹ thuật, công xảo xứ.

 

Đây là trụ xứ của bậc vô ngại,

Thành tựu thần thông, phương tiện trí,

Tu pháp môn Như huyễn nhiệm màu,

Hiện thân khắp mười phương lục đạo.

 

Đây là trụ xứ bậc thần lực,

Bồ-tát từ khi mới phát tâm,

Tu hành đầy đủ hết thảy hạnh,

Hóa thân vô lượng khắp hư không.

 

Đây là trụ xứ bậc khó lường.

Thành tựu Bồ-đề trong một niệm,

Hnàh vô biên nghiệp bằng trí tuệ;

Thế trí nghĩ đến tất phát cuồng.

 

Đây trụ xứ của bậc ly cấu,

Trí tuệ vô ngại, bất tư nghì,

Biết rõ các pháp không sở y.

Du hành tự tại khắp pháp giới.

 

Đây trụ xứ của bậc vô tỉ,

Du hàn tự tại như hư không,

Vào các quốc độ,không ràng buộc,

Dùng trí vô nhị soi tỏ hết.

 

Đây trụ xứ của bậc bi mẫn,

Thấy khắp quần sinh chịu các khổ,

Phát tâm trí tuệ đại nhân từ,

Nguyện thường lợi ích các thế gian.

 

Đây trụ xứ của các con Phật,

Thị hiện như mặt trời, mặt trăng

Trước khắp chúng sinh; trừ bóng tối,

Thoát lưới sinh tử bằng Thiền, Giải thoát.

 

Đây trụ xứ con Phật,

Theo gót chân chư Phật,

Hiện thân khắp quốc độ

Trải qua vô biên kiếp,

 

Đây trụ xứ con Phật,

Tùy căn cơ chúng sinh,

Hóa thân như mây trời,

Thị hiện khắp khắp mười phương.

 

Đây trụ xứ Đại sỹ,

Đã vào cảnh giới Phật,

An trụ và du hành

Vô số kiếp không mỏi.

 

Đây trụ xứ của bậc,

Biết rõ tướng tam-muội,

Vô lượng vô phân biệt;

Thâm nhập, hiện Phật cảnh. 

 

Đây trụ xứ của bậc,

Bằng trí tuệ quảng đại,

Trong một niệm biết rõ

Vô lượng kiếp, Phật danh.

 

Đây trụ xứ của bậc

Một niệm suốt số kiếp;

Tùy tâm tưởng thế gian,

Không ức tưởng phân biệt.

 

Phật tử trụ ở đây

Tu tập các tam-muội

Trong mỗi mỗi tâm niệm

Biết rõ pháp ba đời.

 

Phật tử trụ ở đây

Kiết già, thân không động,

Hiện khắp hết thảy cõi

Trong hết thảy các nẻo.

 

Đây trú xứ Ngưu vương,

Uống biển pháp chư Phật,

Vào sâu biển trí tuệ,

Đầy đủ biển công đức.

 

Phật tử trụ ở đây

Biết con số các cõi

Các đời và chúng sinh

Và số danh hiệu chư Phật.

 

Phật tử trụ ở đây

Trong một niệm tất biết

Quốc độ thành hay hoại

Trong hết thảy ba đời.

 

Phật tử trụ ở đây

Tu tập Bồ-tát đạo

Noi gương hạnh nguyện Phật

Và tùy căn tánh chúng sinh.

 

Trong mỗi một hạt bụi

Thấy đại dương quốc độ

Chúng sinh, kiếp, như bụi

Lẫn lộn mà không ngại nhau.

 

Một hạt bụi như thế

Tất cả thảy bụi cũng thế

Tất cả đều chứa đủ

Thảy đều không ngại nhau.

 

Phật tử trụ ở đây

Quán khắp hết thảy pháp

Chúng sinh, cõi, thời gian

Không sinh, không tự tánh.

 

Quán sát lý bình đẳng

Nơi chúng sinh, nơi pháp,

Như lai, quốc độ và nguyện

Và thời gian, thảy bình đẳng.

 

Phật tử trụ ở đây

Giáo hóa các quần sinh

Cúng dường các Như Lai

Tư duy các pháp tánh.

 

Vô lượng nghìn vạn kiếp

Tu tập, nguyện, trí, hành;

Bao la không kể xiết

Khen ngợi cũng không cùng.

 

Các bậc dũng mãnh vĩ đại đó,

Đã thành tựu vô số hành,

An trụ nơi tháp này;

Con chắp tay kính lễ.

 

Con nay cung kính lễ

Đức Di-lặc tôn quí

Là con trưởng chư Phật,

Thành tựu vộ ngại hành,

Trí vô lậu, vô tướng;

Mong ngài đoái tưởng con.

5

Bấy giờ[41] Thiện Tài thỉnh cầu Bồ-tát Di-lặc mở Tháp và cho phép mình bước vào. Bồ-tát đến trước tháp và búng ngón tay, và kìa! cửa mở ra. Thiện tài hết sức hoan hỉ bước vào, rồi thì cửa tự động khép lại cũng nhiệm màu như khi mở ra!

Bấy giờ, một quang cảnh hiện ra trước mắt, lạ thay!

Tháp rộng rãi bao la như hư không. Mặt đất được dát bằng vô số đá quý đủ loại, và ngay giữa tháp có vô số cung điện, vo số cửa lớn, vô số của sổ, vô số thềm cấp, vô số lan can, vô số đường đi, tất cả đều được làm bằng bảy báu. Lại có vô số phướn, lọng, dây giăng, lưới, đủ loại màn buông, cũng làm bằng vô số các thứ châu báu. Vô số chuông nhỏ reo vang trong gió, rải vô số các thứ hoa trời, treo vô số giải tràng hoa, đặt khắp nơi vô số lư hương, mưa vô số lá vàng ròng, treo vô số mắt gương báu, đốt vô số ngọn đèn, giăng vô số áo đẹp, làm vô số bảo trướng, đặt vô số bảo tòa bên trên phủ vô số lụa quý.

Lại cũng có vô số hình tượng, làm bằng vàng ròng diêm-phù-đàn (jambūnada) hay bằng các châu ngọc – tượng ngọc nữ, tượng Bồ-tát, v.v...

Vô số loài chim đẹp đang hát du dương, vô số hoa sen nhiều màu nở rộ, vô số cây báu được trồng thành hàng đều đặn, vô số ngọc ma-ni phóng các tia sáng chói lọi – và như thế, khắp cùng cả Tháp có vô lượng a tăng kỳ các thứ đá quý được dùng để trang hoàng.

Và phía trong Tháp rộng lớn, huy hoàng tráng lệ này, cũng có hàng trăm nghìn vô số tháp, mỗi tháp đó cũng huy hoàng tráng lệ như Tháp chính, và cũng rộng lớn như hư không. Và hết thảy vô số tháp này, không đứng riêng rẽ với nhau; mỗi cái y nguyên bản vị tồn tại của nó trong sự hòa điệu toàn diện với tất cả tháp khác; ở đây, không có gì cản trở tháp này hỗn nhập tháp nọ, riêng và chung; có một trạng thái hỗn giao toàn diện, nhưng hoàn toàn có trật tự. Thiện Tài Đồng tử thấy mình trong hết thảy các tháp, cũng như trong mỗi một tháp, trong cái một bao hàm tất cả và tất cả bao hàm một.

Khi thấy mình ở trong cảnh kỳ diệu này, với tâm trí bay lượn từ cái màu nhiệm này đến cái màu nhiệm nọ, niềm vui của Thiện Tài không biết đâu là bờ đến. Rời hết thảy các tưởng, trừ hết thày các chướng, diệt hết thảy các hoặc; vì bấy giờ đang ở giữa môn vô ngại giải thoát không giới hạn.

Được gia trì bời uy lực của Bồ-tát Di-lặc, Thiện Tài tự thấy mình có trong hết thảy các tháp, đồng thấy đủ các cảnh giới tự tại bất khả tư nghị, về cuộc đời của Bồ-tát Di-lặc. Tức thì thấy Bồ-tát Di-lặc vừa mới phát tâm cầu chứng vô thượng Bồ-đề; thấy ngài có danh hiệu như vầy, chủng tộc như vầy, thiện hữu như vầy, gieo trồng thiện căn như vầy, tuổi thọ như vầy, trang nghiêm cõi Phật như vầy, phát những nguyện như vầy, tham dự chúng hội Phật và Bồ-tát như vầy, trải qua bao nhiêu kiếp thân cận cúng dường cung thỉnh Phật như vầy. Như thế tất cả những việc trong đời của Bồ-tát Di-lặc, Thiện Tài thấy hết.

Lại thấy, Bồ-tát Di-lặc vừa chứng từ tâm tam-muội (maitra samādhi) như thế nào, mà từ đó về sau được gọi là Từ Thị (Maitreya). Lại thấy Di-lặc tu các diệu hành, thành các ba-la-mật, đắc các nhẫn (kṣānti), chứng các trụ địa, thành tựu các cõi Phật, hộ trì chánh giáo các Như Lai. Lại thấy, Di-lặc chứng ngộ pháp vô sinh, và được Như Lai thọ ký cho vô thượng Bồ-đề, lúc nào và ở đâu.

Thiện Tài lại thấy, trong mỗi tháp, Bồ-tát được một vị Thế giới chủ khuyến thỉnh dìu dắt hết thảy chúng sinh tu hành mười thiện đạo; được một vị Hộ thế khuyến thỉnh làm lợi ích cho hết thảy chúng sinh; được Đế Thích (Sakra-Indra) khuyến thỉnh mà điều phục những bản năng khát dục của chúng sinh; được Phạm thiên khuyến thỉnh mà tán dương vô lượng phước báo của thiền định; được trời Dạ-ma (Yāma) khuyến thỉnh mà tán dương vô lượng phước báo của Thiền định; được trời Dạ ma (Yàma) khuyến thỉnh mà tán dương vô lượng phước báo của  hạnh nhiếp tâm; được trời Đâu-suất (Tuṣita) khuyến thỉnh mà tán dương các công đức của Bồ-tát sẽ thành Phật trong một đời nữa; được trời Hóa lạc (Nirmita) khuyến thỉnh mà hiện các biến hóa thân cho thiên chúng thấy; được trời Tha hóa Tự tại (Vaśavartin) khuyến thỉnh mà diễn thuyết Phật pháp cho những tùy tùng.

Thiện Tài thấy, hoặc Bồ-tát hiện làm Ma vương mà thuyết hết thảy các pháp đều vô thường; hoặc vì Phạm vương mà thuyết thiền định, vô lượng hỉ và lạc; hoặc vì A-tu-la (Asura) mà lặn vào biển Đại trí để biết rằng hết thảy các vốn như huyễn, giảng cho A-tu-la vương và quân đội A-tu-la hãy đoạn trừ hết thảy kiêu mạn, cuồng ngạo và say sưa. Hoặc thấy Bồ-tát phóng đại quang minh vào cõi chết để cứu vớt chúng sinh khỏi các khổ não của địa ngục; hoặc thấy Bồ-tát trong thế giới ngạ quỷ bố thí các thứ ẩm thực để cứu giúp sự đói khát của chúng ngạ quỷ; hoặc thấy Bồ-tát trong cõi súc sinh đặt đủ các phương tiện để điều phục chúng; hoặc thấy Bồ-tát giảng pháp cho các chúng hội chư thiên trong các cõi trời Hộ thế, trời Đâu-suất, trời Dạ-ma, trời Hóa lạc, trời Tha hóa Tự tại và trời Đại Phạm, giảng cho các chúng hội Long vương (Nāga), Dạ-xoa (Yakṣa), La sát (Rakṣa), Càn-thát-bà (Gandharva), A-tu-la (Asura), Ca-lâu-đa (Garuḍa), Khẩn-na-la (Kinnara), Ma-hầu-la-già (Mahoraga), loài người (manuṣya) và phi người (amanuṣya). Hoặc thấy Bồ-tát giảng pháp cho các chúng hội Thanh văn (Śrāvaka), Bích-chi-phật (Pratyekabuddha), Bồ-tát (Bodhisattva), từ mới phát âm cho đến địa vị cứu cánh. Hoặc thấy tán dương các công đức của các Bồ-tát từ Sơ địa cho đến Thập địa, viên mãn hết thảy ba-la-mật, chứng nhập hết thảy các nhẫn, thành tựu hết thảy đại tam-muội, thâm nhập giải thoát, tán dương cảnh giới thần thông do thiền định và tam-muội, tán dương hạnh của Bồ-tát, đại thệ nguyện của Bồ-tát. Lại thấy Bồ-tát Di-lặc, cùng các vị Bồ-tát đồng hành khác, tán dương các công xảo của thế gian, và hết thảy các phương thuật có thể đem lại lợi ích cho chúng sinh. Lại thấy Bồ-tát Di-lặc, cùng với các Bồ-tát sẽ thành Phật trong một đời nữa, tán dương Quán đỉnh (Abhiṣekha) của hết thảy chư Phật. Lại thấy Bồ-tát Di-lặc tinh tấn không hề mỏi mệt, tu tập các thiền định và bốn vô lượng tâm, các biến xứ (kṛtsnāyatana), và các giải thoát, hoặc nhập tam-muội mà thị hiện các năng lực thần biến.

Thiện Tài lại thấy Bồ-tát Di-lặc cùng với các Bồ-tát khác nhập vào tam-muội và từ mỗi lỗ chân lông hiện ra vô số hóa thân như mây: mây thiên chúng, mây long vương, mây Dạ-xoa, mây Càn-thát-bà, mây A-tu-la, mây Ca-lâu-la, mây Khẩn-na-la, mây La-hầu-la-già, mây Đế Thích, mây Phạm vương, mây Hộ thế, mây Chuyển luân thánh vương, mây Tiểu vương, mây Vương tử, mây Đại thần, mây Quan thuộc, mây Trưởng giả, mây Cư sĩ, mây Thanh văn, mây Bích-chi-phật, mây Bồ-tát, mây Như Lai, mây hết thảy chúng sinh.

Bấy giờ Thiện tài nghe hết thảy các pháp môn của Phật phát ra du dương từ mỗi lỗ chân  lông của hết thảy các Bồ-tát như tán thuyết công đức của Bồ-đề tâm, tán thuyết bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định, trí tuệ, bốn nhiếp sự, bốn vô lượng tâm, các tam-muội (samādhi), tam-ma-bát-để (samapatti), các thần thông, các minh huệ (vidyā), các tổng trí (dhāraṇi), biện tài (pratibhāna), các đế (satya), các trí, chỉ (śamatha), quán (vipaśya), giải thoát, các duyên, các y (pratiśaraṇa), các tự thuyết (udāna), các niệm xứ, các tinh cần (upasthāna), các thần túc, các căn, lực, bảy giác chi, Thánh đạo tám chi, Thanh văn thừa, Bích-chi-phật thừa. Bồ-tát thừa, các nhẫn, các hành, các nguyện.

Thiện Tài lại thấy các Như Lai có đại chúng vây quanh; hoặc thấy các nơi Phật giáng sinh, thấy giòng họ, thân hình, tuổi thọ, số kiếp, quốc độ, danh hiệu, các pháp hội, các phương tiện lợi sinh, các giai đoạn kế thừa, v.v..., với tất cả sai khác nơi các Như Lai.

Thiện Tài lại  thấy một tòa tháp đặc biệt cao rộng và trang nghiêm huy hoàng nhất, tráng lệ vô song, ở giữa hết thảy những tòa tháp được nhìn thấy bên trong tháp Tì-lô-giá-na. Trong tòa tháp vô tỷ này, Thiện Tài thấy cả ba nghìn đại thiên thế giới trong chớp mắt, gồm cả trăm ức cõi trời Đâu-suất (Tuita). Và trong mỗi thế giới đó, lại thấy, Bồ-tát Di-lặc giáng thần đản sinh, Đế Thích (Śakra), Phạm vương (Brahma) và các thiên thần đang kính lễ Bồ-tát, ngài đi bảy bước, quay nhìn mười phương, cất tiếng rống sư tử, rồi hiện làm đồng tử trong triều đình, rời cung điện, nơi du hí, rồi bỏ đi cầu Nhất thiết trí, rồi tu khổ hạnh, nhận sữa, rồi bước tới Đạo tràng, chinh phục Ma quân, thành tựu vô thượng chánh giác dưới cội Bồ-đề, Phạm vương khuyến thỉnh chuyển pháp luân, Phật đến các cõi trời giảng pháp; và kiếp số, tuổi thọ,chúng hội trang nghiêm, quốc độ thanh tịnh, tu các hành và nguyện, giáo hóa thành thục chúng sinh, phân bố xá-lợi, sự tồn tại Chánh pháp, thảy đều khác nhau nơi mỗi Phật, đều được thấy hết.

Lúc bấy giờ Thiện Tài thấy mình cũng ở nơi các đức Phật đang thi hành vô số Phật sự trong vô số chúng hội. Liền ghi nhớ sâu xa những cảnh tượng này, vĩnh viễn không quên.

Rồi thì, ThiệnTài nghe hết thảy những chuông, những linh, những lưới ngọc, hết thảy các nhạc cụ trong hết thảy các tòa tháp diễn thuyết vô số giáo pháp trong một tiết tấu hòa nhã không thể nghĩ bàn. Mỗi âm thanh phát ra là một bài thuyết pháp; hoặc thuyết Bồ-tát phát tâm mong cầu giác ngộ; hoặc thuyết tu hành các Ba-la-mật; hoặc thuyết các nguyện; hoặc thuýêt các Bồ-tát địa; hoặc thuyết cung thỉnh và cúng dường các Như lai; hoặc thuyết sự trang nghiêm các cõi Phật; hoặc thuyết những pháp thoại sai biệt của chư Phật – tất cả những giáo thuyết đó được nghe tuyên dương đầy đủ bằng tiếng nhạc trời.